BỘ TƯ PHÁP
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HỌ VÀ TÊN: CHU LỮ HẢI YẾN
TÊN ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hướng nghiên cứu)
Hà Nội - 2018
BỘ TƯ PHÁP
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HỌ VÀ TÊN: CHU LỮ HẢI YẾN
ĐỀ TÀI:
PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC
lĩnh vực sở hữu công nghiệp ........................................................................ 24
Kết luận Chương 1 ....................................................................................... 28
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH 29
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .......................................................................... 29
2.1. CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT
NAM HIỆN NAY ......................................................................................... 29
2.1.1. Thực trạng quy định về các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp theo pháp luật Việt Nam ....... 29
2.1.2. Các biện pháp chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan
đến quyền sở hữu công nghiệp theo pháp luật việt nam .......................... 35
2.2. THỰC TRẠNG XỬ LÝ CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở
NƯỚC TA THỜI GIAN QUA .................................................................... 43
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP . 48
2.3.1. Những thành tựu đạt được ............................................................ 48
2.3.2. Những vấn đề còn vướng mắc, bất cập ....................................... 50
Kết luận Chương 2 ....................................................................................... 54
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH
VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM ....................................... 55
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH
TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG
NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .......................................................... 55
3.1.1. Cần có văn bản hướng dẫn thi hành Luật Cạnh tranh đối với
chế định chống cạnh tranh không lành mạnh ........................................... 55
trình hoạt động kinh doanh.
Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh là một trong hai lĩnh vực chủ
yếu của pháp luật cạnh tranh và ra đời từ rất sớm. Ở bình diện quốc tế, Công ước
Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 cũng quy định về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh và các hành vi bị cấm tại Điều 10bis, đó là: “Bất kỳ hành vi
nào trái với các thông lệ trung thực trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại đều
bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Các hành vi bị cấm bao gồm: Hành
vi có khả năng gây nhầm lẫn về nơi sản xuất hàng hoá của đối thủ cạnh tranh, làm
mất uy tín đối thủ cạnh tranh, lừa dối công chúng... Hiệp định về các khía cạnh
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) năm 1994 của WTO cũng đã đề cập
vấn đề cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ tại Điều 8.2 và Điều 40.
Ở Việt Nam, sau khi chuyển đổi nền kinh tế sang vận hành theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta
cũng đã rất nỗ lực trong việc xây dựng hệ thống pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý
hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường. Đặc biệt sau khi gia nhập Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế trên nhiều lĩnh
vực, hệ thống pháp luật quốc gia cũng được bổ sung và hoàn thiện theo hướng phù
hợp với pháp luật quốc tế và khu vực. Một trong những thành tựu của quá trình này
là sự ra đời của Luật Cạnh tranh năm 2004 và Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005. Cùng
với sự phát triển phong phú, đa dạng của các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong
điều kiện kinh tế thị trường, nhận thức rõ vai trò của quyền sở hữu trí tuệ nói chung,
quyền sở hữu công nghiệp nói riêng và yêu cầu bảo vệ trật tự cạnh tranh lành mạnh
1
trong kinh doanh, những năm qua, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có nhiều
giải pháp tích cực để triển khai mạnh mẽ các quy định của Luật Cạnh tranh cũng
như Luật Sở hữu trí tuệ vào cuộc sống. Quá trình này đã đạt được nhiều thành tựu
đáng khích lệ, tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, việc thực thi pháp luật về chống cạnh
chính xác hành vi vi phạm là hành vi cạnh tranh không lành mạnh hay là các hành
vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ là một việc làm khá phức tạp, song điều này lại
quyết định việc lựa chọn nguyên tắc áp dụng pháp luật để xử lý nên đã gây không ít
khó khăn trong việc xử phạt, khó tìm được sự thống nhất trong chế tài xử phạt và có
thể xảy ra khả năng cùng một hành vi sẽ bị phạt hai lần…
Với những lý do trên, việc đặt yêu cầu nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực
tiễn của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp ở Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật là có tính cấp thiết và
có ý nghĩa về mặt khoa học cũng như về mặt thực tiễn. Bởi vậy, em đã mạnh dạn lựa
chọn đề tài “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay” để làm Luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Pháp luật về cạnh tranh được hình thành và phát triển từ rất sớm nhằm điều
chỉnh một trong những quy luật rường cột của kinh tế thị trường, đó là quy luật cạnh
tranh. Điều ước quốc tế sớm nhất liên quan đến pháp luật về cạnh tranh là Công ước
Paris được ký kết ngày 20/3/1883 cũng chủ yếu là nhằm chống lại các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp. Những năm qua, trên thế
giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể tên một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu như: Burton Ong (2006), “Origins, objectives and
structure of the Singapore Competition Act”, World Competition; F.Jenny (2004),
“Competition, Trade and Development before and after Cancun”; Josef Drex, Mor
Bakhoum, Eleanor M. Fox, Michal S. Gal, David J.Gerber (2012) “Competition
Policy and Regional Integration in Developing Countries… Rodyk & Davidson
LLP (2012) “Competition laws in ASEAN: A South-East Asian perspective”; The
World Bank Group (2015), “Competition Policy in Vietnam - Inputs for the Vietnam
2035 Report”…
Ở Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật nhằm đảm bảo để vận hành nền kinh tế theo cơ chế thị trường đã có nhiều
công trình nghiên cứu về pháp luật cạnh tranh, chống hành vi cạnh tranh không lành
này ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là nhằm khảo cứu, hệ thống và phân
tích các vấn đề lý luận cũng như thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, để từ đó đề xuất các định hướng và giải
pháp hoàn thiện pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về chống
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.
4
Với mục đích nghiên cứu ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác
định là:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp, pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và thi hành pháp luật
về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt
Nam hiện nay.
- Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất định hướng và giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, thực
tiễn, các quy định của pháp luật quốc tế và của pháp luật Việt Nam về chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; thực trạng cơ chế thi
hành pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp ở Việt Nam.
Tuy nhiên, để làm sâu sắc hơn đề tài nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của
luận văn này về thời gian được giới hạn kể từ khi Luật Cạnh tranh năm 2004 và
thời gian qua;
(iii) Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, cũng
như nâng cao hiệu quả cơ chế thi hành pháp luật về chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Chương 2: Thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
6
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH
KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Có thể hiểu đơn giản, cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cạnh
tranh không đẹp, vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép, đi ngược lại truyền
thống kinh doanh lành mạnh, công bằng. Nhà nghiên cứu người Pháp Dominique
Brault đã trích dẫn một so sánh mang tính hình tượng: “Cạnh tranh là một thứ rượu,
dùng đúng liều nó là chất kích thích, dùng quá liều nó trở thành thuốc độc” 1. Nhà
nước không chỉ tạo môi trường pháp lý an toàn cho các chủ thể thực hiện việc cạnh
doanh của người khác hoặc dèm pha đối thủ cạnh tranh, qua đó, giành giật khách
hàng về phía mình. Điều khoản này được bổ sung vào Công ước năm 1900 và được
sửa đổi lần cuối theo Văn bản Stockholm năm 1967, theo đó, bất kỳ hành vi cạnh
tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc
trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Có thể thấy, tiêu chí
đánh giá quan trọng nhất về tính lành mạnh/không lành mạnh của một hành vi cạnh
tranh là “các thông lệ trung thực và thiện chí” không rõ ràng và ổn định, ở mỗi quốc
gia có thể có những khác biệt phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội và
lịch sử của quốc gia đó.
Trên thực tế, khái niệm trong Điều 10bis đã có ý bỏ ngỏ cho pháp luật quốc
gia của các nước thành viên Công ước tự định đoạt. Tuy nhiên đến cấp độ pháp luật
quốc gia, tình hình cũng không có gì tiến triển hơn. Sự không rõ ràng trong việc xác
định phạm vi cạnh tranh không lành mạnh tiếp tục được thể hiện trong pháp luật
nhiều nước, tại Bỉ và Luxembourg các tiêu chí này được gọi là “thông lệ thương
mại trung thực”, tại Tây Ban Nha và Thuỵ Sỹ là “nguyên tắc ngay tình”, tại Italia là
“tính chuyên nghiệp đúng đắn”, tại Đức, Hy Lạp và Ba Lan là “đạo đức kinh
doanh”. Còn tại Hoa Kỳ, do thiếu định nghĩa trong các văn bản pháp luật, các toà án
đã xác định từ nguồn án lệ định nghĩa cạnh tranh lành mạnh là “các nguyên tắc giải
quyết trung thực và công bằng” hoặc “đạo đức thị trường”. Pháp luật đã không đưa
ra được chuẩn mực để nhận diện các hành vi cạnh tranh lành mạnh, được chấp nhận
trong kinh doanh. Tiêu chí “công bằng” hay “trung thực” phản ánh các quan niệm
đa chiều về kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức, triết học… tồn tại trong một xã hội,
do đó sẽ khác nhau giữa các quốc gia hoặc thậm chí trong cùng một quốc gia. Theo
8
thời gian, các tiêu chí này cũng có thể thay đổi. Hơn nữa, luôn có những hoạt động
cạnh tranh không lành mạnh mới, khi tính sáng tạo trong kinh doanh không có giới
hạn. Mọi nỗ lực nhằm bao quát trong một định nghĩa tất cả các hoạt động cạnh
9
xét về tính chính đáng, phù hợp với thông lệ hay đạo đức kinh doanh và pháp luật
về cạnh tranh không lành mạnh có thể can thiệp vào nhiều hoạt động khác nhau của
đời sống kinh tế. Đặc điểm này khiến cho pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh
tại một số quốc gia có thể có phạm vi áp dụng rất rộng và điều chỉnh những hành vi
đa dạng. Một ví dụ gần đây được nhiều người biết đến là Luật Chống cạnh tranh
không lành mạnh Nhật Bản quy định về việc hối lộ cũng bị coi là một dạng hành vi
cạnh tranh không lành mạnh3. Quy định này được bổ sung năm 1998 và được coi là
sự nội luật hoá Công ước của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về
chống hối lộ đối với quan chức nước ngoài trong giao dịch quốc tế.
Trên thực tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được thực hiện bởi các
chủ thể là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh trên thị trường. Ở đây,
khái niệm doanh nghiệp được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm mọi tổ chức hay cá
nhân tham gia hoạt động tìm kiếm lợi nhuận một cách thường xuyên và chuyên
nghiệp. Theo đó, các chủ thể này bao gồm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh, doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt
Nam. Ở phạm vi rộng hơn, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh còn có thể
áp dụng đối với hành vi của các hiệp hội doanh nghiệp và các cá nhân hành nghề tự
do. Các đối tượng không phải là chủ thể kinh doanh thương mại sẽ không phải là
đối tượng điều chỉnh của quan hệ cạnh tranh. Các chủ thể này dù có thực hiện
những hành vi có dấu hiệu của hành vi cạnh tranh không lành mạnh cũng không
được coi là chủ thể của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng vẫn là chủ thể
trong quan hệ pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh. Những đối tượng này là
các cơ quan quản lý nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu
dùng, các đơn vị truyền thông, các tổ chức phi kinh tế... Có những tình huống một
số tổ chức phi kinh tế, các đơn vị truyền thông… thực hiện những hành vi xâm
phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh của doanh nghiệp, ví dụ như tung tin không
trong hoạt động kinh doanh trên thị trường
Đặc điểm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập quán pháp của pháp luật về
cạnh tranh không lành mạnh, các quy định về cạnh tranh không lành mạnh được
hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Mặt khác, đặc điểm này cũng đòi hỏi cơ quan xử lý các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh phải có những hiểu biết và đánh giá sâu sắc về thực tiễn thị trường để
phán định một hành vi có đi ngược lại những quy tắc xử sự chung trong kinh doanh
tại một thời điểm nhất định hay không. Do đặt tiêu chí đánh giá tính lành mạnh của
hành vi cạnh tranh dựa trên các thông lệ kinh doanh công bằng, thiện chí, nên pháp
luật chống cạnh tranh không lành mạnh luôn hướng tới mục tiêu bảo vệ các doanh
nghiệp làm ăn trung thực, bảo vệ các chuẩn mực cạnh tranh lành mạnh trong quá
trình kinh doanh, xây dựng một môi trường kinh doanh bình đẳng để cạnh tranh
11
đúng là động lực để phát triển nền kinh tế. Mặt khác, một số thông lệ kinh doanh
được công nhận trong một số ngành, lĩnh vực nhất định, song lại bị coi là không
phù hợp ở những ngành, lĩnh vực khác. Những trường hợp như vậy, việc đánh giá
hành vi phải dựa trên các chuẩn mực chung hơn là về đạo đức kinh doanh, đồng
thời, phải xem xét khả năng bị phương hại đến quyền lợi từ phía người tiêu dùng.
Một khía cạnh khác cũng cần quan tâm đó là yếu tố chủ quan của chủ thể thực hiện
hành vi. Một hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình luôn gắn với lỗi cố ý
của chủ thể vi phạm, mặc dù biết hoặc buộc phải biết đến các thông lệ, chuẩn mực
đặt ra đối với hoạt động kinh doanh của mình nhưng vẫn cố tình vi phạm. Tuy
nhiên, trong thực tiễn xử lý, việc xem xét đánh giá yếu tố lỗi được trao cho toà án
hoặc cơ quan xử lý vụ việc và nhiều trường hợp mang tính chất suy đoán hơn là đòi
hỏi các bằng chứng cụ thể về ý định cạnh tranh không lành mạnh của chủ thể thực
hiện hành vi4. Khi vấn đề bảo vệ người tiêu dùng được nhấn mạnh định hướng thực
thi pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh thì việc xem xét yếu tố lỗi càng không
rãi. Căn cứ luật định là những tiêu chuẩn đã được định lượng hoá bằng pháp luật,
một khi hành vi đi trái với các quy định pháp luật sẽ được xem là không lành mạnh.
Trong trường hợp này, hành vi cạnh tranh không lành mạnh đồng nghĩa với hành vi
cạnh tranh bất hợp pháp. Theo đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể là
hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật (bao gồm
các quy định cấm của Luật Cạnh tranh và các văn bản pháp luật khác như pháp luật
thương mại, pháp luật về quản lý giá, pháp luật về sở hữu trí tuệ…) hoặc là hành vi
vi phạm các tiêu chuẩn lành mạnh được pháp luật quy định như pháp luật khuyến
mại quy định giới hạn của giá trị khuyến mại. Các tập quán kinh doanh thông
thường đã được thừa nhận rộng rãi được áp dụng đối với những hành vi chưa được
pháp luật dự liệu là cạnh tranh không lành mạnh. Nói cách khác, căn cứ này là biện
pháp dự phòng để áp dụng cho những trường hợp pháp luật chưa quy định về một
hành vi cụ thể, nhưng khi hành vi này được thực hiện đã xâm hại đến quyền cạnh
tranh của các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác, quyền lợi hợp pháp của người tiêu
dùng và trái với tập quán kinh doanh. Căn cứ này đã mở rộng khả năng điều chỉnh
và khắc phục được tình trạng chóng lạc hậu của pháp luật cạnh tranh.
Tính trái chuẩn mực đạo đức thông thường trong kinh doanh của hành vi
cạnh tranh không lành mạnh đòi hỏi pháp luật cạnh tranh phải luôn được chỉnh lý,
bổ sung cho phù hợp với thực tiễn. Nhận thức về các dấu hiệu, biểu hiện không lành
mạnh cụ thể luôn thay đổi và có sự khác biệt theo từng điều kiện và hoàn cảnh cụ
thể vì quan niệm về tính không lành mạnh là kết quả của những ý thức xã hội liên
quan đến xã hội học, kinh tế học, đạo đức học của một xã hội nhất định nên có thể
dẫn đến hiện tượng là hành vi cạnh tranh bị coi là cạnh tranh không lành mạnh ở
13
nước này, nhưng được coi là lành mạnh ở nước khác. Ngoài ra, những hành vi cạnh
tranh luôn được sáng tạo không ngừng về hình thức thể hiện và phương thức cạnh
tranh, làm xuất hiện những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh mới và phát triển
Dưới góc độ lịch sử phát triển, những đặc điểm về hậu quả của hành vi cạnh
tranh không lành mạnh thay đổi theo thời gian phụ thuộc vào nhận thức của con
người về tính nguy hại và mức độ xâm hại của hành vi đó đối với lợi ích mà pháp
luật cần bảo vệ. Do đó việc các định hậu quả thiệt hại của hành vi cạnh tranh không
lành mạnh là không giống nhau giữa các thời điểm lịch sử khác nhau và giữa các
quốc gia khác nhau, tùy theo chính sách của mỗi nhà nước trong việc quản lý về
kinh tế nói chung và trong hoạt động quản lý môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa
các chủ thể kinh doanh thương mại.
1.1.2. Nhận diện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp
Cạnh tranh là một hoạt động tất yếu trong sản xuất, kinh doanh nhằm mục
đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ được nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt được lợi
nhuận cao nhất, tác động mạnh mẽ lên sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp.
Trong quá trình cạnh tranh, không ít các chủ thể đã sử dụng các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh để lợi dụng thành quả kinh doanh của người khác nhằm thu lợi bất
chính và làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của các đối thủ cạnh tranh. Hành vi
cạnh tranh không lành mạnh xuất hiện ở mọi lĩnh vực kinh doanh, trong đó có lĩnh
vực sở hữu công nghiệp. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền
sở hữu công nghiệp giống những hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói chung,
bên cạnh đó nó còn có những biểu hiện tương đối riêng biệt. Cụ thể là nó xâm hại
các đối tượng sở hữu công nghiệp.
Ví dụ: Hành vi làm hàng nhái, hàng giả, thông tin sai lệch chỉ dẫn địa lý v.v..
Nếu một hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp thì nó sẽ vừa vi phạm pháp luật về cạnh tranh, vừa vi phạm pháp
luật về sở hữu trí tuệ5.
Theo Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883, một
điều ước quốc tế sớm nhất có quy định về việc chống cạnh tranh không lành mạnh,
có thể nhận diện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
tranh không lành mạnh và trong nhiều trường hợp gây nên hậu quả rất nghiêm
trọng, làm người tiêu dùng bị thiệt hại về tài chính (hoặc có thể nhiều thiệt hại khác)
do dựa vào thông tin không đúng về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ; đối tác cạnh tranh
trung thực bị mất khách hàng, tính lành mạnh của thị trường bị suy giảm cùng với
nhiều hậu quả bất lợi cho nền kinh tế.
Hành vi lừa dối không chỉ gây thiệt hại đến lợi ích người tiêu dùng mà còn
gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, ảnh hưởng đến sự lưu thông hàng hoá và dịch
vụ trên thị trường. Hành vi lừa dối trong hoạt động thương mại thể hiện chủ yếu là
các quảng cáo lừa dối, không trung thực.
16
(iii) Hành vi vi phạm bí mật thương mại
Sức mạnh cạnh tranh trong kinh doanh thường được dựa vào yếu tố kỹ thuật
như những giải pháp, hồ sơ thiết kế kỹ thuật, công thức pha chế hay chế tạo sản
phẩm, các bí quyết trong việc sản xuất hàng hoá công nghiệp, thương mại, dịch vụ.
Bí quyết thương mại có thể hiểu rộng hơn, bao hàm cả những đối tượng thuộc sở
hữu công nghiệp và những bí quyết riêng của doanh nghiệp tạo nên sức mạnh cạnh
tranh riêng có cho doanh nghiệp đó. Hiếm khi tồn tại một định nghĩa pháp lý đầy đủ
về một bí mật thương mại. ở một số nước, pháp luật có sự phân biệt hai loại bí mật
thương mại, đó là bí mật công nghiệp và bí quyết thương mại. Loại thứ nhất liên
quan đến thông tin về các yếu tố kỹ thuật như công thức hoá học, phương thức sản
xuất, chế tạo, các bản thiết kế hoặc các mẫu chế tạo thử... Các thông tin này thường
có tính sáng tạo, đổi mới... Loại thứ hai bao gồm phương pháp bán hàng, phân phối,
các hình thức, mẫu hợp đồng, thông tin về thời hạn kinh doanh, các chi tiết về việc
thoả thuận giá cả, thông tin về người tiêu dùng, các chiến lược quảng cáo, tiếp thị
và danh sách những người cung cấp vật tư, danh sách khách hàng tiêu thụ sản
phẩm. Thông thường, điều kiện để một đối tượng, thông tin nào đó trở thành bí mật
thương mại được quy định chi tiết trong từng trường hợp cụ thể. Các đối tác cạnh
loại hành vi này là: Sự lạm dụng giá trị đặc trưng hoặc giá trị có chức năng quảng
cáo của một nhãn hiệu hàng hoá; sự lạm dụng danh tiếng, uy tín thương mại của
người khác; sự bắt chước mù quáng trong sản xuất kinh doanh; sự lạm dụng "ký
sinh" dựa vào thành quả thương mại của người khác.
Lợi dụng không chính đáng thành quả trong kinh doanh của người khác có
thể còn là hành vi làm hàng giả nhằm thu lợi bất chính, làm "nhái" các sản phẩm có
nhãn hiệu nổi tiếng hoặc ưa dùng, mặc dù các đối tượng sản phẩm này không còn
được bảo hộ theo pháp luật bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp nhưng vẫn còn được
người tiêu dùng ưu chuộng, tín nhiệm thì vẫn bị coi là hành vi cạnh tranh không
lành mạnh6.
1.2. PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
TRONG LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm và cơ chế điều chỉnh của pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Xét về lịch sử phát triển, pháp luật chống cạnh tranh ra đời từ rất sớm.
Những quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh đầu tiên được xuất
Xem thêm: TS. Đặng Vũ Huân, Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành
mạnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2004, trang 124 – tr. 128.
6
18
hiện ở Pháp (trong các quy định của Điều 1382 và 1383 Bộ luật Dân sự Cộng hoà
Pháp 1804) và tiếp sau đó các quy định pháp luật về cạnh tranh ở nước này được
quy định trong Luật chống kinh doanh lừa dối năm 1905, Luật về thông tin đối với
người tiêu dùng và cấm quảng cáo man trá năm 1978, 1989. Bộ luật Hình sự Cộng
hoà Pháp cũng quy định hai tội danh: Tội cạnh tranh bất hợp pháp và tội lạm dụng
thế mạnh để cạnh tranh.
Ở Italia, các quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh cũng được quy
chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp bao gồm hệ
thống các quy phạm pháp luật xác định những hành vi bị coi là cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; trách nhiệm pháp lý của các chủ thể
thực hiện những hành vi này; trình tự, thủ tục khiếu kiện và giải quyết; các biện
pháp chế tài được áp dụng...
Cạnh tranh không lành mạnh là những hành vi cụ thể của các chủ thể, nhằm
mục đích cạnh tranh, được thực hiện bằng các thủ đoạn không trung thực, không
lành mạnh (có thể là trái pháp luật hoặc đi ngược lại đạo đức, tập quán truyền thống
trong kinh doanh) cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho các đối thủ cạnh tranh khác và
người tiêu dùng xã hội. Tính không lành mạnh và mức độ thiệt hại phụ thuộc vào
nhiều yếu tố của quan hệ thị trường. Tuy nhiên, chỉ xác định là cạnh tranh không
lành mạnh khi hành vi của một chủ thể xâm phạm quyền lợi của chủ thể khác đang
cùng tồn tại trong một thị trường hàng hoá, dịch vụ hay thị trường liên quan; những
hành vi này được tiến hành vì mục đích cạnh tranh và có biểu hiện không lành
mạnh. Về nguyên tắc, các chủ thể có quyền lợi bị xâm phạm có quyền kiện các chủ
thể đã thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh tới cơ quan nhà nước có thẩm
quyền yêu cầu được giải quyết. Biện pháp chế tài được áp dụng trong các trường
hợp này là buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại. Như vậy,
pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh được áp dụng như một chế định đặc
biệt bao hàm cả tính mệnh lệnh của chế tài hành chính (buộc chấm dứt hành vi vi
phạm, buộc khôi phục trở lại tình trạng hợp pháp ban đầu trước khi bị hành vi cạnh
tranh không lành mạnh xâm hại), đồng thời lại như một hình thức trách nhiệm bồi
thường thiệt hại dân sự ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, mục đích của pháp luật trong
trường hợp này không chỉ đơn thuần ở việc buộc các chủ thể vi phạm phải thực hiện
trách nhiệm pháp lý theo chức năng bù đắp thiệt hại, bảo đảm quyền và lợi ích hợp
pháp về nhân thân cũng như về tài sản cho người sản xuất kinh doanh khác và
người tiêu dùng xã hội, mà cao hơn là nhằm răn đe, nghiêm cấm mọi hành vi cạnh
tranh không lành mạnh có nguy cơ xâm hại và làm ảnh hưởng đến môi trường cạnh
tranh lành mạnh trong nền kinh tế.
Mặc dù pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh xuất phát từ nhiều nguồn