GVHD: NGUYỄN MAI HÂN
Luận văn tốt nghiệp
NHÂN XÉTTRƯỜNG
CỦA GIẢNG
VIÊN
DẪN
ĐẠI HỌC
CẦN HƯỚNG
THƠ
—SOÊŨIGS—
KHOA
LUẬT
Bộ Môn Luật Thương Mại
LUẬN VĂN TÓT NGHIỆP
Khóa 31
PHÁP LUẬT VÈ CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
LĨNH Vực QUẢNG CÁO
Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Mai Hân
SVTH: NGUYỄN CHÍ LINH
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Chí Linh
MSSV:
i niệm về hành vi cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lảnh mạnh............3
1.1.1.1.................................................................................................................... Kh
ái niệm về hành vi cạnh ừanh.......................................................................... 3
1.1.1.2.................................................................................................................... Kh
ái niệm về hành vi cạnh ừanh không lành mạnh..............................................4
1.1.2....................................................................................................................... Đặ
c điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh.............................................6
1.2 Khái quát chung về hành vi quảng cáo............................................................8
1.2.1....................................................................................................................... Kh
ái niệm về quảng cáo....................................................................................... 8
1.2.2....................................................................................................................... Đặ
c điểm và vai trò của quảng cáo.......................................................................10
1.2.2.1....................................................................................................................Đặc
1.3 Khái quát chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh quảng cáo 11
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÈ HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG QUẢNG CÁO........................................14
2.1 Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quảng cáo.......................14
2.1.1
So sánh trục tiếp hàng hoá, dịch vụ của mình với hàng hoá, dịch
vụ cùng loại
của doanh nghiệp khác...................................................................................14
2.1.2...........................................................................................................Bắt
chuớc sản phẩm quảng cáo khác để gây nhằm lẫn cho khách hàng....20
2.1.3...........................................................................................................Đua
thông tin gian đối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng........................23
2.2 Hậu quả pháp lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong quảng
cáo 26
2.2.1....................................................................................................................... Trá
ch nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự.................................................. 26
2.2.1.1..................................................................................Trách nhiệm hành chính
doanh nghiệp và người tiêu dùng. Luật Cạnh tranh ra đời năm 2004 với các quy
định về quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là một công cụ giúp các
doanh nghiệp có những định hướng đứng đắn trong hoạt động kinh doanh hên thị
trường, đồng thời có thể bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của xã hội, của
doanh nghiệp làm ăn chân chính, cũng như đông đảo người tiêu dùng trên khắp cả
nước. Tuy nhiên, từ khi Luật Cạnh tranh ra đời đến nay hiệu quả mà nó mang lại
chưa cao, những hành vi quảng cáo như so sánh, gian dối gây nhầm lẫn.. .ngày càng
diễn ra phổ biến, có phần tinh vi horn và rất khó kiểm soát. Những nguyên nhân đó
bắt nguồn từ đâu và pháp luật của chúng ta đã điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh này như thế nào. cần phải có những biện pháp nào để
bảo vệ các doanh nghiệp và người tiêu dùng trước những hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh như hiện nay. Đó là lý do mà tác giả đã chọn đề tài “
Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực Quảng cáo” để làm đề tài
luận văn tốt nghiệp.
Khi nghiên cứu đề tài này mục đích chính của tác giả là để hiểu sâu horn quy
định của pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng
cáo, thực trạng của việc áp dụng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực quảng cáo như thế nào. Trên cơ sở đó đề xuất và đưa ra một số kiến nghị
để hoàn thiện hom về pháp luật cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng
cáo.
Để đạt được mục đích đã đề ra, tác giả sử dụng 3 phương pháp chính là tổng
họp, so sánh, phân tích và một số phương pháp nghiên cứu khác.
+ Dùng phương pháp phân tích câu chữ của luật để tìm hiểu quy định của
pháp luật như thế nào về hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.
SVTH: NGUYỄN CHÍ LINH
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VÁN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VÈ CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG QUẢNG CÁO
1.1 Khái quát chung về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1
Khái niệm về hành vi cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không
lành mạnh
1.1.1.1
Khái niệm về hành vi cạnh tranh
Cạnh tranh với tính chất là một hiện tượng xã hội chỉ xuất hiện với những
tiền đề kinh tế và pháp lý cụ thể. Cạnh tranh với tính cách là động lực phát triển nội
tại của nền kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại trong điều kiện kinh tế thị trường. Cạnh
tranh cũng chỉ thực sự diễn ra khi pháp luật thừa nhận và bảo hộ tính đa dạng của
các loại hình sở hữu, khi tự do thưong mại và theo đó là tự do kinh doanh, tự do
khuê ước và quyền tự chủ của các cá nhân được hình thành và bảo đảm. Cạnh tranh
cũng chỉ diễn ra khi không có bất kì quy định hay hành vi nào ngăn cản sự nhập
cuộc của các doanh nghiệp tiềm năng - những doanh nghiệp chuẩn bị gia nhập thị
trường. Điều đó có nghĩa là, cạnh tranh chỉ xuất hiện được khi không có độc quyền
dưới bất kì hình thức nào.
Cho đến nay, các nhà khoa học dường như chưa thoả mãn với bất cứ khái
niệm nào về hành vi cạnh tranh. Bởi lẽ, với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng
của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của
quá trình kinh doanh và với bất cử chủ thể nào đang tồn tại trên thị trường. Do đó
nó được nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì hành vi cạnh tranh có nghĩa là “cố gắng giành
phần hom, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm
những lợi ích như nhau”1.
Theo “Từ điển kinh doanh” của Anh xuất bản năm 1992 định nghĩa: hành vi
cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành
cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình2.
khái
niệm
khác
nhau,
và
nó
bao
Nhân dân, tr .375.
gồm những yếu tố cơ bản sau4:
+ Thứ nhất, khách hàng thường xuyên. Đây cũng là đối tượng và cũng là
mục tiêu mà tất cả các bên tham gia cạnh tranh điều hướng tới, lôi kéo khách hàng
về phía mình.
+ Thứ hai, các bên tham gia cạnh tranh chủ yếu là các doanh nghiệp. Muốn
cạnh tranh thì phải có ít nhất hai doanh nghiệp trở lên là đối thủ của nhau. Nếu
không có đối thủ hay nói cách khác là tình trạng độc quyền thì cạnh tranh không thể
diễn ra. Do đó, Luật Cạnh tranh cũng không có cơ sở kinh tế - xã hội để tồn tại.
+ Thứ ba, một môi trường chính trị, pháp lý tạo thuận lợi cho cạnh tranh. Đó
chính là nền kinh tế thị trường, cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trong môi trường mà tự
do khuê ước, tự do kinh doanh được thừa nhận như là quyền cơ bản của công dân.
+ Thứ tư, thị trường liên quan. Đây là một trong những khái niệm cơ bản của
Luật Cạnh tranh. Nội hàm của nó thường được xác định thông qua hai yếu tố là thị
trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan. Khi xử lý các vụ việc cạnh
tranh thì việc xác định thị trường liên quan chính là công việc đầu tiên mà các chủ
thể áp dụng Luật Cạnh tranh cần phải tiến hành.
Vì vậy, hành vi cạnh tranh có thể coi là quy luật tất yếu, là động lực thúc đẩy
phát triển kinh tế trong nền kinh tế thị trường. Để tồn tại và phát triển, các doanh
nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh như là một sự lựa chọn duy nhất.
1.1.1.2
pháp
luật, Cạnh tranh
dân 2001, tr228.
và
xây
dựng
pháp
luật
canh
tranh
ở
Việt
Nam
GVHD: NGUYỄN MAI HÂN
Luận văn tốt nghiệp
thủ cạnh tranh sự bất lợi hay thiệt hại trong hoạt động kinh doanh. Khoản 4 Điều 3
Luật Cạnh tranh 2004 đã khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhu sau:
“hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
gây ra những thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, đến sự phát triển của nền kinh tế
như độc quyền sản phẩm, nâng giá quá cao...
SVTH: NGUYỄN CHÍ LINH
9
hiện
nay,
GVHD: NGUYỄN MAI HÂN
Luận văn tốt nghiệp
1.1.2
Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định của Luật Cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có
thể bao gồm những đặc điểm cơ bản sau:
Đặc điểm thứ nhất, chủ thể thục hiện hành vi là các chủ thể kinh doanh trên
thị trường. Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh bao gồm các doanh nghiệp thuộc
các thành phàn kinh tế, họp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, doanh nghiệp nước ngoài
hoạt động tại Việt Nam, các hiệp hội ngành nghề. Đặc điểm này xác định phạm vi
chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, khẳng định hành vi cạnh tranh không lành mạnh
xảy ra trong kinh doanh ở một số ngành, một số lĩnh vực đời sống kinh tế, một số
công đoạn của quá trình kinh doanh. Diễn biến trên thị trường được thể hiện thông
qua các quan hệ, các hành vi của các doanh nghiệp và các hiện tượng kinh tế.
Chúng luôn bao hàm yếu tố chủ quan của các chủ thể có liên quan và phản ánh nhu
cầu tìm kiếm cơ hội để tồn tại và phát triển. Ở mặt trái của nó, các biểu hiện không
lành mạnh cũng sẽ thể hiện ở mọi nơi trong đòi sống thị trường7.
Đặc điểm thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trái với chuẩn mực
10
Lê Danh
tr.124.
Vĩnh,
Hoàng
Xuân
Bắc,
Nguyễn
Ngọc
Sơn,
Pháp
luật
canh
tranh
tại
tranh không lành mạnh cũng luôn phải được bổ sung bởi sự nhận thức của con
người về bản chất không lành mạnh của những hành vi phát sinh mới.
(3) Hiện nay, học thuyết cạnh ừanh của các nước cũng như các học thuyết
liên quan đến cạnh tranh chưa được đặt ra những tiêu chuẩn chung bất biến để xác
định tính lành mạnh của hành vi cạnh tranh, để từ đó xác định hành vi cạnh tranh
trên thực tế là lành mạnh hay không. Vì thế, người ta còn dựa vào việc phân tích các
hậu quả của hành vi cạnh tranh đối với đời sống kinh tế, xã hội để xác định sự lành
mạnh và mức độ tiêu biểu của chúng. Trong khi đó, đời sống thị trường luôn thay
đổi và phát hiển, kéo theo nó là những thay đổi trong nhận thức về mức độ của từng
hành vi trên thị trường. Có những thời điểm nhất định, hành vi nào đó có thể gây
nguy hiểm cho xã hội nhưng ở thời điểm khác lại không có điều kiện để gây hại cho
đối thủ hoặc cho người tiêu dùng. Sự thay đổi đó đã làm cho khái niệm của hành vi
cạnh tranh không lành mạnh luôn biến đổi10.
Điều 6, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP ngày 04/4/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về
hoạt động xúc tiến thương mại.
SVTH: NGUYỄN CHÍ LINH
11
pháp,
11
12
Viên nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện
nay, Nxb Công An
thị trường. Vì vậy, những hành vi xâm phạm đến lợi ích người tiêu dùng không nằm
trong khái niệm cạnh tranh không lành mạnh. Cùng với sự phát triển, những hành vi
cạnh ừanh không lành mạnh được thực hiện trong quan hệ với khách hàng (người
tiêu dùng) tưởng chừng như không liên quan đến quan hệ cạnh tranh giữa các đối
thủ, song suy cho cùng, chúng cũng làm tổn hại, thậm chí phá vỡ trật tự và hệ thống
cạnh tranh hiện hành11. Do đó, quan niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh
và kéo theo đó là pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh đã được mở rộng
phạm vi đến những hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng, của người tiêu dùng12.
1.2 Khái quát chuug về hàuh vi quảug cáo
1.2.1
Khái niệm về quảng cáo
Quảng cáo là một hình thức truyền thông thu hút sự chú ý của người xem,
cung cấp thông tin và hàm chứa giá trị về giải trí nhằm tạo sự phản hồi từ phía
người tiêu dùng. Trong hoàn cảnh xã hội hiện nay đặt người tiêu dùng đứng trước
rất nhiều sự lựa chọn và việc lựa chọn hàng hoá dịch vụ nào phù hợp với sở thích,
SVTH: NGUYỄN CHÍ LINH
12
13
14
Trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật Thưomg mại tập II, Nxb Công an Nhân dân.
Pháp
lệnh