LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT về CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢNG cáo và KHUYẾN mại - Pdf 48

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHOÁ 2004 - 2008
TÊN ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Giáo viên hướng dẫn:
Nguyễn Mai Hân

Sinh viên thực hiện:
Họ và Tên: Nguyễn Lâm Duy Linh
Mssv: 5044111
Lớp: Luật Thương Mại – K30

Cần Thơ, tháng 05/2008


NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN


...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................
...........................................................................................................

năm

2008


..

MỤC LỤC


PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT
ĐỘNG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI
Trang
Lời nói đầu ............................................... ..................................................................... 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT CẠNH TRANH VÀ HÀNH
VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH ............................................................ 4
1. Khái quát chung về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh ............................................ 4
1.1 Khái niệm cạnh tranh và ý nghĩa của cạnh tranh ..................................................... 4
1.2. Sự cần thiết phải có pháp luật cạnh tranh ............................................................... 5
1.3 Sự ra đời của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam ....................................................... 8
2. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh ................................................... 10
2.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh ..................................................... 10
2.2 Mục đích và hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh ............................. 12
2.3.Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo Luật cạnh tranh ............................. 15

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
HOẠT ĐỘNG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI .................................................. 17
1. Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo ..................... 17
1.1 Khái niệm quảng cáo và nội dung quảng cáo .......................................................... 17

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
2.3 Một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh
trong hoạt động quảng cáo và khuyến mại .................................................................... 48
KẾT LUẬN.................................................................................................................... 52


LỜI NÓI ĐẦU
Bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế cùng với nền kinh tế thị trường. Đây là những
điều kiện cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế một quốc gia và tồn tại trong đó nhiều
vấn đề liên quan chi phối nhiều khía cạnh của nền kinh tế ảnh hưởng đến sự phát triển cân
bằng của nền kinh tế và cho cuộc sống của mỗi người dân, một trong những vấn đề đó là
cạnh tranh mà điều đáng chú ý là cạnh tranh không lành mạnh. Khi bước vào môi trường
kinh doanh tự do để tạo bước chuyển cho nền kinh tế phát triển năng động thì cạnh tranh
trong mua bán hàng hoá là cần thiết và không thể tránh khỏi. Mỗi một nhà sản xuất luôn
muốn kiếm lợi nhuận thật nhiều và mua bán hàng hoá đòi hỏi phải có chiến lược và có thể
bao gồm cả thủ đoạn không đẹp để hạ gục đối thủ cạnh tranh với mình. Có nhiều biện
pháp sử dụng trong cạnh tranh như: quảng cáo, khuyến mại, cạnh tranh bằng giá cả… Bất
kỳ một sản phẩm nào làm ra đều cần được đưa tới người tiêu dùng bằng nhiều cách khác
nhau để làm sao thu hút thật nhiều khách hàng mà quảng cáo và khuyến mại là hai hoạt
động rất thường được sử dụng để giới thiệu hàng hoá của mình như: quảng cáo sản phẩm
trên truyền hình, báo chí, hàng loạt các chương trình khuyến mại diễn ra rầm rộ… nhằm
kích thích sức mua của khách hàng cho một loại sản phẩm nào đó. Có những nhà sản xuất
, kinh doanh vì cạnh tranh không nổi với những hãng khác thì lại dùng những biện pháp
Trung
tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
không đẹp để cạnh tranh không lành mạnh bằng nhiều thủ đoạn khác nhau: bán phá giá
hàng hoá, gièm pha quảng cáo so sánh nói xấu sản phẩm của doanh nghiệp khác… Những
vụ việc, vấn đề này phải được pháp luật can thiệp và xử lý kịp thời để tạo môi trường
cạnh tranh lành mạnh và công bằng. Luật cạnh tranh ra đời năm 2004 trong đó có quy
định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm. Đây là hành lang pháp lý quan

mạnh. Đưa ra cái nhìn khái quát về hoạt động cạnh tranh, sự cần thiết phải có pháp luật
cạnh tranh, vai trò của luật cạnh tranh trong hoạt động mua bán kinh doanh.
- Chương 2: Quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt đông
quảng cáo và khuyến mại. Ta sẽ đi sâu tìm hiểu những quy định của pháp luật về cạnh
tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo và khuyến mại như: quảng cáo là gì,
nội dung quảng cáo được quy định ra sao, hành vi nào là hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong quảng cáo và khuyến mại…
- Chương 3: Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo và khuyến mại và
một số đề xuất. Ta sẽ tìm hiểu hoạt động cạnh tranh không lành mạnh diễn ra như thế nào,
dưới những hình thức gì… Từ đó có hướng đề xuất hoàn thiện cho phù hợp. Xây dựng
pháp luật hoàn chỉnh về cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh sẽ tạo lòng tin cho các
nhà sản xuất, kinh doanh chân chính thu hút đầu tư, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người
dân

ổn
định
nền
kinh
tế
trong
thời
kỳ
hội
nhập.


Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu


CHƯƠNG 1

tậpsovà
cứu
ngành luật khác, chủ yếu mới dừng lại ở việc đề cập sự cần thiết ban hành Luật cạnh tranh
hoặc phân tích một vài chế định hay khía cạnh cơ bản của Luật cạnh tranh. Muốn hiểu
được Luật cạnh tranh trước hết cần phải hiểu cạnh tranh là gì và nó được cấu thành từ
những yếu tố nào:
+ Khái niệm cạnh tranh: Theo từ điển Cornu của Pháp, thì cạnh tranh được hiểu là:
“Chạy đua trong kinh tế, hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của
nhau, cung ứng hàng hoá, dịch vụ, nhằm làm thoả mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi
của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng
thường xuyên”1.
“Chạy đua trên thị trường mà cấu trúc và sự vận hành đáp ứng các điều kiện của quy luật
cung cầu của một bên là các nhà cung cấp với bên kia là những người sử dụng hoặc tiêu
dùng hàng hoá, dịch vụ được tự do tiếp cận và các quyết định kinh doanh không phải là
1

Pgs.Ts Dương Đăng Huệ và Ths Nguyễn Hữu Huyên - Những vấn đề lý luận cơ bản của Luật cạnh tranh - Tạp chí

Nhà nước và pháp luật số 9/2004.


hệ quả của áp lực hoặc do những ưu đãi của pháp luật mang lại”. Như vậy cạnh tranh bao
gồm các yếu tố cơ bản sau:
+ Thứ nhất, khách hàng thường xuyên. Đây cũng là đối tượng và cũng là mục tiêu mà tất
cả các bên tham gia cạnh tranh đều hướng tới, lôi kéo khách hàng vế phía mình.
+ Thứ hai, các bên tham gia cạnh tranh chủ yếu là các doanh nghiệp. Muốn có cạnh tranh
thì ít nhất phải có từ 2 doanh nghiệp trở lên là đối thủ của nhau. Nếu không có đối thủ hay
nói cách khác là tình trạng độc quyền thì cạnh tranh không thể diễn ra và do vậy Luật
cạnh tranh cũng không có cơ sở kinh tế- xã hội để tồn tại.
+ Thứ ba, một môi trường chính trị, pháp lý tạo thuận lợi cho cạnh tranh. Đó chính là nền

+ Cạnh tranh bằng giá cả: Cạnh tranh thông qua giá cả là biện pháp kinh điển và lỗi thời ở
các nước có nền kinh tế phát triển. Nhưng đối với nền kinh tế thị trường non trẻ của nước
ta, biện pháp bán phá giá đang là công cụ hữu hiệu của các hãng lớn sử dụng để thâu tóm
thị phần của các đối thủ cạnh tranh.
+ Cạnh tranh bằng khuyến mại: Lợi dụng thế mạnh tài chính, bên cạnh việc bán phá giá,
các hãng lớn đang thi nhau chiến dịch khuyến mại với quy mô và giá trị ngày càng lớn,
với các món quà, giải thưởng có giá trị và hấp dẫn có khi lên đến vài trăm triệu đồng. Với
những chính sách khuyến mại này người tiêu dùng có lẽ cũng không quan tâm đến việc
lựa chọn, so sánh với sản phẩm khác mà chỉ quan tâm mua để trúng thưởng.
+ Cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo: Trong những năm gần đây cùng với sự
phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, hoạt động quảng cáo diễn ra rất sôi
động. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích thiết thực, hoạt động quảng cáo này cũng góp
phần tạo ra một môi trường cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế nước ta. Cuộc
chiến trong lĩnh vực quảng cáo đang diễn ra đầy kịch tính, các hành vi cạnh tranh không
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
lành mạnh diễn ra ngày càng nhiều như: quảng cáo không trung thực, quảng cáo so
sánh… các hành vi quảng cáo gian dối, quá lố về quy cách, phẩm chất của hàng hoá đang
diễn ra một cách công nhiên ở Việt Nam, những lời khẳng định chắc chắn về tính ưu việt
của sản phẩm đang diễn ra hàng ngày, Quảng cáo cho sản phẩm của mình là tốt nhất, giá
rẻ, nhưng thực tế không phải vậy, các kiểu so sánh mập mờ khiến người xem khó hiểu…
+ Các hành vi cản trở quyền lựa chọn của người tiêu dùng: Hiện nay chúng ta dễ dàng tìm
ra một cửa hàng chỉ bán sản phẩm của một nhà sản xuất mà hoàn toàn không bán sản
phẩm của nhà sản xuất khác. Lúc này nhà tiêu dùng sẽ không có bất cứ sự lựa chọn nào
khác là buộc phải mua sản phẩm của nhà sản xuất đó…
+ Các hành vi gièm pha, bôi nhọa đối thủ: Hành vi gièm pha bôi nhọa đối thủ được thực
hiện bằng việc tung ra các tin tức không có thật nhằm giảm uy tín của đối thủ như: trong
chai bia của hãng A có gián, trong chai nước ngọt của hãng B có kiến, sản phẩm của hãng
C có hoá chất độc hại hay sản phẩm của hãng này được lấy từ nước sông… Những hành
vi này rất nguy hiểm vì chỉ cần một tin đồn là một doanh nghiệp làm ăn chân chính có thể
đóng cửa vì hàng hoá của mình không tiêu thụ được trên thị trường.

những hậu quả xấu có thể xảy ra. Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, thực tế đòi hỏi chúng ta
phải có một đạo luật cạnh tranh kịp thời để điều chỉnh và định hướng sự phát triển lành
mạnh của thị trường đó chính là Luật cạnh tranh.
1.3 Sự ra đời của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam
- Cạnh tranh là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam vì khái niệm này chỉ gắn liền với
sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Suốt trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung trước


đây cạnh tranh dường như không được tồn tại và thừa nhận. Qúa trình chuyển đổi nền
kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế đã
tạo ra việc thích ứng với những quy luật mang thuộc tính vốn có của kinh tế thị trường,
trong đó phải kể đến yếu tố cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, là cơ sở quan trọng bảo đảm cho tự do kinh doanh hợp pháp và mang lại lợi ích thiết
thực cho người tiêu dùng. Để đạt được mục tiêu này thì cần phải có nhiều biện pháp điều
chỉnh khác nhau, trong đó pháp luật được coi là biện pháp quan trọng điều chỉnh quan hệ
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Thực tiễn vận hành nền kinh tế non trẻ ở Việt
Nam thiếu khuôn khổ pháp lý đầy đủ về cạnh tranh cho thấy có nhiều hành vi hạn chế
cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh đã và đang xảy ra dưới nhiều hình thức khác
nhau tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế nói chung và cản trở hoạt đông kinh
doanh hợp pháp của các chủ thể trên thị trường nói riêng và điều đó đã tác động tiêu cực
đến quyền lợi của người tiêu dùng.
+ Thực hiện nghị quyết của Quốc hội ngày 12/4/2000, Bộ Thương Mại đã ra quyết định
thành lập ban soạn thảo Luật cạnh tranh. Qua nghiên cứu các đề tài khoa học xung quanh
vấn đề này, tham khảo Luật cạnh tranh của 9 nước và vùng lãnh thổ, Luật mẫu về cạnh
tranh của một số Tổ chức quốc tế, học hỏi kinh nghiệm của các nước, Ban soạn thảo đã
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
hoàn thành 9 dự thảo. Ngày 6/1/2004 Bộ Thương Mại đã trình Chính Phủ dự thảo 9 phiên
bản 3 Luật cạnh tranh. Ngày 5/2/2004 Chính Phủ đã họp thảo luận và cho ý kiến vào dư
thảo này. Nội dung kết cấu của dự án Luật cạnh tranh: Dự án Luật cạnh tranh gồm 9
chương, 93 điều; Chương 1: Những quy định chung (từ điều 1 đến điều 7); Chương 2:

- Thứ nhất, mọi doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế, kể cả các doanh nghiệp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
thuộc kinh tế quốc doanh, phải chấp nhận cạnh tranh một cách văn minh hơn, rõ ràng hơn,
bài bản hơn mà không còn đất cho những chiến thuật cạnh tranh chộp giật, doanh nghiệp
lớn sẽ phải cẩn thận hơn trước khi ra những quyết định quan trọng trong kinh doanh vì
những quyết định của doanh nghiệp lớn có ảnh hưởng đến thị trường và đã được giám sát
chặt chẽ.
- Thứ hai, doanh nghiệp phải chấp nhận những cơ chế mới do Luật cạnh tranh đặt ra.
Doanh nghiệp phải thông báo khi tập trung kinh tế đạt đến một ngưỡng nhất định. Trong
một số trường hợp, nếu tập trung kinh tế có khả năng gây hạn chế cạnh tranh trên thị
trường thì doanh nghiệp sẽ không được phép tập trung kinh tế. Khi doanh nghịêp cho rằng
hành vi của mình có thể đem lại cho lợi ích cộng đồng nhiều hơn những tác hại mà nó gây
ra thì doanh nghiệp cần làm thủ tục miễn trừ để thực hiện hành vi.
- Thứ ba, doanh nghiệp sẽ đối mặt với những chế tài rất nghiêm khắc nếu có hành vi vi
phạm pháp luật với dự kiến mức phạt không phải là một số tiền tuyệt đối mà được tính
theo phần trăm doanh thu của doanh nghiệp vi phạm.
2. Khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh


Đây là một nội dung quan trọng trong Luật cạnh tranh Việt Nam. Pháp luật cạnh
tranh của các quốc gia trên thế giới có nhiều cách giải quyết khác nhau về vấn đề cạnh
tranh không lành mạnh. Một số quốc gia điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong một số văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt như: Đức, Thụy sĩ, Trung Quốc, Nhật
Bản… Một số quốc gia khác lại xây dựng thành một chế định trong Luật cạnh tranh như:
Bungari, Hàn Quốc, Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG)… Ngoài ra, còn có các quốc
gia lại coi cạnh tranh không lành mạnh là một lĩnh vực đặc biệt của pháp luật dân sự như:
Pháp, Italia…Tuy nhiên, mục đích điều chỉnh của pháp luật về cạnh tranh không lành
mạnh của các quốc gia đều nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng bình đẳng.
2.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Muốn quy định về một vấn đề nào đó thì trước tiên phải hiểu được vấn đề đó là như

nhau. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm 2 nội dung:
+ Thứ nhất, nó là hành vi cạnh tranh trong quá trình sản xuất, kinh doanh mà hành vi này
vi phạm các nguyên tắc cơ bản của đạo đức kinh doanh hay những quy định của pháp luật
về cạnh tranh. Đó có thể là vi phạm những thoả thuận trong kinh doanh, một tập quán
kinh doanh mà những nhà sản xuất, kinh doanh đều hiểu và tuân theo hay đó là những
hành vi vi phạm những quy định rõ ràng trong pháp luật cạnh tranh để thu lợi bất chính,
làm giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hoặc có thể làm những đối thủ cạnh tranh bị phá
sản.
+ Thứ hai, nó là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây ra thiệt hại cho nhà sản xuất
chân chính, người tiêu dùng hay gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước. Điều này có thể thấy
được thông qua những tác động trực tiếp của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây
ra như: làm cho đối thủ cạnh tranh rơi vào tình trạng khó khăn, sản phẩm không thể tiêu
thụ được, doanh thu bị giảm sút hoặc thiệt hại không bằng vật chất như: làm uy tín của
doanh nghiệp bị bôi nhọa dẫn đến mất lòng tin của khách hàng vào sản phẩm, hàng hóa
của mình hoặc hành vi đó sẽ gây ra những thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước đến sự phát
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
triển của nền kinh tế như độc quyền sản phẩm nâng giá quá cao…
2.2 Mục đích và hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
*Mục đích của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:
Nhìn vào tên gọi là ta có thể biết được là các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
diễn ra với ý đồ xấu, không đẹp, với nhiều mục đích khác nhau, nhiều lúc chúng ta cũng
không hiểu hết được vì chính nhà sản xuất, kinh doanh đưa ra nó mới hiểu chính xác được
là họ muốn làm gì. Nhưng ta có thể liệt kê một số điểm cơ bản như sau:
+ Mục đích quan trọng nhất đó chính là tìm kiếm lợi nhuận. Vì đã sản xuất, kinh doanh
thì phải kiếm được lợi nhuận, và chính sức hút của đồng tiền mà các doanh nghiệp sử
dụng cả những thủ đoạn không đẹp để cạnh tranh và khi tồn tại trong nền kinh tế thị
trường thì nó càng xuất hiện rõ nét và không thể tránh khỏi, điều này chỉ có thể được
kiềm chế khi có sự tự giác của các nhà sản xuất, kinh doanh biết tuân thủ đúng luật và có
đạo đức kinh doanh cùng với đó là sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan có trách nhiệm
trong việc phát hiện, ngăn chặn các hành vi vi phạm.

lường trước được vì chúng ta không thể xác định chính xác phạm vi ảnh hưởng của nó,
mà ta chỉ có thể xác định một cách khái quát về khả năng có thể xảy ra, bị ảnh hưởng tới.
Điều này cũng dễ hiểu vì ngay cả những người tiến hành thủ đoạn cạnh tranh không lành
mạnh cũng không thể tính toán được chính xác phạm vi ảnh hưởng hoặc cũng có thể họ
chẳng quan tâm đến hậu quả xảy ra vì mục đích của họ là lợi nhuận càng nhiều và tìm
mọi cách để hạ gục đối thủ. Bất chấp lợi ích người tiêu dùng, hàng loạt vụ cạnh tranh
nhằm triệt hạ uy tín của đối thủ đang được một số doanh nghiệp áp dụng. Điều đáng nói


là dường như chế tài vẫn chưa đủ mạnh khiến cho bài toán làm trong sạch môi trường
kinh doanh vẫn bỏ ngõ.
Như ta thấy hậu quả của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là rất lớn, chỉ cần
dùng vài thủ đoạn có thể nói là rất nhẹ nhàng như: tung tin đồn trong kinh doanh về một
loại hàng hoá nào đó kém chất lượng… là đối thủ cạnh tranh hay chính hàng hoá đó rất
khó tồn tại, ta có thể rút ra vài khía cạnh mà hành vi cạnh tranh không lành mạnh ảnh
hưởng tới như sau:
+ Đầu tiên, nó ảnh hưởng đến sự cạnh tranh công bằng trong kinh doanh: Có thể dẫn đến
làm giảm uy tín của nhà sản xuất, lợi nhuận giảm sút và có thể lâm vào tình trạng phá
sản… Khi đã bị đối thủ chơi xấu dùng những thủ đoạn không minh bạch thì các doanh
nghiệp bị hại đã biết thì quá muộn vì đây là cạnh tranh không lành mạnh, nên không công
khai hoặc công khai dưới nhiều hình thức mà không biết được. Khi nhà sản xuất hay tin
thì sự việc đã diễn ra xong rồi, họ chỉ biết thanh minh, giải thích và có thể gánh chịu cả
hậu quả thua lỗ dù mình bị vu oan. Dù có thanh minh với công chúng được thì uy tín của
họ đã bị giảm sút, người tiêu dùng sẽ e ngại hay lưỡng lự trước sản phẩm đó, hậu quả này
có thể kéo dài trong vài tháng có khi cả năm và thiệt hại về kinh tế là không thể tránh
khỏi.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
+ Người tiêu dùng: Chính khách hàng là người phải gánh chịu trực tiếp hậu quả do hành
vi cạnh tranh không lành mạnh mang lại. Một sản phẩm đã được sử dụng thường xuyên,
trong một lúc nào đó lại bị nói xấu, làm cho tâm lý chính người tiêu dung rất lo ngại, đôi

+ Theo công ước Pari, cạnh tranh không lành mạnh được chia thành các nhóm cơ bản sau:
hành vi gây nhầm lẫn lừa dối, làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh; vi phạm bí mật thương
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
mại; lợi dụng không chính đáng thành quả kinh doanh của người khác; quảng cáo so sánh;
mua chuộc, dụ dỗ hoặc ép buộc khách hàng của đối thủ cạnh tranh một cách bất hợp pháp
để buộc họ phải buôn bán, làm ăn với mình…
Theo Luật cạnh tranh 2004 tại điều 39, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
được quy định trong điều luật khá cụ thể và bao quát, tương đồng với các quy định của
pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:
+ Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
+ Xâm phạm bí mật kinh doanh;
+ Ép buộc trong kinh doanh;
+ Gièm pha doanh nghiệp khác;
+ Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
+ Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
+ Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
3

Đỗ Gia Phan - Vai trò của người tiêu dùng trong việc thực thi Luật cạnh tranh ở Việt Nam- Hội tiêu chuẩn và bảo

vệ người tiêu dùng Việt Nam.


+ Phân biệt đối xử của hiệp hội;
+ Bán hàng đa cấp bất chính;
+ Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3
của Luật cạnh tranh do Chính Phủ quy định.
* Luật cạnh tranh ra đời là một sự kiện lớn không những đối với cộng đồng các nhà sản
xuất, kinh doanh mà còn đối với đông đảo người tiêu dùng Việt Nam. Chính sách thương
mại và chính sách cạnh tranh đều có chung mục đích là tạo môi trường pháp lý cho sự

PHÁP LUẬT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG HOẠT
ĐỘNG QUẢNG CÁO VÀ KHUYẾN MẠI
1. Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo
Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một trong các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh được quy định trong Luật cạnh tranh. Quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh xảy ra rất thường xuyên dưới nhiều hình thức khác nhau, nhiều dạng mà
mục đích của hành vi này là nhằm giới thiệu về sản phẩm của mình tới người tiêu dùng
nhưng có ẩn chứa trong đó là hành vi cạnh tranh không đẹp, vi phạm quy định của pháp
luật về cạnh tranh.
1.1 Khái niệm quảng cáo và nội dung quảng cáo
+ Khái niệm quảng cáo: Theo Luật thương mại 2005 thì “ Quảng cáo thương mại là hoạt
động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hàng về hoạt động
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của mình”. Còn theo Pháp lệnh quảng cáo năm 2001 thì:
cáo làHọc
giới thiệu
dùng@
về hoạt
hàngnghiên
hóa, dịch cứu
vụ,
“Quảngtâm
Trung
liệuđến
ĐHngười
CầntiêuThơ
Tài động
liệukinh
họcdoanh,
tập và
4

cáo dùng để giới thiệu về những thông tin cho một loại sản phẩm, hàng hoá dịch vụ nào
đó: tốt như thế nào, tiện ích ra sao, giá cả, chất lượng vượt trội hơn những sản phẩm khác
cùng loại… mà ta thường thấy trên truyền hình, báo chí, đọc vào người tiêu dùng sẽ nắm
bắt được nội dung quảng cáo nói về gì, đây cũng là chỗ mà nhà sản xuất tận dụng nhằm
cạnh tranh không lành mạnh như: có lời quảng cáo so sánh với hàng hoá khác, dùng
những từ ngữ nói xấu hàng hoá khác, dùng những thông tin gian dối, sản phẩm của mình
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
là nhất, tốt nhất… nhưng khi dùng thì người tiêu dùng lại vỡ lẽ ra là không phải như lời
khẳng định của nhà sản xuất. Vì thế cần quy định cụ thể hành vi quảng cáo nào được xem
là hành vi canh tranh không lành mạnh để tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng bình
đẳng trong hoạt động quảng cáo.
1.2 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động quảng cáo
Nhằm cụ thể hoá hoạt động quảng cáo nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh,
để căn cứ vào đó các nhà kinh doanh có khuôn khổ cạnh tranh công bằng, không vi phạm
luật, đảm bảo ổn định kinh kinh tế, bảo vệ nhà sản xuất, người tiêu dùng. Chúng ta có thể
hình dung vai trò của quảng cáo thông qua các phương tiện như sau. Thứ nhất, đối với
người sản xuất, quảng cáo là phương tiện để cho các chủ thể kinh doanh đưa thông tin về
hoạt động sản xuất hàng hoá, dịch vụ của mình đến khách hàng. Vai trò này càng trở nên
quan trọng đối với những chủ thể mới gia nhập thị trường, những sản phẩm mới ra đời.
Thứ hai, Đối với người tiêu dùng quảng cáo là kênh thông tin mà qua đó người tiêu dùng
có thể tìm những thông tin về: hàng hóa, dịch vụ, các sản phẩm mới… Qua đó, phục vụ
5

Pháp lệnh của UBTVQH, số 39/2001/PL-UBTVQH 10, ngày 16/11/2001 về Quảng cáo.


tốt hơn cho nhu cầu tiêu dùng của mình, nâng cao sự lựa chọn của họ đối với hàng hoá,
dịch vụ trên thị trường. Với vai trò như vậy quảng cáo ngày càng được các chủ thể sử
dụng nhiều hơn. Tuy nhiên, với sự cuốn hút của lợi nhuận, những hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong quảng cáo cũng hình thành, có nhiều cách thức, thủ đoạn. Điểm



sản phẩm. Để thực hiện mục đích này có nhiều cách thức khác nhau, việc lựa chọn các
hình thức nào là quyền của các doanh nghiệp, pháp luật không nên và cũng không thể nào
liệt kê hết được tất cả các hình thức quảng cáo. Biên giới của quảng cáo chỉ xuất hiện khi
doanh nghiệp lựa chọn cách thức so sánh sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác
nhằm mục đích quảng bá cho sản phẩm của mình. Dưới góc độ lý luận của việc so sánh
có thể được tiến hành dưới nhiều cấp độ: so sánh bằng, so sánh hơn, so sánh nhất. Rõ ràng
việc cung cấp thông tin thông qua so sánh và việc cung cấp thông tin đơn thuần là khác
nhau thông thường được khách hàng tin dùng. Một cách đơn giản, không ai dại gì đem
một sản phẩm chưa ai biết đến để thực hiện việc so sánh việc so sánh tất yếu này sẽ không
mang lại hiệu quả mong muốn cho chủ thể thực hiện hành vi.
+ Bản chất không lành mạnh của quảng cáo so sánh được thể hiện ở tính chất bám víu,
vay mượn của sản phẩm được quảng cáo đối với sản phẩm mà nó dùng để so sánh. Rõ
ràng như ta thấy thì sản phẩm bị so sánh đã có một thời gian tồn tại trong thói quen của
người tiêu dùng. Việc tạo lập nên hình ảnh một sản phẩm là cả một quá trình đầu tư từ:
chất lượng, kiểu dáng, tính năng, công dụng, tiếp thị… cho nên sự tin dùng của khách
hàng là một phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực của doanh nghiệp. Dùng ngay
chính trong quá trình đầu tư ấy của doanh nghiệp khác kinh doanh sản phẩm cùng loại để
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
làm điểm tựa nhằm làm nổi bật sản phẩm của mình trong mắt người tiêu dùng có thể
là:”Sản phẩm của tối tốt không thua gì của A, tốt hơn của B...”
+ Cũng có thể việc so sánh ấy là đúng sự thật, sản phẩm được quảng cáo là có chất lượng.
Tuy nhiên, khi sử dụng phương thức quảng cáo so sánh hành vi của doanh nghiệp bị lên
án như: với quảng cáo so sánh, doanh nghiệp thực hiện hành vi mong muốn tạo được hiệu
quả ngay lập tức cho sản phẩm của mình mà không cần một quá trình trải nghiệm trên thị
trường. Với tính chất như vậy, hành vi quảng cáo đã thể hiện một cách rõ nét tính chất
“bấu víu” vào thành quả của người khác. Dù sản phẩm của mình có tốt hơn sản phẩm
cùng loại thì cũng phải dùng những cách thức hợp pháp hoặc để chính người tiêu dùng sẽ
đánh giá thông qua giá trị thật của sản phẩm mình..... Nhưng ở tất cả các quy định này ta

theo khoản 1 điều 45 Luật cạnh tranh. Tuy nhiên, vấn đề là quy định cấm này có bao hàm
cả mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà phân phối hay không hay chỉ nhằm vào quan hệ
cạnh tranh giữa các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ? Nếu cho rằng quy định này chỉ
nhằm vào quảng cáo của các nhà sản xuất hay cung ứng dịch vụ (bởi vì chỉ có nhà sản
xuất mới có hàng hoá, dịch vụ của mình) thì đồng thời cũng thừa nhận là Luật cạnh tranh
đã tạo ra một lỗ hổng ngoài ý muốn: Luật cạnh tranh chỉ cấm quảng cáo so sánh trực tiếp
của nhà sản xuất, cung ứng dịch vụ mà không cấm quảng cáo so sánh trực tiếp của nhà
phân phối qua đó tạo nên sự phân biệt đối xử. Còn nếu cho rằng quy định cấm này cũng
nhằm cả vào mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà phân phối (bằng lập luận rằng hàng hoá
6

Ts.Phan Huy Hồng - Quảng cáo so sánh trong pháp luật cạnh tranh, một nghiên cứu so sánh luật - Nhà nước và

pháp luật - Số 1/2007.


mà nhà phân phối bán chính là hàng hoá của họ theo ý nghĩa của quy định này) thì quảng
cáo trên cũng phải bị cấm vì đấy là quảng cáo trực tiếp. Trong thực tế quảng cáo so sánh
diễn ra phổ biến và thường xuyên. Cơ quan chức năng không can thiệp, các doanh nghiệp
hầu như không khiếu nại lẫn nhau liên quan đến quảng cáo so sánh . Bởi lẽ, một mặt đại
đa số quảng cáo so sánh không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của họ, mặt khác việc
khiếu nại doanh nghiệp khác áp dụng phương pháp quảng cáo so sánh là không có lợi khi
chính mình cũng cần sử dụng phương pháp này. Luật cạnh tranh và Luật thương mại 2005
chỉ còn cấm quảng cáo so sánh trực tiếp. Nhưng một khi các luật này không định nghĩa
thế nào là quảng cáo so sánh thì chúng cũng không đưa ra các tiêu chí để xác định và
phân biệt giữa phương pháp quảng cáo so sánh trực tiếp và gián tiếp. Trong khi đó các
nhà làm luật Liên minh Châu âu cho rằng phải đặt ra các điều kiện mà một quảng cáo so
sánh phải đáp ứng để được xem là hợp pháp. Các điều kiện này cần phải chứa đựng các
tiêu chí đảm bảo sự so sánh tính chất của hàng hoá, dịch vụ một cách khách quan. Còn
một quảng cáo chỉ nhằm so sánh giá cả của hàng hoá, dịch vụ thì cũng cần được xem là


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status