MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài: Sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ Đảng viên không còn
là hiện tượng cá biệt mà là vấn đề nan giải và bức xúc hiện nay. Nó làm cho nhân dân lo lắng,
bất bình, ảnh hưởng xấu đến uy tín lãnh đạo của Đảng và việc thực hiện đường lối của Đảng
cũng như các chính sách, pháp luật của nhà nước. Đó là thực tế đáng lo ngại, là nguy cơ
không thể xem thường đối với chế độ của Đảng ta.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Một số tác phẩm, tác giả tiêu biểu có nghiên cứu về vấn đề này:
- “Sửa đối lối làm việc của Đảng” – Hồ Chí Minh.
-Ý nghĩa và giá trị tư tưởng “Sửa đổi lối làm việc của Đảng” – PGS.TS Lương Khắc Hiếu,
PGS.TS Phạm Văn Chúc.
- “Công tác xây dựng Đảng dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội X”- PGS.TS Lại Ngọc Hải.
- “ Đổi mới sự lãnh đạo và chỉnh đốn Đảng theo di chúc của Bác Hồ”- PGS.TS Phùng Đức
Thắng .
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chỉnh đốn
Đảng và đội ngũ cán bộ Đảng viên trong giai đoạn kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa hiện nay.
4. Ý nghĩa của đề tài:
- Tìm hiểu về giá trị tư tưởng đạo đức của Bác trong việc chỉnh đốn Đảng.
-Giúp em thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tránh những ảnh hưởng xấu từ giọng
điệu chống phá của bọn phản động. Đảng nào cũng có sai sót, khuyết điểm, điều quan trọng
là Đảng đó biết nhận ra khuyết điểm và đang tích cực hoàn thiện.
-Bản thân em rất ghét quan liêu. Em sẽ cố gắng phấn đấu đứng trong hàng ngũ của Đảng
nhằm đóng góp một phần nhỏ cho xã hội, đồng thời cũng làm giảm số cán bộ quan liêu, tham
nhũng trong bộ máy Đảng, đẩy nhanh quá trình “trong sạch hóa” của Đảng.
- Không làm ngơ trước những hiện tượng tiêu cực đang xảy ra trong trường, lớp và các tổ
chức Đoàn, Hội. Kiên quyết đấu tranh nhưng cần mềm dẻo, linh hoạt, tránh gây chia rẽ, mất
đoàn kết trong tổ chức.
1
5. Kết cấu của đề tài:
CHƯƠNG I: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Cách mạng Việt Nam đi từ tự phát đến tự giác, có tổ chức, có đường lối giác ngộ chủ
nghĩa Mác-Lênin, giành được thắng lợi to lớn là nhờ có Đảng Cộng sản Việt Nam.
I.1. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định hàng đầu đưa cách mạng VIệt Nam
đến thắng lợi
Vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa truyền thống dân tộc, Hồ
Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhưng quần chúng phải được
giác ngộ, được tổ chức và được lãnh đạo theo một đường lối đúng đắn mới trở thành lực
lượng to lớn của cách mạng – như con thuyền có người cầm lái vững vàng thì thuyền mới
vượt qua được gió to, sóng cả để đi đến bến bờ. Hồ Chí Minh nhấn mạnh “cách mệnh trước
hết phải có gì? Phải có Đảng Cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài
thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới
thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”.
Đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng cách mạng mang bản chất của giai cấp công nhân
Việt Nam, là đội tiền phong của giai cấp công nhân, có khả năng đoàn kết tập hợp các tầng
lớp nhân dân khác làm cách mạng. Đảng là đội tiền phong dũng cảm và là đội tham mưu sáng
suốt. Đảng Cộng sản Việt Nam tận tâm, tận lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, trung
thành tuyệt đối với lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào
khác ngoài lợi ích của nhân dân và của dân tộc. Mục tiêu phấn đấu của Đảng là độc lập cho
dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho mọi người.
“Muốn khỏi đi lạc hướng, quần chúng phải có đảng lãnh đạo để nhận rõ tình hình, đường
lối và định phương châm cho đúng.
Cách mạng là cuộc đầu tranh gian khổ. Kẻ địch rất mạnh. Muốn thắng lợi thì quần chúng
phải tổ chức chặt chẽ, chí khí phải kiên quyết. Vì vậy, phải có Đảng để tổ chức và giáo dục
nhân dân thành một đội quân thật mạnh, đánh kẻ địch giành chính quyền. Cách mạng thắng
lợi rồi, quần chúng vẫn cần có Đảng lãnh đạo.”
I.2. Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với
phong trào công nhân và phong trào yêu nước
Đây là quy luật hình thành và phát tiển Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời là sự bổ sung
sản Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân đồng thời là Đảng của cả dân tộc Việt Nam.
Đảng là đội tiền phong của đạo quân vô sản, Đảng tập hợp vào hàng ngũ của mình những
người “tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và quốc tế cộng sản dám hy sinh
phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng góp kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận của
Đảng”.
Tháng 2/1951, Hồ Chí Minh viết: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công
nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc là một. Chính vì Đảng là Đảng của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động cho nên nó phai là Đảng của cả dân tộc Việt Nam”.
Năm 1961, Người viêt: “Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là Đảng của
dân tộc, không thiên tư, thiên vị”.
Đảng mang bản chất giai cấp công nhân thể hiện không chỉ ở số lượng đảng viên xuất
thân từ giai cấp công nhân mà ở nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin. Mục
tiêu và đường lối của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì lý tưởng giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Đảng tuân thủ theo nguyên tắc
đảng kiểu mới của Lênin. Đảng kết nạp những người ưu tú của giai cấp công nhân, nông dân,
trí thức và các thành phần khác mà họ đã được rèn luyện, thử thách, giác ngộ về Đảng và tự
nguyện chiến đấu trong hàng ngũ của Đảng. Đảng đặc biệt chú ý giáo dục, rèn luyện đảng
viên, giác ngộ giai cấp và dân tộc, nâng cao hiểu biết chủ nghĩa Mác-Lênin. Đảng ta là sự
thống nhất giữa tính giai cấp và tính dân tộc, lợi tích của giai cấp với lợi ích của dân tộc.
4
“Nhân dân và cả dân tộc thừa nhận Đảng là người lãnh đạo duy nhất, đại biểu cho quyền lợi
cơ bản và thiết thân của mình”.
Bản chất giai cấp của Đảng còn thể hiện ở định hướng xây dựng Đảng thành Đảng gắn bó
máu thịt với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc trong mọi giai đoạn,
mọi thời kỳ của cách mạng Việt Nam vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng
con người.
I.4. Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác-Lênin “làm cốt”
Theo Hồ Chí Minh “ chỉ có Đảng nào theo lý luận cách mạng tiền phong, đảng cách
mạng mới làm nổi trách nhiệm cách mạng tiền phong”, “Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa
làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”, “Bây giờ học thuyết
người được tự do bày tỏ ý kiến của mình, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự
do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần
tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi cũng là một nghĩa vụ của mọi người.
Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm ra chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra
quyền tự do phục tùng chân lý”. Phải phát huy dân chủ nội bộ nếu không Đảng sẽ bị suy yếu
từ bên trong.
Giữa tập trung và dân chủ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là hai vế của một nguyên
tắc. Hồ Chí Minh viết: “Tập trung trên nền tảng dân chủ; Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”.
I.5.2. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đây là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng
Theo Hồ Chí Minh, đây là sự tiếp nối của nguyên tắc tập trung dân chủ. Người nói: “Tập
thể lãnh đạo là dân chủ, cá nhân phụ trách là tập trung, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách tức
là dân chủ tập trung”.
Hồ Chí Minh cho rằng: cần có tập thể lãnh đạo vì nhiều người thì thấy hết mọi việc, hiểu
hết mọi mặt của vấn đề, có nhiều kiến thức, tránh tệ bao biện, quan liêu, độc đoán, chủ quan.
Vì sao phải giao cho cá nhân phụ trách? Theo Hồ Chí Minh, việc gì đã được bàn bạc kỹ
lưỡng thì phải giao cho một người phụ trách để tránh bừa bão, lộn xộn, vô chính phủ, dễ hỏng
việc.
“Việc gì đã bàn kỹ lưỡng rồi, kế hoạch đã rõ ràng rồi, thì cần phải giao cho một người
hoặc một nhóm ít người phụ trách kế hoạch đó mà thi hành. Như thế mới có chuyên trách,
công việc mới chạy”.
I.5.3. Tự phê bình và phê bình: Đây là nguyên tắc sinh hoạt Đảng, là quy luật phát
triển Đảng
Tự phê bình là để mỗi đảng viên phải tự thấy rõ mình phát huy mặt ưu điểm, khắc phục
nhược điểm. Tự phê bình mà tốt thì mới phê bình người khác được. Đó là vũ khí sắc bén để
rèn luyện đảng viên.
Người nhấn mạnh: “Một đảng mà giấu giếm khuyết điểm đó là đảng hỏng. Một đảng có
gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét
rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là
một đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”.
Thái độ, phương pháp tự phê bình và phê bình thật đúng và nghiêm túc không phải dễ
- Trong quan hệ với dân, “Đảng không được theo đuổi quần chúng”. Đảng phải lắng
nghe, học hỏi ở dân nhưng không được theo đuôi quần chúng. Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối
làm việc viết năm 1947, Hồ Chí Minh chia dân làm ba hạng: hạng hăng hái, hạng vừa vừa,
hạng kém hoặc ba lớp: lớp tiên tiến, lớp chừng chừng, lớp lạc hậu. Trách nhiệm của Đảng là
để dân đạt hạng hăng hái hoặc lớp tiên tiến.
I.7. Đảng Cộng sản Việt nam phải thường xuyên chỉnh đốn, tự đổi mới cho Đảng thật sự
trong sạch, vững mạnh
7
Đảng là đạo đức, là văn minh, tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc.
Đảng phải thường xuyên tự đổi mới trong điều kiện Đảng cầm quyền. Chỉnh đốn Đảng cần
chú ý nhưng vấn đề sau:
- Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là người lãnh đạo
của nhân dân.
- Cán bộ đảng viên phải toán tâm toàn ý phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, có đức,
có tài.
- Chú ý khắc phục tiêu cực, luôn giữ gìn Đảng trong sạch, vững mạnh.
- Đảng phải vươn lên đáp ứng yêu cầu tình hình và nhiệm vụ mới.
8
CHƯƠNG II: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ VIỆC ĐỔI MỚI VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG HIỆN NAY
II.1. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành
động
Mục tiêu của cách mạng Việt Nam mà Hồ Chí Minh cùng toàn Đảng lãnh đạo nhân dân ta
phấn đấu để đạt tới là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Trên con đường để đạt mục
tiêu đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng phải dựa vào lý luận cách mạng và khoa học của chủ
nghĩa Mác-Lênin. Nhiệm vụ chủ yếu của Đảng Cộng sản cầm quyền là lãnh đạo toàn thể
nhân dân xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Học thuyết Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội
khoa học chính là sự định hướng cho cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh việc Đảng Công sản Việt Nam phải lấy chủ nghĩa
Mác-Lênin làm nền tảng tử tưởng và kim chỉ nam cho hành động.
khác C.Mác, Ph.Ănghen, Lênin là sáng tạo. Cũng không thể cứ “lắp ghép” nguyên lý của các
nhà sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học với cái mới hiện nay là có ngay sự kế thừa sáng
tạo và nâng lý luận của các ông lên một tầm cao mới.
Sự nghiệp đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng ta phải kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin, vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa ấy vào điều kiện cụ thể của Việt nam. Mọi biểu hiện từ bỏ học
thuyết cách mạng và khoa học này đều chỉ dẫn đến sự thất bại đối với sự nghiệp cách mạng
nước ta và làm cho Đảng biến chất, không còn là Đảng Cộng sản nữa.
II.2. Thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức chặt chẽ cao nhất của giai cấp công nhân. Vì vậy
Đảng phải tuân thủ những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt nhất định mà nếu vi phạm thì
Đảng sẽ bị suy yếu và tan rã. Trong công tác xây dựng Đảng nói chung, Hồ Chí Minh đề cập
nhiều nguyên tắc. Những nguyên tắc đó đều xuất phát từ học thuyết Mác-Lênin về xây dựng
đảng kiểu mới của giai cấp vo sản. Trong phạm vi của chương trình lý luận cao cấp, xin đề
cập ba nguyên tắc.
Một là, tập trung dân chủ.
Trong học thuyết của Lênin về Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, nguyên tắc cơ bản. Hồ
Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc này và chỉ rõ tập trung và dân chủ gắn bó chặt chẽ
với nhau. Mối quan hệ đó được Hồ Chí Minh diễn đạt bằng các vế sau đây:
- “Tập trung trên nền tảng dân chủ”.
- “Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung”.
Như vậy, chúng ta không được tách rời và càng không được đối lập hai vế của một
nguyên tắc, không thể coi “tập trung” và “dân chủ” như lửa vớ nước như một số phần tử
chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta rêu rao.
Hồ Chí Minh xác định dân chủ là tạo mọi điều kiện cho tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến
để đóng góp cho Đảng. Người nhấn mạh: “Phải thật sự mở rộng dân chủ để tất cả đảng viên
bày tỏ hết ý kiến của mình; phải gom góp ý kiếm của đảng viên để giúp đỡ Trung ương chuẩn
bị Đại hội Đảng cho thật tốt”.
Tập trung trong Đảng phải trên cơ sở của bảo đảm dân chủ, nghĩa là dân chủ càng tốt thì
tập trung sẽ đúng hơn. Hồ Chí Minh quan niệm tập trung trong tổ chức và sinh hoạt Đảng
Việc gì đã được đông người bàn bạc kỹ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ ràng rồi, thì cần phải
giao cho một người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành. Như thế
mới có chuyên trách, công việc mới chạy.
Nếu không có cá nhân phụ trách, thi sẽ sinh cái tệ người này ủy cho người kia, người kia
ủy cho người nọ, kết quả là không ai thi hành. Như thế thì việc gì cũng không xong. Tục ngữ
có câu: “Nhiều sãi không ai đóng cửa chùa” là như thế.
Theo Hồ Chí Minh, trong công tác xây dựng Đảng, không được phép vin vào “cá nhân
phụ trách” để lấn át tập thể hoặc không phải việc gì nhỏ nhặt, vụn vặt, một người vẫn có thể
giải quyết được cũng đưa ra bàn. Nguyên tắc này, càng có ý nghĩa trong thời kì hiện nay, khi
đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, hình thành cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, khi công tác xây dựng Đảng được coi là then chốt, xây dựng kinh tế là trung tâm, khi
mà trách nhiệm của cá nhân và của tập thể tổ chức Đảng được phát huy tác dụng rõ rệt hơn
bao giờ hết.
11
Ba là, nguyên tắc tự phê bình và phê bình
Hồ Chí Minh có nhiều cách gọi về tự phê bình và phê bình. Có lúc Người đặt phê bình
lên trước tự phê bình, nhưng nhiều hơn cả là tự phê bình đặt trước phê bình. Có lúc Người
gọi tự phê bình và phê binh là “luật” hoặc “quy luật phát triển” của Đảng, là “vũ khí sắc bén”
trong công tác xây dựng Đảng. Xét về nội dung, chúng ta có thể coi vấn đề này có tính
nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng nói chung và trong giai đoạn Đảng cầm quyền nói
riêng.
Tại sao trong Đảng lại phải thường xuyên tự phê bình và phê bình? Hồ Chí Minh chỉ rõ,
Đảng ta bao gồm đủ các tầng lớp xã hội, có nhiều tính cách rất trung thành, rất kiên quyết, rất
vĩ đại, song trong Đảng ta cũng không tránh khỏi những tập tục, những tính nết, những
khuyết điểm của xã hội bên ngoài lây ngấm vào Đảng. Đảng ta gồm những người có đức, có
tài. Phần đông những người hăng hái nhất, thông minh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết dũng
cảm nhất đều ở Đảng ta. Tuy vậy, không phải là người người đều tốt, việc việc đều hay. Hồ
Chí Minh còn cho rằng, người dời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm;
mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng. Do vậy, mục đích tự phê bình và phê
bình là để làm cho phần xấu bị mất dần đi, thang thuốc hay nhất là thiết thực tự phê bình và
Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở.
II.4. Xây dựng đội ngũ cán bộ
“Cán bộ” ở đây được quan niệm là cán bộ cách mạng trong điều kiện Đảng cầm quyền,
mà thường số đông cán bộ là đảng viên. Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vị trí, vai trò của đội
ngũ cán bộ, cho rằng: cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay nhất
thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.
Những yêu cầu đối với cán bộ cách mạng được Hồ Chí Minh chỉ ra một cách cụ thể, tập
trung trên những vấn đề chính sau đây:
- Cán bộ phải là người tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, không
phải làm cán bộ để “thăng quan phát tài”, để làm “quan cách mạng”, mà để là người lãnh đạo,
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
- Người cán bộ trước hết phải có “đức”. Phải vừa có đức vừa có tài nhưng đức là gốc.
“Đức” ở đây là sự tổng hợp của rất nhiều yếu tố, những Hồ Chí Minh nhấn mạnh người cán
bộ phải là người không vi phạm khuyết điểm tham ô, lãng phí, quan liêu mà Người gọi những
khuyết điểm đó là “giặc nội xâm”, loại giặc này còn nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm. Người
cán bộ, theo Hồ Chí Minh, phải là những người “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di,
uy vũ bất năng khuất”.
- Cán bộ là người có năng lực tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, nghị
quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hồ Chí Minh coi người cán bộ là dây chuyền của
bộ máy. Đường lối, chủ trương, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của
các đoàn thể chính trị - xã hội sẽ không biến thành hiện thực, sẽ chỉ nằm trên giáy khi không
có những cán bộ về năng lực tổ chức triển khai thực hiện nó.
- Cán bộ trong giai đoạn Đảng cầm quyền càng phải liên hệ mật thiết với nhân dân. Hồ
Chí Minh phê phán nhiều cán bộ “vác mặt quan cách mệnh” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”,
“dán trên trán hai chữ cộng sản” để lòe dân.
- Cán bộ phải là người luôn luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt: về lý luận
Mác-Lênin, về nhận thức đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước về
chuyên môn nghiệp vụ. Việc học tập được Hồ Chí Minh nhấn mạnh là công việc thường
xuyên, học mọi lúc mọi nơi, cả trên ghế nhà trường, tự học, học trong thực tế.
- Cán bộ phải có phong cách công tác tốt, chống bệnh quan liêu, đại khái, phô trương
này là nhưng khâu liên hoàn những khi đã đề bạt rồi thì phải kiểm tra, giám sát để giúp cán
bộ phát huy ưu điêm, sửa chữa khuyết điểm chứ khong khoán trắng công việc cho họ.
II.5. Tăng cường công tác kiểm tra trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng
Hồ Chí Minh coi trọng công tác kiểm tra trong xây dựng Đảng. Người cho rằng: khi đã có
chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức công
việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra, nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy
cũng vô ích.
Có tăng cường kiểm tra thì mới giữa nghiêm kỷ luật Đảng, mới bảo đảm cho đường lối,
chủ trương, nghị quyết của Đảng được thực hiện một cách đầy đủ và đúng đắn, mới bảo đảm
sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và
lực lượng to lớn của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa
và giúp đỡ họ kịp thời. Hồ Chí Minh phê bình nhiều cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo
14
nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, nhưng họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực
hành đến đâu, có những khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không bởi vì
họ quên mất kiểm tra. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: nếu tổ chức việc kiểm tra chu đáo thì cũng
như chúng ta đã có ngọn đèn pha, bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm,
bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ; có thể nói rằng chín phần mười khuyết điểm trong
công việc chúng ta thiếu là sự kiểm tra. Hồ Chí Minh cho rằng, nểu tổ chức kiểm tra được
tiến hành chu đáo thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mời, gấp trăm.
Trong công tác kiểm tra, Hồ Chí Minh lưu ý những vấn đề sau đây:
- Công tác kiểm tra phải toàn diện: kiểm tra việc và kiểm tra người trong việc chấp
hành ĐIều lệ, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Kiểm tra phải kịp thời, khi đã có nghị quyết, thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành
nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương
ấy. Có như thế mới kịp thời thấy rõ khuyết điểm và những khó khăn để sửa đổi các khuyết
điểm và tìm cách vượt qua khó khăn.
- Kiểm tra phải chính xác, công minh, khách quan. Hồ Chí Minh cho rằng, kiểm tra
không nên chỉ bằng việc căn cứ vào các tờ báo cáo mà phải đi đến tận nơi. Ở đây, cần phải
nêu cao trách nhiệm của cán bộ làm công tác kiểm tra. Cán bộ kiểm tra phải là những người
sự nghiệp đổi mới, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh càng phải được nhận thức
một cách sâu sắc để vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta hiện nay. Tình hình
thực tế thật vô cùng phong phú, nhất là trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
đòi hỏi Đảng phải luôn luôn tổng kết để hoạch định đường lối một cách đúng đắn. Sai lầm về
đường lối là một sai lầm nguy hiểm nhất đối với một Đảng cộng sản cầm quyền.
Thứ hai, sức mạnh của một đảng chính trị và của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền
còn ở lĩnh vực tư tưởng. Vì thế, xây dựng Đảng ta về tư tưởng vẫn luôn luôn là vấn đề cấp
thiết đặt ra. Đảng ta phải là một khối thống nhất về tư tưởng và hành động. Toàn Đảng, từ
Trung ương đến cơ sở, mọi cán bộ, đảng viên phải kien định lập trường, không hoang mang,
dao động, phải kiên trì mục tiêu và lý tưởng của mình. Là người cộng sản, là lãnh tụ của
Đảng ta, trải qua nhiều cam go, thử thách nghiệt ngã, Hồ Chí Minh đã dày công giáo dục, rèn
luyện cho mỗi đảng viên và toàn Đảng thấm nhuần lý tưởng cộng sản chủ nghĩa. Hiện nay,
đứng trước thời cơ và thách thức mới, Đảng cần tiếp tục kiên định lập trường nhằm nâng cao
tinh thần trách nhiệm lãnh đạo đất nước thực hiện thành công xây dựng chủ nghĩa xã hội đáp
ứng lòng mong mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ ba, Đảng mạnh là do tổ chức mạnh. Xây dựng Đảng ta vững manh, xứng đáng là đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đại diện trung thành cho lợi tích của giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và toàn dân tộc đỏi hỏi phải tuân thủ những nguyên tắc tổ chức và sinh
hoạt Đảng. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay còn
yêu cầu Đảng phải lãnh đạo cuộc đấu tranh đề phòng và khắc phục những nguy cơ của Đảng
cầm quyền: quan liêu, tham nhung ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự vừa là
người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng phải đổi mới phương
thức lãnh đạo của mình đối với Nhà nước và các đoàn thể để vừa bảo đảm được sự lãnh đạo
của Đảng cầm quyền trong hệ thống chính trị, vừa phát huy được vai trò quản lý của Nhà
nước, quyền làm chủ của nhân dân.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn phải,
bằng hành động thực tế, thể hiện vai trò cực kỳ quan trọng của Đảng trong đời sống xã hội
như chính bản thân Hồ Chí Minh đã xác định một cách nhất quán trong cả cuộc đời hoạt động
của mình. Càng trong cơ chế thị trường, càng gần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bởi vì sự
lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định cho sự thằng lợi của cách mạng Việt Nam.
hệ máu thịt giữa Đảng và nhân dân. Người đã nói: “Nhân dân giúp đỡ xây dựng Đảng bằng
cách hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ
tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của
mình”. Đốiv với những ý kiến phê bình dúng của quần chúng thì các tổ chức Đảng tiếp thu
nghiêm túc và có biện phấp sửa chữa. Đối với những ý kiến không đúng thì phân tích và giải
thích đầy đủ với thái độ thực sự “trọng dân” và có ý thức trách nhiệm. Nhấn mạnh vai trò và
tác dụng của quần chúng không có nghĩa là coi nhẹ sự hoạt động và sinh hoạt của các tổ chức
Đảng và cũng không thể lấy phê bình của quần chúng thay cho tự phê bình và phê bình trong
Đảng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới và chỉnh đốn Đảng luôn luôn là một di sản vô giá để
làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh.
18
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bài giảng Tư tưởng Hồ Chí Minh
Trường ĐH Bách Khoa HN - NXB Văn học, 2007
2. Giáo tình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Bộ Giáo dục & Đào tạo - NXB Chính trị Quốc gia, 2009
3. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh
Học viện Chính trị Quôc gia Hồ Chí Minh - NXB Lý luận chính trị, 2006
4. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam: www.dangcong san .vn
5. Tạp chí Cộng sản điện tử: www. tapchicongsan .org.vn
6. Tạp chí Xây dựng Đảng: www.xaydungdang.org.vn
19