BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NGUYỄN ĐỨC NGA ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG CÁC TỘI
XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Hình sự
Mã số : 62.38.40.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Vào hồi: 14h ngày 14 tháng 03 năm 2009 Có thể tìm hiểu Luận án tại: - Thư viện Quốc gia Việt Nam, Hà Nội;
- Thư viện Nhà nước và Pháp luật.
1
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, thế giới đã chuyển sang nền văn minh hậu công nghiệp,
khoa học kỹ thuật, công nghệ và thông tin trở thành yếu tố thứ năm của
nền kinh tế thị trờng, bên cạnh bốn yếu tố truyền thống là tài nguyên,
lao động, vốn và kỹ năng kinh doanh. Trong tình hình đó, sở hữu trí tuệ
nói chung, sở hữu công nghiệp nói riêng có vị trí ngày càng quan trọng
và ngày càng đợc mua bán, trao đổi nhiều hơn về số lợng, lớn hơn về
quy mô và nhanh hơn về tốc độ giao dịch. Song song với các hoạt động
giao dịch hợp pháp về sở hữu công nghiệp, tình hình các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp cũng diễn biến phức tạp, đa dạng với các thủ
đoạn ngày càng tinh vi, đặc biệt là ở khu vực Châu á-thái Bình Dơng.
Các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp không chỉ gây thiệt hại cho
chủ sở hữu công nghiệp, tác động lớn tới công việc kinh doanh của từng
công ty nói riêng mà còn gây ra những thiệt hại kinh tế nghiêm trọng đối
với toàn bộ nền kinh tế quốc gia nói chung.
ở Việt Nam ngay từ năm 1976, nhận thức đợc tầm quan trọng của
sở hữu trí tuệ, nớc ta đã tham gia Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, đồng
những về mặt lý luận, mà còn là đòi hỏi thực tiễn nhằm nâng cao hiệu
quả cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Lĩnh vực đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu trí
tuệ nói chung, sở hữu công nghiệp nói riêng đã đợc một số tác giả quan
tâm nghiên cứu. Tuy nhiên, cho đến nay cha có công trình nào nghiên
cứu một cách toàn diện và hệ thống về mặt lý luận, đánh giá thực trạng,
chỉ ra nguyên nhân hình thành, phát triển của các tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp, đồng thời đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp ở nớc ta.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở khái quát hóa những vấn đề lý
luận về các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, đánh giá tình hình,
nguyên nhân và điều kiện của các tội này trong thời gian vừa qua, đề
xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, hoàn thiện pháp
luật hình sự nói riêng về phòng ngừa và xử lý có hiệu quả các loại tội
3
phạm trong đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm quyền sở hữu
công nghiệp ở Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích làm rõ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc
trng và khía cạnh tội phạm học trong đấu tranh phòng, chống các tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; hệ thống hóa các quy định về tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong luật hình sự Việt Nam;
nghiên cứu, so sánh các quy định pháp luật và kinh nghiệm của một số
tổ chức và quốc gia trên thế giới trong việc phòng, chống các tội xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp.
xã hội học, khoa học dự báo
5. Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý
hình sự Việt Nam ở cấp độ luận án tiến sĩ, nghiên cứu một cách toàn
diện, có hệ thống về đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp ở Việt Nam. Tác giả dự báo tình hình các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp và đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao
hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm này ở Việt Nam.
Có thể xem những nội dung sau đây là những đóng góp mới của luận án:
1. Làm sáng tỏ khái niệm sở hữu công nghiệp, các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng của
các tội phạm này; khái quát hóa các vi phạm sở hữu công nghiệp dới
khía cạnh tội phạm học, hệ thống hóa các quy định về tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp trong luật hình sự Việt Nam.
2. Nghiên cứu, so sánh những quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam về các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp với những quy định
tơng ứng trong pháp luật hình sự của một số quốc gia và tổ chức trên
thế giới để rút ra những kinh nghiệm, giá trị hữu ích về lập pháp hình sự
cũng nh hình thức xử lý trong quá trình đấu tranh phòng, chống các tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam.
3. Phân tích, đánh giá tình hình, nguyên nhân và điều kiện của các
tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; chỉ ra mặt đợc, mặt cha
đợc của cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này thời gian qua
và dự báo diễn biến các tội phạm này trong thời gian tới ở nớc ta.
5
4. Kiến nghị một số giải pháp chủ yếu đấu tranh phòng, chống các
tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam một cách toàn
diện, có hệ thống, đồng bộ và có hiệu quả.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
CHƯƠNG 1
Một số vấn đề lý luận cơ bản về những dấu hiệu đặc
trng các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
v đặc điểm của cuộc đấu tranh phòng, chống các
tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệpChơng này: Tập trung làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về
các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nh: trình bày về khái niệm
sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp và khái niệm các tội xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp, hệ thống hóa các quy định về tội xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp trong Luật hình sự Việt Nam; Khái lợc về các tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trên phơng diện tội phạm học,
những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng của các tội xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp; và những quy định pháp luật của một số tổ chức,
quốc gia trên thế giới trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
1.1. Khái niệm các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp v hệ thống hóa các quy định về các tội xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp trong luật hình sự
Việt nam
1.1.1. Khái niệm sở hữu trí tuệ
Trên cơ sở phân tích những quan điểm khác nhau về sở hữu trí tuệ,
tác giả đã đa ra khái niệm sở hữu trí tuệ nh sau: Sở hữu trí tuệ là sở
hữu của cá nhân, pháp nhân đối với tên tác giả, sáng chế, giải pháp hữu
ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, quyền sử dụng đối với
tên gọi, xuất xứ hàng hóa, bí mật thơng mại, thiết kế bố trí
(topography), mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chơng trình đã đợc
mã hóa, giống thực vật và sở hữu các đối tợng khác do pháp luật quy
định. Từ khái niệm này, sở hữu trí tuệ bao gồm hai lĩnh vực: sở hữu công
dân sự hiện hành, không có thẩm quyền xác định mức bồi thờng đối với
những thiệt hại mà chủ sở hữu công nghiệp hợp pháp phải gánh chịu.
Khắc phục những nhợc điểm trên, ngày 27/6/1985, Bộ luật hình sự
năm 1985 đã ra đời, theo đó các tội phạm kinh tế bao gồm: tội làm hàng
giả, buôn bán hàng giả đợc quy định tơng đối rõ ràng, nhng về cơ
bản chính sách xử lý hình sự đối với loại tội phạm này vẫn mang những
đặc điểm nh trớc khi pháp điển hóa về hình sự và Bộ Luật này cha
đa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm hàng giả. Hớng dẫn thực hiện,
8
Điều 3 , Nghị định số 140-HĐBT ngày 25/4/1991 đã đa ra khái niệm
hàng giả, nhng việc xử lý về mặt hình sự đối với tội làm hàng giả,
buôn bán hàng giả vẫn gặp nhiều vớng mắc, chủ yếu là do quy định về
hàng giả tại Nghị định vẫn còn xa rời thực tế.
Ngày 21/12/1999, Bộ luật hình sự (sửa đổi) đã đợc thông qua: Đã
phân biệt rõ về tội sản xuất, buôn bán hàng giả với các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp; Đã sử dụng các khái niệm hậu quả nghiêm
trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, tuy cha đa ra định
nghĩa pháp lý của những khái niệm này; Đã đa ra một số dấu hiệu định
tội bắt buộc của một số cấu thành tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp thuộc về nhân thân ngời phạm tội, đó là dấu hiệu tái phạm hành
chính và tái phạm hình sự. Nhìn chung quy định về hình phạt đối với các
tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ít nghiêm khắc so với các loại
tội phạm kinh tế khác. Đối với các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp, đã có quy định các hình phạt bổ sung.
1.2. Khái lợc về các tội xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp trên phơng diện tội phạm học
1.2.1. Khái niệm về tội phạm học
Từ việc nghiên cứu, phân tích khái niệm tội phạm học trong Từ điển
Bách khoa Việt Nam, quan điểm về tội phạm học của Giáo s Võ Khánh
học và khoa học luật hình sự là hai khoa học nghiên cứu nhân thân ngời
phạm tội sâu, rộng nhất, nó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy
nhiên, giữa hai khoa học này có sự khác nhau về phơng pháp tiếp cận,
vì thế hai lĩnh vực khoa học này không thể tách rời nhau, tội phạm học
sử dụng thống kê hình sự nh công cụ để nhận thức đối tợng nghiên
cứu của mình còn thống kê hình sự thì sử dụng những hớng dẫn lý luận
do tội phạm học nêu ra để hoàn thiện hóa phạm vi tiếp cận của mình.
1.2.3. Cơ sở lý luận về công tác dự báo tình hình tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp
Khoa học nghiên cứu về tình hình tội phạm cho thấy việc dự báo
tình hình tội phạm nói chung, tình hình tội phạm trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc xác định những số liệu
chung nhất biểu thị diễn biến của tình hình tội phạm trong tơng lai, trên
cơ sở đó giúp cho công tác phân tích, tổng hợp của các cơ quan có trách
nhiệm trong cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp.
10
1.3. những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng của
các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Tác giả đã phân tích khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan và
chủ thể của các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Đối với các tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, cần chú ý một số vấn đề về chủ
thể và hình phạt đợc áp dụng nh sau:
- Đối với tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở
hữu công nghiệp, Khoản 1 Điều 170 quy định: Ngời nào có thẩm
quyền trong việc cấp văn bằng bảo hộ mà vi phạm quy định của pháp
luật về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đã bị xử lý kỷ
luật hoặc xử phạt hành chính hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả
vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đợc coi là nghiêm trọng ở
giai đoạn tiếp theo, khi trình độ sản xuất phát triển, ý thức của ngời dân
đối với quyền sở hữu công nghiệp đã đợc nâng cao, Việt Nam nên hớng
tới việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp bằng các
biện pháp hành chính, mà chủ yếu là biện pháp tạm giữ hải quan, kê biên
hàng giả, tiêu hủy hàng giả và phạt đối tợng vi phạm với mức độ răn đe đủ
lớn, không giới hạn số tiền phạt mà tơng ứng với trị giá tang vật vi phạm
.
Mặt khác, Chính phủ cần có những quy định cụ thể về chức năng, nhiệm
vụ đối với các cơ quan quản lý nhà nớc, cơ quan bảo vệ pháp luật, và
mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong lĩnh vực phòng,
chống xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở nớc ta.
12
CHƯƠNG 2
đánh giá, phân tích thực trạng các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam thời gian qua v
dự báo các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
quyền sở hữu công nghiệp. Đến Bộ luật hình sự năm 1999, hàng giả đã
đợc quy định tại các Điều 156, 157 và 158 đợc hiểu là giả về nội dung
nghĩa là hàng hóa có mức chất lợng thấp hơn mức tối thiểu cho phép
theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc là sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng
không đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của
nó. Hành vi sản xuất hoặc buôn bán hàng hóa chỉ giả về hình thức, tức là
mang nhãn của cơ sở sản xuất khác, mang nhãn không đúng với nhãn
sản phẩm đã đăng ký, mang kiểu dáng công nghiệp của cơ sở sản xuất
khác thì không xử lý về tội sản xuất, buôn bán hàng giả theo Điều 156,
157, 158, mà bị xử lý về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo
Điều 171. Trờng hợp một ngời sản xuất hoặc buôn bán hàng hóa giả
cả về nội dung và giả cả về hình thức, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự
về hai tội: tội sản xuất, buôn bán hàng giả tơng ứng và tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp.
Thứ hai, trong thời gian qua mặc dù Việt Nam đã ban hành Bộ luật
hình sự năm 1999 quy định về các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp, nhng thực tế chỉ có 01 vụ với 01 bị cáo về tội xâm phạm quyền
sở hữu công nghiệp bị xử lý, trong khi đó các tội phạm về sản xuất, buôn
bán hàng giả bị xử lý nhiều hơn hàng trăm lần so với các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp. Đây là vấn đề không hợp lôgíc, bởi lẽ ngời
sản xuất, buôn bán hàng giả về nội dung, thờng làm giả những hàng
hóa nổi tiếng, có chất lợng cao, đợc thị trờng thừa nhận, mà chủ sở
hữu những hàng hóa này thờng đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp, trong khi đó các cơ quan bảo vệ pháp luật của ta trong khi xử lý
hành vi làm hàng giả lại chỉ xử lý tội phạm về mặt nội dung hàng giả,
mà bỏ qua mặt hình thức của hàng giả, tức là vi phạm quyền sở hữu công
nghiệp, đây là điều bất cập hiện nay.
2.2. Nguyên nhân v điều kiện của các tội xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp
2.2.1. Nguyên nhân và điều kiện của các tội xâm phạm quyền sở
đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này, chất lợng điều tra còn thấp,
nhiều vụ án còn kéo dài, xử lý không kịp thời, không nghiêm Nhiều cơ
quan tham gia vào việc xử lý các hành vi vi phạm quyền sở hữu công
nghiệp, nhng việc phân định trách nhiệm giữa các cơ quan đó lại cha
rõ ràng dẫn tới hạn chế hiệu quả hoạt động.
15
2.2.3. Nguyên nhân và điều kiện thuộc về công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong đấu tranh phòng, chống
các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Những năm qua, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp
luật về sở hữu công nghiệp nói chung, các tội xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp nói riêng đã đợc sự quan tâm bớc đầu của các cấp ủy
Đảng, các cơ quan, đoàn thểTuy nhiên, công tác này còn có những
mặt yếu kém sau: Thứ nhất, cha chú ý đầy đủ tới đặc điểm đối tợng
cần tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về sở hữu công nghiệp.
Phơng pháp, hình thức tuyên truyền còn đơn điệu, thiếu minh họa, kém
hấp dẫn, nên tính thuyết phục cha cao. Thứ hai, cha có biện pháp cụ
thể, thiết thực để bồi dỡng kiến thức pháp luật về sở hữu công nghiệp
cho cán bộ và nhân dân, các cơ quan, xí nghiệp, đoàn thể, cha kết hợp
tốt việc giáo dục ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa với giáo dục đạo đức,
lối sống có văn hóa để tạo thành thói quen tuân thủ pháp luật trong lĩnh
vực sở hữu trí tuệ nói chung, sở hữu công nghiệp nói riêng. Thứ ba, vai
trò của các phơng tiện truyền thông đại chúng trong việc tuyên truyền,
phổ biến pháp luật về sở hữu công nghiệp cha cao, cha bám sát những
thông tin mới về cuộc đấu tranh phòng, chống vi phạm quyền sở hữu
công nghiệp, các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, nhất là các
phơng thức, thủ đoạn phạm tội mới. Thứ t, công tác tuyên truyền, giáo
dục pháp luật cha chỉ ra đợc tác hại, hậu quả cả về vật chất lẫn tinh
thần của tình hình vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, các tội xâm phạm
trọng hơn so với trớc đây. Điều đó đòi hỏi pháp luật về sở hữu trí tuệ
nói chung, sở hữu công nghiệp nói riêng phải có sự hoàn thiện tơng ứng
với pháp luật về sở hữu trí tuệ, sở hữu công nghiệp của các nớc trong
khu vực và các nớc công nghiệp tiên tiến. 17
CHƯƠNG 3
Một số giải pháp chủ yếu đấu tranh phòng, chống các
tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
3.1. bối cảnh trong nớc v quốc tế mới trong
hoạt động đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
Tác giả cho rằng, trong bối cảnh trong nớc và quốc tế mới, có
những vấn đề cần chú ý nh sau: Thứ nhất, xu thế toàn cầu hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế đã và đang có những tác động vô cùng lớn, buộc
Việt Nam phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật và cơ chế
thực thi về quyền sở hữu trí tuệ nói chung, quyền sở hữu công nghiệp
nói riêng theo những chuẩn mực quốc tế. Thứ hai, tiến trình hội nhập
quốc tế và khu vực, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và
xây dựng nền kinh tế tri thức của Việt Nam, đặt ra những yêu cầu mới
đối với cuộc đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu
nghiệp. Kịp thời giáo dục, răn đe ngời vi phạm để ngăn ngừa họ tiếp tục
vi phạm trở thành ngời phạm tội. Đồng thời, cần xử lý kiên quyết đối
với mọi trờng hợp phạm tội xâm phạm sở hữu công nghiệp để giáo dục,
phòng ngừa chung. Trong việc xử lý về hành chính, dân sự, hình sự, cần
có sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các cơ quan Thanh tra Nhà nớc
về sở hữu công nghiệp, Quản lý thị trờng, Hải quan, Thuế, Công an,
Viện Kiểm sát, Tòa án để tạo thành sức mạnh tổng hợp. Có quy chế
phối hợp giữa các lực lợng trong cuộc đấu tranh này. Thứ t, Cần xây
dựng đợc tính đồng bộ, tính hệ thống của các giải pháp, nhất là các giải
pháp đổi mới chính sách, pháp luật về sở hữu công nghiệp, đổi mới các
chính sách về thuế, hải quan, đổi mới công nghệ thúc đẩy kinh tế - xã
hội phát triển.
3.3. một số giải pháp chủ yếu TRONG đấu tranh
phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp
3.3.1. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về sở hữu công nghiệp
Cần phải thờng xuyên đổi mới, hoàn thiện chính sách về sở hữu
công nghiệp; sửa đổi, bổ sung pháp luật về sở hữu công nghiệp. Cụ thể:
Về chính sách, Nhà nớc cần có chiến lợc bảo hộ sở hữu công nghiệp
mang tính nhất quán, có tính ổn định cao, gắn kết với chiến lợc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Trên cơ sở chiến lợc này, các ngành,
19
các cấp, các địa phơng xây dựng kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
về bảo hộ sở hữu công nghiệp của mình. Về pháp luật: Việt Nam cần sửa
đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ nói chung, sở hữu
công nghiệp nói riêng theo lộ trình nhất định. Trớc hết, cần rà soát, sửa
đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu công nghiệp, pháp
điển hóa toàn bộ hệ thống pháp luật để thay thế cho những văn bản pháp
luật mang tính chất riêng lẻ trớc đây, phù hợp với quy luật phát triển
phòng, chống các vi phạm quyền sở hữu công nghiệp, cần nghiên cứu
xây dựng bổ sung chơng: Các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong
Bộ luật hình sự Tác giả xin đề xuất tập trung vào các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp, bằng cách bổ sung các điều luật sau: Điều:
Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công
nghiệp; Điều: Tội xâm phạm quyền sở hữu nhãn hiệu hàng hóa;
Điều: Tội xâm phạm quyền sở hữu kiểu dáng công nghiệp; Điều:
Tội xâm phạm quyền sở hữu bí mật kinh doanh; Điều: Tội xâm phạm
quyền sở hữu sáng chế; Điều: Tội xâm phạm quyền sở hữu thiết kế bố
trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý và các đối
tợng khác do pháp luật quy định.
3.3.2. Nâng cao hiệu quả hoạt động và tăng cờng sự phối hợp
giữa các cơ quan quản lý nhà nớc về sở hữu công nghiệp và các cơ
quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh phòng, chống các tội xâm
phạm quyền sở hữu công nghiệp
Với sự đa dạng của các đối tợng sở hữu công nghiệp đang đợc
bảo hộ nh hiện nay, thì:
Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nớc về sở hữu công
nghiệp và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong đấu tranh phòng, chống
các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở nớc ta giữ một vai trò
hết sức quan trọng, quyết định đến hiệu quả của công tác phòng, chống
các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Các cơ quan chức năng
cần tập trung vào thực hiện một số công việc đợc coi là chủ yếu đó là:
Nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nớc về sở
hữu công nghiệp; Nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án nhân dân các
cấp trong việc xét xử các vụ án về các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp; Nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân trong
việc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
các vụ án về các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; Tăng cờng
đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp của
Việt Nam là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế nh: WTO,
ASEAN, INTERPOL nên việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh
phòng, chống tội phạm xâm phạm sở hữu công nghiệp vừa là nghĩa vụ,
vừa là nhu cầu nội tại. Tong vấn đế hợp tác quốc tế: Cục sở hữu trí tuệ,
Hải quan, công an tuỳ theo chức năng nhiệm vụ mà có những hoạt
động đầy mạnh hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống các tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp cho phù hợp.
22
Kết luận
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, quy định và
kinh nghiệm của một số tổ chức, quốc gia và thực trạng tình hình các tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở nớc ta trong thời gian qua, luận
án đã phân tích và luận giải một số vấn đề sau:
1. Bằng cách tiếp cận hệ thống và lôgích, luận án đã tổng hợp và
phân tích những vấn đề cơ bản về sở hữu công nghiệp, các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp, trong đó bao gồm các vấn đề liên quan đến
khái niệm, đặc điểm, những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trng của các
tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trên các phơng diện: khách
thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể của tội phạm; một số vấn đề
lý luận về đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp trên phơng diện tội phạm học. Hệ thống hóa các quy định pháp
luật hình sự về các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong luật
hình sự Việt Nam và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến
các tội nói trên. Luận án cũng đã trình bày một số điều trong Hiệp định
TRIPS, quy chế của Cộng đồng châu âu, luật hình sự của Liên bang Nga,
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Trung
Quốc trong họat động chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung, sở
các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp; ba, nhóm các nguyên nhân
và điều kiện thuộc về công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về sở hữu
công nghiệp trong đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền sở
hữu công nghiệp; và bốn, nhóm nguyên nhân và điều kiện thuộc về công
tác hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm
quyền sở hữu công nghiệp. Đặc biệt là, pháp luật về sở hữu công nghiệp
còn nhiều tồn tại, cha đồng bộ, còn mâu thuẫn, chồng chéo, không
thống nhất. Công tác quản lý nhà nớc về sở hữu công nghịêp còn nhiều
sơ hở, thiếu sót, bất cập, nhất là các cơ quan bảo vệ pháp luật còn thiếu
kiên quyết trong đấu tranh phòng, chống các vi phạm quyền sở hữu công
nghiệp, các tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nói riêng.
4. Luận án dự báo tình hình các tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp ở nớc ta, nêu lên sự cần thiết cũng nh một số quan điểm của
Đảng và nhà nớc cần nắm vững trong đấu tranh phòng chống tội phạm
này ở Việt Nam trong giai đoạn tới, và cho rằng đấu tranh phòng, chống
các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tội xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp có hiệu quả là điều kiện rất quan trọng cho sự phát triển kinh tế -
xã hội một cách bền vững, phục vụ thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nớc. tác giả đã đề xuất một hệ thống các giải pháp,