Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI

ĐẶNG THỊ HÀ

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT CHỐNG HÀNH VI CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI

ĐẶNG THỊ HÀ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ ĐÌNH VINH

nghiệp để khóa luận được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 11 năm 2017
Học viên

Đặng Thị Hà


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI ........... 5
1.1 Lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động quảng cáo thương mại ..... 5
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh ........... 5
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức quảng cáo thương mại nhằm cạnh tranh
không lành mạnh ......................................... 8
1.1.3 Mối quan hệ giữa cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động quảng cáo thương
mại .................................................. 13
1.2 Khái quát về pháp luật cạnh tranh điều chỉnh hoạt động quảng cáo thương mại 15
1.2.1. Khái niệm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại......... 15
1.2.2. Đặc điểm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại........... 17
1.2.3. Nội dung pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại ........... 20
1.2.4 Pháp luật điều chỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại ở Việt
Nam .......................................................................................................................................... 27
1.2.5 Pháp luật điều chỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại của một số
quốc gia trên thế giới .............................................................................................................. 30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO
THƯƠNG MẠI ......................................... 36
2.1 Khái quát về thực trạng hoạt động quảng cáo thương mại ở Việt Nam .. 36

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển toàn diện nền kinh
tế xã hội, cơ chế thị trường tại Việt Nam đã dần được định hình, phát triển hướng
theo các quy luật khách quan, trong đó quy luật cạnh tranh là nền tảng cho sự vận
hành của hoạt động thị trường. Hàng trăm ngàn doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế góp mặt và hoạt động kinh doanh đã từng bước tạo nên một môi trường cạnh
tranh với những biểu hiện đa dạng và sôi động. Tuy nhiên cơ chế thị trường phát
triển đến một mức độ nhất định cũng bắt đầu bộc lộ những mặt tiêu cực có thể ảnh
hướng xấu đến lợi ích của nhà nước, các tổ chức, cá nhân và toàn xã hội. Đáp ứng
yêu cầu xây dựng cơ chế quản lý cạnh tranh trong nền kinh tế, Luật Cạnh tranh đã
được Quốc hội khóa IX thông qua tại kỳ họp thứ 6 tháng 12/2004 và có hiệu lực từ
ngày 01/07/2005 với quy định điều chỉnh các hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh
không lành mạnh, chức năng và nhiệm vụ của cơ quan cạnh tranh. Luật Cạnh tranh
ra đời góp phần quan trọng trong việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo
vệ hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp, quyền, lợi ích chính đáng của
người tiêu dùng, thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế cũng như tiến trình hội nhập.
Trong các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định trong Luật
Cạnh tranh thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo là một
vấn đề phức tạp với nhiều biểu hiện đa dạng trong nền kinh tế hiện nay. Luật điều
chỉnh các hành vi quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước, quảng cáo gian dối hoặc
gây nhầm lẫn và các hoạt động quảng cáo bị pháp luật cấm khác. Trước khi Luật
Cạnh tranh được ban hành, đã tồn tại nhiều văn bản pháp luật khác điều chỉnh hoạt
động quảng cáo như Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Pháp lệnh bảo vệ người tiêu
dùng 1999, Luật Thương mại 1997 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Pháp
lệnh. Sự trùng lặp và chồng chéo về nội dung giữa các văn bản này gây khó khăn
cho việc tổ chức thực thi pháp luật thống nhất trên thực tế. Trong khi đó, cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của ngành quảng cáo Việt Nam, một số hoạt động quảng cáo

1


2


- Phân tích các quy định về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực quảng cáo thương mại của Luật Cạnh tranh, từ đó đề xuất phương hướng
hoàn thiện quy định và có chế thực thi pháp luật có hiệu quả.
3. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn đi sâu nghiên cứu pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực quảng cáo thương mại bao gồm những vấn đề lý luận chung về hành
vi cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động quảng cáo thương mại; các quy định
của Luật Cạnh tranh và các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt
Nam chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương
mại; thực tiễn thi hành quy định đó. Luận văn cũng thực hiện nghiên cứu so sánh
pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quảng cáo của một số quốc
gia nhằm đề xuất bài học kinh nghiệm tham khảo nhằm tạo cơ sở lý luận cho việc
hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh và cơ chế áp dụng pháp luật cạnh tranh. Trên
cơ sở kế thừa những giá trị của các công trình nghiên cứu trước đây, Luận văn tiếp
văn tục đi sâu, phát triển nhằm hoàn thiện hơn nữa chế định pháp luật cạnh tranh của
Việt Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lênin; quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Ngoài ra để đạt
được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, người viết luận văn sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,
khảo sát, so sánh pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu này được thực hiện theo
định hướng cơ bản là chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội
trong giai đoạn hiện nay.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Về lý luận, Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm các vấn đề lý luận của

mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo

4


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI
1.1 Lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động quảng cáo thương mại
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Ngày nay, cạnh tranh đã trở thành một khái niệm được sử dụng rộng rãi
trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giành ưu thế
giữa những người hoạt động trong cùng một lĩnh vực hoặc có chung một mục đích.
Dưới góc độ kinh tế, cạnh tranh là hành vi của các doanh nghiệp, thương nhân hoạt
động trên thị trường nhằm đạt được hiệu quả cao nhất, thu được nhiều lợi nhuận
nhất trong phạm vi kinh doanh của mình. Theo từ điển kinh doanh, xuất bản năm
1992 ở Anh thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh
trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một
loại khách hàng về phía mình. Từ điển Cornu của Pháp giải thích một cách chi tiết
về cạnh tranh như sau: “Chạy đua trong kinh tế; hành vi của các doanh nghiệp độc
lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ nhằm làm thỏa
mãn nhu cầu giống nhau với một sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo
được hoặc mất đi một lượng khách hàng thường xuyên … Chạy đua, trên một thị
trường mà cấu trúc và sự vận hành của thị trường đó đáp ứng các điều kiện của quy
luật cung cầu giữa một bên là các nhà cung cấp với bên kia là những người sử dụng
hoặc tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ; các hàng hóa hoặc dịch vụ này được tự do

+ Cạnh tranh không lành mạnh: là những hành vi cụ thể của một chủ thể kinh
doanh nhằm mục đích cạnh tranh, luôn thể hiện tính không lành mạnh (chứ không
chỉ là trái pháp luật) và vô tình hay cố ý gây thiệt hại cho một đối thủ cạnh tranh
hay bạn hàng cụ thể.
Chiếu theo một trong những định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh được
phổ biến rộng rãi nhất tại Điều 10 bis Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp, được bổ sung vào Công ước năm 1990 và được sửa đổi lần cuối theo Văn
bản Stockholm 1967, bất kì hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung
thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh
không lành mạnh. Việc sử dụng các tiêu chí về tập quán, đạo đức hay như trong
trường hợp này là “ các thông lệ trung thực, hợp lý” để xác định một phạm vi khái

6


niệm pháp lý sẽ đưa đến những điểm không rõ ràng. Thực tế Điều 10 bis đã có ý bỏ
ngỏ khái niệm này cho pháp luật quốc gia của các nước thành viên Công ước tự
định đoạt. Tuy nhiên đến cấp độ quốc gia, mọi nỗ lực nhằm bao quát trong một định
nghĩa tất cả các hoạt động cạnh tranh hiện tại và tương lai, có thể đồng thời xác định
mọi hành vi bị ngăn cấm và linh hoạt đủ để thích nghi với những thông lệ thị trường
mới, cho đến nay vẫn thất bại (30). Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không
thể có phạm vi điều chỉnh đối với cạnh tranh không lành mạnh. Nhìn chung, thông
qua thực tiễn thương mại, các nhà làm luật xác định được một số hành vi luôn luôn
bị coi là tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Điều 10 bis Công ước Paris đã đưa
ra một danh sách không đầy đủ bao gồm ba hình thức cạnh tranh không lành mạnh
đặc biệt bị cấm như sau:
- Mọi hành vi nhằm gây ra nhầm lẫn, bằng bất kỳ phương tiện nào, với cơ sở,
hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh.
- Những tuyên bố sai trái trong công việc kinh doanh nhằm làm mất uy tín
của cơ sở, hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh.

theo hướng không lành mạnh. Sự không lành mạnh của các thủ thuật cạnh tranh đã
một mặt làm hạn chế khả năng cạnh tranh vốn có của các đối thủ cạnh tranh hoặc
hạn chế cũng như triệt tiêu cạnh tranh và như vậy cũng có nghĩa là triệt tiêu động
lực phát triển kinh tế, xâm hại lợi ích của cả cộng đồng và xã hội - những giá trị mà
Nhà nước cần đại diện và bảo vệ. Như vậy, dù tính không lành mạnh của hành vi
cạnh tranh được nhằm vào những đối thủ cụ thể hay nhằm vào lợi ích của trật tự
kinh tế thì đều cần phải được ngăn cản và “trừng trị”. Đây chính là một trong những
tiền đề để pháp luật cạnh tranh ra đời.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, hình thức của quảng cáo thương mại
nhằm cạnh tranh không lành mạnh
1.1.2.1 Khái niệm quảng cáo thương mại
Quảng cáo dưới góc độ của ngôn ngữ học có nghĩa là thông báo thông tin
một cách rộng rãi. Việc giới thiệu rộng rãi thông tin không chỉ là nhu cầu của hoạt
động kinh doanh mà còn là công việc rất cần thiết để đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ
chính trị, văn hoá, xã hội.
Quảng cáo với tư cách là một hoạt động kinh tế xã hội được nhìn nhận dưới
nhiều góc độ khác nhau, qua đó thể hiện những sắc thái khác nhau. Theo cách tiếp

8


cận về mặt xã hội học, quảng cáo là quá trình truyền tin có định hướng tới người
mua để kích thích họ hành động mua sản phẩm và dịch vụ mà quảng cáo đã giới
thiệu và đề xuất. Theo cách tiếp cận của kinh tế học, quảng cáo là cách trình bày
cho đông đảo khách hàng có được những hiểu biết cần thiết về hàng hóa, dịch vụ và
uy thế của doanh nghiệp bằng các phương tiện thông tin đại chúng. Theo cách tiếp
cận về mặt hành vi, quảng cáo là việc sử dụng phương tiện thông tin để truyền tin
về sản phẩm dịch vụ tới các phần tử trung gian hoặc tới các khách hàng cuối cùng
trong một khoảng thời gian và không gian nhất định. Theo cách tiếp cận về mặt
quản lý, quảng cáo là công cụ của chính sách thương mại được áp dụng một cách có

maketting, quảng cáo là một nghệ thuật kinh doanh. Mặc dù không đưa ra một khái
niệm cụ thể về quảng cáo thương mại nhưng quảng cáo thương mại dù được hiểu
theo nghĩa nào thì mục đích lợi nhuận vẫn là mục đích đặc trưng nhất.
Ở Việt Nam hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất thương
mại của quảng cáo trong một số cơ quan hành pháp và lập pháp, chủ yếu do sự tồn
tại của loại hình quảng cáo phi lợi nhuận. Hoạt động quảng cáo được điều chỉnh bởi
các văn bản pháp luật về quảng cáo nói chung và quảng cáo thương mại nói riêng.
Theo Luật Quảng cáo năm 2012, quảng cáo được giải thích: là việc sử dụng các
phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục
đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh
doanh sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự; chính sách xã
hội; thông tin cá nhân. Trong đó, dịch vụ có mục đích sinh lợi là dịch vụ nhằm tạo
ra lợi nhuận cho tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ; dịch vụ không có mục đích
sinh lợi là dịch vụ vì lợi ích của xã hội không nhằm tạo ra lợi nhuận cho tổ chức, cá
nhân cung ứng dịch vụ (quảng cáo về các dịch vụ thực hiện chính sách xã hội và
những thông tin nhằm thông báo, nhắn tin, rao vặt). Như vậy, pháp luật Việt Nam
thừa nhận sự tồn tại của hai hình thức quảng cáo không có mục đích sinh lời và
quảng cáo có mục đích sinh lời, trong đó đối tượng thứ hai còn được gọi là “quảng
cáo thương mại”.
Theo Luật Thương mại năm 2005, “Quảng cáo thương mại là hoạt động xúc
tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu với khách hành về hoạt động kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ của mình.

10


Như vậy có thể thấy quảng cáo thương mại mang lại cơ hội rất lớn cho
thương nhân khi giới thiệu về hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của thương
nhân tới khách hàng. Khi khách hàng tin tưởng sử dụng dịch vụ, hàng hoá đó thì cái
mà thương nhân mong muốn và có thể đạt được là lợi nhuận hay sự sinh lời từ hoạt

cơ quan xử lí hành vi vi phạm cần hiểu biết và đánh giá sâu sắc về thực tiễn thị trường.
Thứ ba, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho các chủ thể khác, đặc
biệt là ảnh hưởng tới người tiêu dùng – đối tượng “yếu thế” hơn trong việc tiếp cận
thông tin sản phẩm. Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành
vi gây thiệt hại nhất định dù thiệt hại đã xảy ra hay chưa xảy ra thì cũng cần được
ngăn chặn. Những thiệt hại cũng gắn liền với trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhằm
bảo vệ quyền lợi cho các bên. Đặc điểm này mang ý nghĩa về tố tụng và bồi thường
thiệt hại.
1.1.2.3 Các hình thức quảng cáo thương mại
Trong thực tiễn thương mại đa dạng, hoạt động quảng cáo cũng rất đa dạng
với nhiều loại hình khác nhau. Người ta sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau để phân
loại quảng cáo.
- Căn cứ vào nội dung của quảng cáo, người ta chia thành quảng cáo tổ chức,
quảng cáo sản phẩm và quảng cáo thương hiệu.
+ Quảng cáo tổ chức giới thiệu những thông tin về doanh nghiệp, thương
nhân. Loại hình quảng cáo này không trực tiếp kêu gọi hành động mua bán hàng
hóa, dịch vụ của đối tượng mà nhằm phổ biến tên tuổi, nâng cao uy tín của tổ chức
kinh doanh, qua đó gián tiếp thúc đẩy công việc kinh doanh của nhà quảng cáo.
+ Quảng cáo sản phẩm trực tiếp hướng khách hàng đến hành động mua hàng.
+ Quảng cáo thương hiệu trong một số trường hợp thể hiện đặc tính của
quảng cáo sản phẩm, trong những trường hợp khác lại thể hiện của quảng cáo doanh
nghiệp. Quảng cáo thương hiệu gần với quảng cáo sản phẩm ở chỗ khuyến khích
việc mua hàng của đối tượng, mặt khác cũng hướng tới việc xây dựng những giá trị
ổn định, bền vững như quảng cáo tổ chức.
- Căn cứ vào phương tiện quảng cáo, có các hình thức:
+ Quảng cáo tại chỗ: bao gồm các phương tiện quảng cáo thu hút sự chú ý
của công chúng trong một phạm vi không gian nhất định xung quanh nơi đặt

12

1.1.3 Mối quan hệ giữa cạnh tranh không lành mạnh và hoạt động quảng cáo
thương mại

13


Ảnh hưởng của quảng cáo đến cơ chế cạnh tranh nói chung của thị trường rất
mạnh mẽ và đa dạng. Xét một cách khái quát, trong nền kinh tế thị trường, quyền
quyết định trong các hoạt động thị trường được phi tập trung hoá và chia cho vô vàn
những người mua, người bán riêng lẻ, khiến cho toàn bộ cơ chế này có thể phản ứng
linh hoạt và nhanh chóng đối với mọi thay đổi, biến động. Quảng cáo với tư cách là
luồng thông tin chủ yếu và mạnh mẽ nhất trên thị trường giúp các chủ thể thị
trường, cả người mua và người bán, thực hiện quyền quyết định của họ. Chính vì
vậy, khi luồng thông tin thị trường này không chính xác, gian dối hoặc sai lệch, nó
sẽ làm sai lệch sự vận hành của cả cơ chế. Do đó, các thiết chế bảo vệ nền kinh tế
thị trường một mặt khuyến khích các hoạt động quảng cáo, mặt khác rất chú trọng
ngăn ngừa những quảng cáo chứa đựng thông tin sai lệch nhằm cạnh tranh không
lành mạnh.
Có thể thấy rằng, hoạt động quảng cáo tiềm ẩn nguy cơ cạnh tranh không
lành mạnh rất cao. Điều này xuất phát từ những đặc điểm, chức năng của quảng cáo
nói chung, đó là tính chất thông tin một chiều không đầy đủ, nội dung do nhà quảng
cáo trả tiền để chi phối, mục đích là dẫn dắt tiêu dùng của khách hàng hướng tới sản
phẩm, dịch vụ của mình… Về mặt thông tin, quảng cáo không phải là thông tin đơn
thuần như thông tin báo chí, dù có thể sử dụng chung các phương tiện thông tin để
tiếp cận công chúng, do đó không thể điều chỉnh nó bằng các quy định về tính trung
thực, chính xác của thông tin báo chí. Về mặt thương mại, các nội dung đưa ra trong
quảng cáo cũng không thể áp dụng các quy định về nghĩa vụ theo cam kết trong
chào hàng hay hợp đồng để buộc thương nhân trung thành với những thông điệp
phát đi từ quảng cáo. Không thể trông đợi nhà cung cấp quảng cáo bỏ ra một chi phí
quảng cáo lớn để thông báo tường tận cho người tiêu dùng cả những điểm hạn chế,

bộ phận của Luật Dân sự, sau đó, trở thành lĩnh vực pháp luật riêng với mục đích
nhằm chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Pháp luật về chống hạn
chế cạnh tranh và độc quyền ra đời khi ở nền kinh tế của một số nước tiên tiến xuất
hiện việc tập trung quyền lực dưới hình thức tờ-rớt. Việc nghiên cứu xây dựng pháp
luật về cạnh tranh nằm trong quá trình nghiên cứu tổng thể hình thành chính sách
cạnh tranh của nền kinh tế. Một số trường phái kinh tế đã thể hiện quan điểm trong
việc xây dựng chính sách cạnh tranh là: Trường phái tân tự do (trường phái
Freiburg); Mô hình chính sách cạnh tranh theo hình thái Oligopoly mở rộng của

15


Kantzenbach; Trường phái tân cổ điển; Trường phái Chicago về vấn đề chống tờ-rớt.
Ngày nay, khi mà cơ chế thị trường đang được coi là cơ chế lý tưởng cho sự vận
hành nền kinh tế ở mỗi quốc gia và kinh tế thế giới, thì vấn đề bảo vệ môi trường
cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh là vấn đề được quan tâm, đặc biệt là việc
bảo đảm quyền cạnh tranh của các chủ thể kinh doanh, bảo đảm cơ cấu thị trường,
bảo đảm sự hợp lý trong tương quan lợi ích của các chủ thể kinh doanh trên thị trường.
Như phần trên đã trình bày, các hành vi cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại chủ yếu là các hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh, là
các hành vi cụ thể xâm hại lợi ích trực tiếp của các đối thủ cạnh tranh và lợi ích của
người tiêu dùng xã hội. Bởi vậy, các hành vi này là đối tượng điều chỉnh trực tiếp
của chế định pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh. Pháp luật về cạnh tranh
trong lĩnh vực quảng cáo thương mại trước hết là một bộ phận của pháp luật cạnh
tranh, là một lĩnh vực pháp luật chuyên ngành, thực hiện điều chỉnh các quan hệ
cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại. Xuất phát từ nhu cầu và đòi hỏi
khách quan của nền kinh tế, Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để
điều chỉnh các quan hệ pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo nói chung và
quảng cáo thương mại nói riêng. Các quy phạm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh
vực quảng cáo thương mại là các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, là khuôn

Từ các phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm: “Pháp luật về cạnh tranh
trong lĩnh vực quảng cáo thương mại là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các hành vi và quan hệ cạnh tranh của
các chủ thể kinh doanh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại, xác định các hành vi
quảng cáo thương mại bị coi là cạnh tranh không lành mạnh; quy định trách nhiệm
pháp lý của các chủ thể thực hiện hành vi; trình tự, thủ tục khiếu nại và giải quyết,
các biện pháp chế tài được áp dụng nhằm mục đích đảm bảo để các hoạt động cạnh
tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại được diễn ra một cách công bằng, bảo
vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại”.

1.2.2. Đặc điểm pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại
Pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo nói chung và quảng cáo
thương mại nói riêng là một bộ phận hợp thành của hệ thống pháp luật, vì vậy, nó
mang những đặc trưng cơ bản của pháp luật nói chung như: Các quy định pháp luật
là do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của Nhà nước, có

17


tính bắt buộc chung, tính quy phạm phổ biến và tính hệ thống, phản ánh những nhu
cầu khách quan, điển hình, phổ biến và có tính công bằng đối với hoạt động cạnh
tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại, điều chỉnh các mối quan hệ cạnh tranh
phát sinh, tồn tại và phát triển trong lĩnh vực quảng cáo thương mại. Tuy nhiên,
pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại là một lĩnh vực pháp
luật chuyên ngành, vì vậy, nó có những đặc điểm riêng cơ bản sau:
Thứ nhất, về bản chất: Pháp luật cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo thương
mại là một bộ phận của pháp luật cạnh tranh, thuộc chế định pháp luật về chống
cạnh tranh không lành mạnh, vì vậy, nó cũng mang những đặc điểm của pháp luật
về chống cạnh tranh không lành mạnh như: (i) Được tiếp cận từ mặt trái của hoạt
động cạnh tranh, tức là chỉ ra những hành vi bị ngăn cấm trong hoạt động cạnh

vi điều chỉnh pháp luật đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
quảng cáo thương mại được xác định bởi các quan hệ giữa các chủ thể là Nhà nước,
giữa những người thực hiện dịch vụ quảng cáo và quan hệ với khách hàng phát sinh
bởi nhóm các hành vi quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước và quảng cáo gian
dối, gây nhầm lẫn…
Thứ tư, mối quan hệ của pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo
thương mại với pháp luật chuyên ngành: Pháp luật về cạnh tranh điều chỉnh lĩnh
vực quảng cáo thương mại quy định và điều chỉnh các hoạt động cạnh tranh trong
lĩnh vực quảng cáo thương mại, bên cạnh đó, các hành vi quảng cáo thương mại
nhằm cạnh tranh không lành mạnh cũng được quy định trong các luật chuyên ngành
như Luật Quảng cáo, Luật Thương mại, Luật Dược, Luật Chất lượng sản phẩm,
hàng hóa, Luật Kinh doanh Bảo hiểm... và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tuy
nhiên, Luật Cạnh tranh đã quy định, trường hợp có sự khác nhau giữa quy định của
Luật Cạnh tranh với quy định của luật khác về hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh
tranh không lành mạnh thì áp dụng quy định của Luật Cạnh tranh. Quy định này là
nền tảng pháp lý giúp đảm bảo sự tương thích, phù hợp và thống nhất của cả hệ
thống pháp luật liên quan đến vấn đề cạnh tranh. Vì vậy, việc xử lý các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo thương mại phải dẫn chiếu áp
dụng pháp luật cạnh tranh. Mặc dù vậy, nhưng trong quá trình áp dụng pháp luật để
xử lý vi phạm, Luật Cạnh tranh không có chế tài riêng mà sử dụng chế tài của các
ngành luật khác, bao gồm từ chế tài dân sự (bồi thường thiệt hại) của Luật Dân sự,

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status