Luận văn tư tưởng hồ chí minh về chống tham nhũng và vận dụng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở việt nam hiện nay - Pdf 34

1

MỤC LỤC

Lời mở đầu..................................................................................................... 3
SƠ LƯỢC VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU....................................................... 5
1......................................................................................................................

Tính

cấp

thiết

của

đề

tài

..............................................................................................................
5
2......................................................................................................................

Mục

tiêu,

quan

điểm


nghiên

cứu

......................................................................................................
6
3.2. Thời

gian

nghiên

cứu

6
3.3. Lĩnh

vực

nghiên

cứu

6
Chương I: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ THAM NHŨNG Ở NƯỚC TA
TRONG
THỜI
GIAN
QUA

của

nhân

của

tham
tham

nhũng



nhũng



Việt

Nam

Việt

Nam

15
Chương II: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỐNG THAM
NHŨNG VÀ VẬN DỤNG VÀO CUỘC ĐẤU TRANH CHỐNG
THAM
NHŨNG

quốc, thuộc địa và chế độ tay sai bán nước để thức tỉnh quần
chúng nhân dân, tiến hành vận động cách mạng
18
1.2. Đấu tranh chống tham nhũng trong lòng chế độ mới
20
2......................................................................................................................

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phòng chống tham nhũng trong
giai
đoạn
hiện
nay
..............................................................................................................
24

2.1. Xác định bản chất tham nhũng và chủ trương biện pháp phòng,
chống
tham
nhũng
24


3

2.2. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong những năm qua và
định
hướng
của
Đảng
ta

nước

......................................................................................................
34
3.3. Đối với các tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và nhân dân
......................................................................................................
37
KẾT LUẬN....................................................................................................40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................41

----------------


4

LỜI MỞ ĐẦU
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Tham nhũng là lợi dụng quyền hành
để nhũng nhiễu dân và lấy của”. Tham nhũng là hành vi lợi dụng chức vụ,
quyền hạn, vị thế xã hội của viên chức Nhà nước để làm trái pháp luật hoặc
lợi dụng các sơ hở của pháp luật nhằm kiếm lợi cho bản thân, gây hại cho xã
hội, cho công dân. Pháp lệnh chống tham nhũng ngày 26/02/1998 cũng ghi rõ
trong điều 1: “Tham nhũng là hành vi của những người có chức vụ, quyền
hạn đã lợi dụng chức vụ và quyền hạn đó để tham ô, hối lộ hoặc cố ý làm trái
pháp luật vì động cơ vụ lợi, gây thiệt hại cho tài sản Nhà nước, tập thể và cá
nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức. Tham nhũng
là vật cản lớn nhất của tiến trình phát triển xã hội, là nguy cơ trực tiếp liên
quan đến sự sống còn của các Nhà nước”. Mặc dù được thể hiện theo những
cách khác nhau, song tham nhũng được hiểu khá thống nhất trong văn hoá
pháp lý ở các nước trên thế giới, đó là việc lợi dụng vị trí, quyền hạn thực
hiện hành vi trái pháp luật nhằm trục lợi cá nhân, hay nói một cách khác,

Tình hình đó cùng với hệ thống thủ tục hành chính rườm rà, bộ máy cồng
kềnh, tạo môi trường dung dưỡng cho tệ quan liêu tham nhũng. Hệ thống cơ
quan tư pháp, hành pháp, thanh tra, kiểm tra chất lượng và hiệu lực, hiệu quả
chưa cao.
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa về kinh tế cùng quá trình phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa ở nước ta hiện nay,
tham nhũng và chống tham nhũng đã trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã
hội. Theo tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International – TI), chỉ
số minh bạch của Chính phủ Việt Nam thấp và có chiều hướng đi xuống từ
2,8 (năm 1997) xuống còn 2,6 (năm 2005).
Đảng và Nhà nước ta xác định, tham nhũng là “quốc nạn”, là một trong
những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ và coi chống tham nhũng là
nhiệm vụ thường xuyên của tổ chức Đảng và cả hệ thống chính trị, từ đó yêu
cầu chúng ta phải tích cực và chủ động chống tham nhũng có hiệu quả. Đảng,
Nhà nước và Quốc hội đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị về việc này (Chỉ thị 15
của Bộ Chính trị; Nghị quyết 114 TTg của TT Chính phủ; Kế hoạch 493/Nc
của Chính phủ;... ).
Như vậy, Đảng, Nhà nước và nhân dân đều đồng tình kiên quyết chống
tham nhũng, nhưng tệ tham nhũng vẫn chưa được đẩy lùi. Do vậy, việc phân
tích Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ
bản chất của hiện tượng phức tạp này, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp
phòng, chống tham nhũng có hiệu quả trong tình hình hiện nay. Chính vì vậy
em đã chọn đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về chống tham nhũng và vận
dụng vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”.


6

SƠ LƯỢC VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết của đề tài



7

2. Mục tiêu, quan điểm về phòng chống tham nhũng
2.1. Mục tiêu:
Ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển
biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội; củng cố
lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đào
tạo đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính.
2.2. Quan điểm:
- Đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác phòng, chống tham nhũng, lãng
phí; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân;
thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh
tế, hình sự.
- Phòng, chống tham nhũng, lãng phí phải phục vụ nhiệm vụ phát
triển kinh tế − xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng
cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính
quyền trong sạch, vững mạnh.
- Vừa tích cực, chủ động phòng ngừa vừa kiên quyết đấu tranh chống
tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính. Gắn phòng, chống tham nhũng
lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy dân chủ, thực hành tiết
kiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu.
- Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa
lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững
chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm.
- Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chú trọng tổng kết thực
tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài.
3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Không gian nghiên cứu: Việt Nam.

đoàn"… mà các vụ được phát hiện càng về sau cứ “lớn nhất từ trước đến
nay”. Tham nhũng xuất hiện trong mọi khâu, mọi lĩnh vực, ở mọi ngành, mọi
cấp. Từ các cơ quan quản lý, các đơn vị hành chính sự nghiệp tới các doanh
nghiệp nhà nước, hiệp hội, tổ chức... Tham nhũng không loại trừ các cơ quan
bảo vệ pháp luật (tòa án, viện kiểm sát, quân đội, cảnh sát...) và thậm chí ngay
cả ở cơ quan chống tham nhũng.
Đến nay chúng ta chưa có những nghiên cứu toàn diện và bài bản để
đánh giá, đo lường mức độ tham nhũng. Tuy nhiên, trên thế giới đã có một tổ
chức làm việc đó, đó là Transparency International (TI – Tổ chức Minh bạch


9

Quốc tế). Hàng năm, tổ chức này tiến hành các công trình khảo sát nghiên
cứu ở các quốc gia (do các viện nghiên cứu độc lập triển khai), tổng hợp kết
quả, tính toán chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) và đưa ra bảng xếp hạng
minh bạch các quốc gia. Mức độ tham nhũng càng cao nếu chỉ số CPI càng
thấp.
Năm 2008, tổ chức TI tiến hành khảo sát 180 quốc gia và vùng lãnh
thổ, kết quả xếp hạng: Việt Nam đứng thứ 121, cải thiện được hai bậc so với
năm 2007 với chỉ số CPI là 2,7 điểm. Xét trong khu vực Đông Á, Việt Nam
đứng thứ 9; còn Singapore với chỉ số CPI là 9,2 điểm, đứng đầu khu vực về
độ trong sạch (đứng thứ 4 trong số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ), theo sau là
Hồng Kông và Nhật. Đáng buồn là Việt Nam luôn đứng ở nhóm cuối trong
bảng xếp hạng này và không những thế còn có xu hướng “rớt hạng”.
Nhận thức sâu sắc về tác hại của tham nhũng, Đảng và Nhà nước ta đã
ban hành nhiều chính sách, pháp luật về vấn đề này, bên cạnh đó đã tham gia
tích cực các diễn đàn quốc tế về phòng, chống tham nhũng. Sau khi Luật
phòng, chống tham nhũng có hiệu lực (01/06/2006) đã tác động đến nhận thức
và hành động của các cấp các ngành trong việc đấu tranh chống tham nhũng

hậu quả này không chỉ phải là những thiệt hại về vật chất với nhiều tỷ đồng,
mà điều quan trọng hơn, nó làm tha hoá một bộ phận của cán bộ, công chức
của bộ máy Nhà nước, trong tổ chức Đảng và các đoàn thể xã hội, làm xói
mòn lòng tin của nhân dân vào bộ máy Nhà nước, gây nên sự bất bình, oán
thán trong nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội, làm giảm hiệu
lực quản lý của Nhà nước, đe doạ sự tồn vong của quốc gia dân tộc.
Tham nhũng là tệ nạn mang tính chất toàn cầu, tuy nhiên không phải ở
bất kỳ nơi nào trên thế giới biểu hiện, tính chất, phạm vi của tham nhũng cũng
giống nhau mà ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau do đặc điểm về kinh tế,
chính trị, xã hội khác nhau. Qua nghiên cứu, có thể thấy được tham nhũng ở
Việt Nam có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, về tính chất của tham nhũng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay chưa ở mức đặc biệt nghiêm trọng so với khu vực và thế giới. Khi nói đến
tính chất của hành vi vi phạm hoặc hành vi phạm tội, người ta thường xác
định ở mức độ gây ra thiệt hại của hành vi (thiệt hại về vật chất và phi vật
chất) và quan hệ xã hội được bảo vệ bị hành vi đó xâm hại. Xét cả trên hai
bình diện này thì tham nhũng ở Việt Nam chưa đến mức trầm trọng như tham
nhũng ở một số nước trên thế giới bởi những lý do sau:
- Theo thống kê và báo cáo của các cơ quan có trách nhiệm đấu tranh
chống tham nhũng thì những thiệt hại về vật chất do tham nhũng gây ra ít hơn
rất nhiều so với những thiệt hại do các loại vi phạm khác gây ra, hàng năm
thiệt hại do tham nhũng gây ra khoảng vài trăm tỷ đồng trong khi đó thiệt hại
do những vi phạm và tội phạm khác gây ra là hàng trăm nghìn tỷ đồng. Mặt
khác, theo báo cáo của cơ quan công an thì các tội tham nhũng trong những


11

năm qua có xu hướng giảm, chẳng hạn: Năm 1997 cơ quan điều tra các cấp đã
phát hiện, khởi tố 3856 vụ án kinh tế (tăng 5,6% so với năm 1996), trong đó

Chí Minh – Vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn có liên quan đến rất nhiều
quan chức trong ngành tư pháp từ Trung ương đến địa phương, nhưng tài sản
có được do tham nhũng không nhiều (vài chục ngàn đô-la và những bữa tiệc


12

tại các nhà hàng sang trọng cho mỗi quan chức) và có nhiều quan chức chỉ bị
truy cứu trách nhiệm về hành vi thiếu trách nhiệm trong quản lý mà không bị
truy cứu trách nhiệm về các hành vi tham nhũng mà điển hình là bị cáo Bùi
Quốc Huy, nguyên Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên thứ
trưởng Bộ Công an, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng...
Cũng cần phải nói thêm là, số tài sản bị thất thoát trong các vụ án kinh tế
không phải đều là tài sản bị tham nhũng mà phần nhiều là do làm ăn thua lỗ
hoặc là hậu quả của phương thức làm ăn sai lầm của các doanh nghiệp.
Từ sự phân tích trên có thể nhận định về tính chất tham nhũng ở Việt
Nam chưa đến mức trầm trọng như lâu nay chúng ta vẫn nghĩ. Nhận thức
đúng thực trạng tham nhũng tránh được cho chúng ta hai khuynh hướng tiêu
cực: hoặc quá bi quan về nạn tham nhũng hoặc quá lạc quan về sự trong sạch
của đội ngũ cán bộ trong các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội. Vì vậy, vấn
đề nhận thức đúng bản chất của thực trạng tham nhũng có ý nghĩa hết sức to
lớn trong việc hoạch định các chính sách và biện pháp đấu tranh phòng ngừa
tham nhũng trong tình hình hiện nay, đặc biệt trong việc tuyên truyền đến
nhân dân về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng trên các phương tiện
thông tin đại chúng.
Thứ hai, tham nhũng ở nước ta chưa có các tổ chức theo kiểu Maphia
Theo cách hiểu thông thường của các quốc gia và tổ chức quốc tế về đấu
tranh chống tội phạm thì Maphia là những băng nhóm phạm tội có tổ chức
chặt chẽ, có sự phân công phối hợp khi hành động phạm tội, đồng thời việc
thực hiện tội phạm mang tính chất chuyên nghiệp (Luật hình sự gọi với các

nhiệm vụ. Điều quan trọng hơn để khẳng định ở nước ta chưa có tham nhũng
theo kiểu Maphia là những cán bộ bị xử lý về tham nhũng đều không phải là
những người chủ động, bày mưu tính kế, đều không phải là những người tổ
chức, chỉ huy, cầm đầu trong các vụ án mà chỉ là những kẻ tha hoá, biến chất,
đồng lõa, bị những kẻ phạm tội từng bước lôi kéo vào làm vai trò giúp sức
cho chúng. Vụ án Trương Văn Cam và đồng bọn mặc dù là vụ án lớn, có
nhiều quan chức tham gia nhưng tất cả họ đều chỉ là những người bị Trương
Văn Cam lôi kéo, lợi dụng, từ Dương Minh Ngọc, Nguyễn Mạnh Trung đến
Trần Mai Hạnh, Phạm Sỹ Chiến, Bùi Quốc Huy... không một ai trong số họ là
người chủ động tham gia băng nhóm tội phạm này.
Như vậy, nhìn nhận một cách khách quan thì ngoài một số cán bộ sơ,
trung cấp, còn lại thì tuyệt đại bộ phận cán bộ và đặc biệt là cán bộ cao cấp
trong Bộ máy Đảng và Nhà nước ta là những người có đạo đức phẩm chất tốt,
nhiệt tình, tâm huyết với sự nghiệp cách mạng, không cầm đầu hoặc tham gia
các đường dây tham nhũng, không chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, không
đồng lõa tiếp tay cho cho bọn tội phạm, không vòi vĩnh nhận hối lộ khi thi
hành công vụ. Ở những người này, họ luôn rèn luyện cho mình đạo đức cách
mạng, năng lực chuyên môn để phục vụ tốt cho sự nghiệp cách mạng của
Đảng, họ tự biết có những thu nhập ngoài lương (nếu có) thì như thế nào cho
trong sạch, thanh thản, biết tự kiềm chế mình trước cám dỗ vật chất, tỉnh táo
và giữ được lương tâm của mình trước những diễn biến phức tạp của đời sống


14

kinh tế thị trường. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể quá lạc quan mà mất
cảnh giác, lơ là việc chăm lo giáo dục phẩm chất và tư cách đạo đức của đội
ngũ cán bộ, công chức ở nước ta. Những phẩm chất tốt đẹp này là “tài sản”
quý giá của sự nghiệp cách mạng, của Đảng trong sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa,



15

triển của đất nước, của dân tộc. Tính phổ biến của tham nhũng Việt Nam được
biểu hiện trên các mặt sau:
- Tham nhũng bao trùm tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ở
mọi cấp mọi ngành, ở đâu người ta cũng thấy có tham nhũng và không có tiền
lót tay sẽ không giải quyết được công việc, ngay cả khi đã đầy đủ các điều
kiện và thủ tục pháp luật qui định. Nạn quà cáp biếu xén khi đến cửa quan đã
trở thành “tập quán”, phong tục trong xã hội ta. Chúng ta có thể gặp hiện
tượng này ở bất kỳ đâu nơi có hoạt động công quyền, chẳng hạn như đến Ủy
ban Nhân dân xã, phường làm giấy khai sinh cho con, chứng nhận giấy tờ...
cũng phải có quà cho cán bộ, vào cơ quan cũng phải xu nịnh bảo vệ... Đặc
điểm này đã gây nhức nhối, làm băng hoại đạo đức của cán bộ công quyền, đe
doạ sự tồn tại của Nhà nước, sự bền vững của chế độ và sự lãnh đạo của
Đảng.
- Tham nhũng không chỉ xảy ra ở cơ quan hành pháp mà còn xảy ra
nhiều ở cơ quan thanh tra, kiểm tra, cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều
tra, Viện Kiểm sát, Toà án, thi hành án). Sự tham nhũng ở các cơ quan này đã
làm cho vi phạm và tội phạm không bị phát hiện hoặc không được xử lý, bỏ
lọt tội phạm và làm oan người vô tội với những hậu quả vô cùng nặng nề. Sau
khi có Nghị Quyết 08 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, trong báo cáo của
ngành Toà án năm 2002 đã công khai những trường hợp làm oan người vô tội
(những người các cấp xét xử của toà án tuyên không phạm tội), tổng số 58
trong đó: Sơ thẩm cấp huyện 27 người; sơ thẩm cấp tỉnh 28 người; phúc thẩm
cấp tỉnh 4 người, phúc thẩm tối cao 12 người; giám đốc thẩm cấp tỉnh 3
người; giám đốc thẩm cấp tối cao 4 người. Đó là chưa kể các quyết định đình
chỉ điều tra, đình chỉ vụ án vì lý do không có tội của cơ quan điều tra, Viện
Kiểm sát.

trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa đã đặt ra yêu cầu hết sức quan trọng là
phải xây dựng một hệ thống cơ chế chính sách pháp luật đầy đủ và từng bước
hoàn thiện. Trong khi đó, mặc dù chúng ta có nhiều cố gắng nhưng việc xây
dựng thể chế pháp luật vẫn không theo kịp, mặt khác chưa phản ánh và điều
chỉnh kịp thời những vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển nền kinh tế
thị trường có định hướng. Cơ chế chính sách pháp luật trong thời kỳ đổi mới
chưa được hoàn thiện, thiếu cụ thể, còn có sơ hở và thiếu nhất quán. Việc
phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương, việc phân biệt giữa quản lý
Nhà nước và quản lý sản xuất kinh doanh còn chưa được tách bạch, rõ ràng.
Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước còn diễn ra chậm và thiếu sự
kiểm soát chặt chẽ. Cơ chế quản lý tài sản công, quản lý vốn và tài sản trong
doanh nghiệp Nhà nước chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng “vô chủ”, thiếu
trách nhiệm... Những nhược điểm đó làm nảy sinh tệ quan liêu, tham nhũng
và thiếu kỷ cương, tạo điều kiện cho tệ hối lộ, lạm dụng công quỹ, nhũng
nhiễu cấp dưới và nhân dân.


17

Thứ hai, việc kiện toàn các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị
chưa theo kịp sự phát triển của đời sống kinh tế – xã hội: Đây là một nguyên
nhân rất quan trọng của những yếu kém và bất cập trong quá trình đổi mới đất
nước, trong đó có tệ nạn tham nhũng. Một quốc gia quản lý tốt phải có bộ
máy Nhà nước tốt. Ở nước ta, sự quản lý, lãnh đạo điều hành đất nước là sự
thống nhất và phối hợp giữa vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý
của Nhà nước và sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn
thể quần chúng. Các yếu tố trong hệ thống chính trị phải thực hiện đúng vai
trò của mình thì mới phát huy được tác dụng. Hiện nay, sự lẫn lộn giữa các
yếu tố trong hệ thống chính trị vẫn chưa được khắc phục, làm giảm hiệu quả
lãnh đạo quản lý điều hành xã hội, gây ra nhiều tệ nạn trong đó có tham

sống. Không ít cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, kể cả cán bộ
lãnh đạo cao cấp, còn thiếu gương mẫu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo
đức; chưa đi đầu trong cuộc sống đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và
thực hành tiết kiệm”.
Thứ tư, việc tổ chức thực hiện các chủ trương, giải pháp về phòng,
chống tham nhũng được đề ra trong những năm qua chưa đáp ứng được nhu
cầu, hiệu quả chưa cao: Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng,
phổ biến. Đánh giá về hệ thống chính sách pháp luật về phòng, chống tham
nhũng của nước ta có thể nói đã khá tiến bộ (đánh giá của nhiều tổ chức quốc
tế), tuy nhiên, hiệu quả thực hiện chưa đáp ứng được mong muốn của các
tầng lớp nhân dân. Việc tổ chức thực hiện ở nhiều nơi, nhiều lúc còn mang
tính phong trào, chưa tạo được ý thức tự giác, thường xuyên của các cơ quan,
tổ chức, đơn vị trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Qua
các cuộc thanh tra trách nhiệm thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng cho
thấy ngoài ý thức thực hiện của các cơ quan, đơn vị còn có những khó khăn
khác về điều kiện vật chất, con người trong việc tuyên truyền, nâng cao nhận
thức về các quy định phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, nhằm
tạo tiền đề cho việc triển khai có hiệu quả trong thực tiễn.
Thứ năm, thiếu một chương trình, kế hoạch phòng, chống tham nhũng
tổng thể, dài hạn: Trước khi Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về
phòng, chống tham nhũng đến năm 2020, chúng ta chưa xây dựng được một
chương trình, kế hoạch phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng thống nhất
đồng bộ, vừa có tính chiến lược lâu dài, vừa có trọng tâm, trọng điểm trong
từng giai đoạn nhằm huy động và phối hợp sức mạnh của toàn thể bộ máy
trong phòng, chống tham nhũng.


19

CHƯƠNG II

_______________________________
(1)

Báo L’ Populaire, ngày 04/09/1919; Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 1, tr.12 – 13.


20

Trong “Bản án chế độ thực dân Pháp”, viết bằng tiếng Pháp, xuất bản
tại Paris năm 1925, Nguyễn Ái Quốc đã dành hẳn một chương để viết về nạn
tham nhũng trong bộ máy cai trị, của những kẻ tự xưng là “quan phụ mẫu” của
dân. Người vạch ra các thủ đoạn phung phí tiền của dân cho việc tham quan,
triển lãm, tiếp khách, giải trí, mua sắm biệt thự, xe cộ, các thủ đoạn rút tiền từ
việc nhận thầu các công trình xây dựng, làm đường, khai man để rút tiền công
quỹ, chi tiêu sử dụng cho riêng mình. Tệ tham ô cùng các thủ đoạn bóc lột làm
cho gánh nặng thuế khoá đè lên vai người dân thuộc địa. Trong bài báo “Văn
minh Pháp ở Đông Dương” viết bằng tiếng Đức, đăng trên tập san Inprekorr,
số 17 (1927), với bút danh A.P, Người đã tố cáo sự thối nát của thực dân Pháp
qua thú nhận của tờ L' Impartial của Pháp ở Đông Dương rằng viên thống đốc
Cônhắc đã phạm một loạt hành động tham nhũng. Cả người “Đảng viên xã
hội” Varen cũng tham gia hăng hái vào việc tham nhũng vì chỉ “vài tháng sau
khi tới Đông Dương, ông ta đã gửi về Pháp 74 hòm tặng phẩm có trọng lượng
4.810 kg và kích cỡ là 30 mét khối”. Trong bài báo “Phong trào nông dân tỉnh
Quảng Đông” viết bằng tiếng Anh ngày 16/10/1925, với bút danh Nilôpxki,
Người cũng tố cáo nạn tham nhũng trong bộ máy chính quyền cũ ở Trung
Quốc. Trong tập thơ “Nhật ký trong tù” viết bằng chữ Hán, Người tố cáo nạn
tham nhũng trong nhà tù của chế độ Tưởng Giới Thạch, qua bài Lai Tân:
“Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc. Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn
quanh. Chong đèn, huyện trưởng làm công việc. Trời đất Lai Tân vẫn thái
bình” (2).

Nam Việt Nam tham ô hơn 4.000 đô-la. Tôi đã báo cáo việc đó lên cấp trên.
Nhưng kết quả là tôi đã bị điều đến một đơn vị trực tiếp chiến đấu” (4).
Đó chỉ là những ví dụ điển hình cho thấy các chế độ thực dân, đế quốc,
thuộc địa, tay sai đều bị Hồ Chí Minh vạch trần bản chất tham nhũng, thối
nát, nhằm mục đích thức tỉnh quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh đánh
đổ những chế độ đó, xây dựng chế độ mới, tốt đẹp hơn.
1.2. Đấu tranh chống tham nhũng trong lòng chế độ mới
Sau khi cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, tiếp đến kháng
chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rồi xây dựng Chủ nghĩa
Xã hội, Hồ Chí Minh không lúc nào lơi lỏng cuộc đấu tranh chống tệ tham
nhũng ngay trong lòng chế độ mới mà Người đã sáng lập nên. Có điều, mục
tiêu đấu tranh không phải là để xoá bỏ chế độ mới mà để xây dựng, củng cố,
hoàn thiện nó. Bởi vì tham nhũng, thối nát không phải là bản chất của chế độ
mới, nó chỉ là một tệ nạn nguy hiểm, một biểu hiện cao độ của sự thoái hoá,
biến chất trong một bộ phận cán bộ, công chức trong bộ máy Nhà nước.
Chính quyền cách mạng non trẻ ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm
nhận ra căn bệnh hết sức nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ làm cho những người
có chức quyền dễ bị tha hoá biến chất, không còn là “đầy tớ của nhân dân”,
làm cho dân mất niềm tin và bất bình. Hơn một tháng sau ngày đọc Tuyên
ngôn độc lập, trong thư gửi cho ủy ban các kỳ, tỉnh, huyện và làng, Người đã
vạch ra và cảnh báo một số hành vi tham nhũng mà công chức Nhà nước dễ
mắc phải, đó là tham ô của công, đục khoét của dân, nhận hối lộ và mắc một
số sai phạm khác như: làm việc trái phép, cậy thế, hủ hoá, tư túng, chia rẽ,
kiêu ngạo, bè phái quan liêu, địa phương chủ nghĩa, hẹp hòi, quân phiệt, v.v....
Trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ cứu
nước cũng như trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đều không quên nhiệm vụ đấu tranh chống tham nhũng.
Tổng hợp các bài báo, bài nói chuyện tại các hội nghị, hoặc thư gửi các đoàn



của con người. Nhân dân lao động ta làm lụng đổ mồ hôi sôi nước mắt để
góp phần xây dựng của công – của Nhà nước và của tập thể. Của công ấy là
nền tảng vật chất của chế độ Xã hội Chủ nghĩa, là nguồn gốc chủ yếu để
nâng cao đời sống của nhân dân ta...”. Người coi bọn tham nhũng là “kẻ
địch”, là “giặc nội xâm”, hoặc ngang hàng với “kẻ phản quốc”…
Về nguyên nhân, nguồn gốc và điều kiện phát sinh tham nhũng:
Về khách quan, nguồn gốc xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, tham ô, lãng
phí là căn bệnh “tứ chứng nan y” của mọi nhà nước. Dù Nhà nước Phong
kiến, Nhà nước Tư bản hay Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa… nếu không có sự
giáo dục sâu sắc và mọi hoạt động của Nhà nước không được đặt dưới sự
kiểm tra, giám sát của nhân dân thì khó tránh khỏi tình trạng tham ô, lãng phí.
Những người có chức có quyền, dù to hay nhỏ đều có điều kiện để tham
nhũng. Người viết: “Những người trong các công sở, từ làng cho đến Chính
phủ Trung ương đều có nhiều hoặc ít quyền hành, đều có dịp phát tài hoặc


24

xoay tiền của Chính phủ, hoặc đục khoét nhân dân. Nếu không giữ cần kiệm
liêm chính, chí công, thì trở nên hủ hóa, biến thành sâu mọt của nhân dân”.
Về chủ quan, do cán bộ, công chức “vì thiếu đạo đức cách mạng, vì cá
nhân chủ nghĩa mà sinh tham ô”, Người nói: “Chủ nghĩa cá nhân như một
thứ vi trùng rất độc, nảy sinh ra các bệnh nguy hiểm như lười biếng, ngại
gian khổ, khó khăn, tham lam, trục lợi, thích địa vị, quyền hành, tham ô, hủ
hóa, lãng phí, xa hoa… Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu
tính tổ chức kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường
lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại lợi ích cách mạng, của nhân
dân. Tóm lại, do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm”. Người còn chỉ
ra rằng, có tham ô, lãng phí là vì bệnh quan liêu. Bệnh quan liêu là chỗ gieo
hạt, vun trồng cho tham ô, lãng phí nảy nở. Tham ô, lãng phí và bệnh quan

mới thật sự trong sạch, vững mạnh, mới giành được sự tin yêu thực sự của
nhân dân.
Hai là, phải thực hành dân chủ, phát huy tối đa quyền làm chủ của
nhân dân, phải biết dựa vào dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Dân chủ là
thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng,
ủy viên này khác là làm gì? Làm đầy tớ. Làm đầy tớ cho nhân dân chứ không
phải là làm quan cách mạng. Thực hiện dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có
thể giải quyết mọi khó khăn”. Người nhấn mạnh, chỉ khi nào toàn thể nhân
dân đều tham gia vào công tác quản lý, thực hiện nghiêm chỉnh và đồng bộ
phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” mới có thể chống
tham ô, lãng phí, quan liêu một cách tích cực, có hiệu quả.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi người dân phải biết phát huy quyền làm
chủ của mình, Người nói “Quan tham vì dân dại”, vì vậy, dân phải biết quyền
hạn của mình, phải biết kiểm soát cán bộ, để giúp cán bộ thực hành chữ liêm.
Nếu nhà bị mất cắp, mất trộm thì hô hoán lên và cả xóm, cả làng đuổi bắt kẻ
trộm. Khi của công bị mất cắp, mất trộm thì mọi người đều có trách nhiệm
vạch mặt kẻ gian và đưa nó ra trước pháp luật vì mọi người đều có trách
nhiệm giữ gìn của công… Của công, của Nhà nước là bất khả xâm phạm,
tham ô của công tức là xâm phạm đến lợi ích của nhân dân, tức là kẻ địch.
Cán bộ phải thi đua thực hành liêm khiết. Dùng cách thật thà tự phê bình và
phê bình để tẩy trừ những thói tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu để cùng
nhau tiến bộ… Một dân tộc biết kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật
chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ. Người nhiều lần
nhấn mạnh “kiên quyết chống tham ô là trách nhiệm chung của toàn Đảng,
toàn dân”. Thực hiện ý kiến của Người, Đảng ta đã tiến hành cuộc vận động
“Ba xây ba chống” là: “Nâng cao tinh thần trách nhiệm, Tăng cường quản lý
kinh tế tài chính, Cải tiến kỹ thuật; Chống tham ô, lãng phí, quan liêu” (phát
động vào những năm 60 của thế kỷ trước).
Ba là, không ngừng hoàn thiện bộ máy quản lý Nhà nước, đào tạo, bồi
dưỡng và nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ, công chức. Trên cở sở đó, xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status