A. LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ thời cổ đại các học giả thời kỳ đó đã băn khoăn, trăn trở
trước hàng loạt những câu hỏi: Tại sao con người lại phạm tội? Lý do nào
thúc đẩy con người phạm tội hay nguyên nhân của tội phạm là gì? Đến
khi Tội phạm học hình thành và phát triển, những nghi vấn trên vẫn tồn
tại và là một đề tài cho các nhà khoa học tiếp tục tranh luận và nghiên cứu
về nó. Việc nghiên cứu Nguyên nhân của tội phạm đóng vai trò đặc biệt
quan trọng trong Tội phạm học nói chung. Nghiên cứu các vấn đề Nguyên
nhân của tội phạm có thể xây dựng được các giải pháp phòng ngừa tội
phạm sát với thực tế, có thể hạn chế hoặc loại trừ được nguyên nhân phát
sinh tội phạm, ngăn chặn một cách có hiệu quả tội phạm xảy ra trong xã
hội. Xuất phát từ yêu cầu cầu của đề tài: “Trên cơ sở nghiên cứu về một
luận văn thạc sỹ về Tội phạm học, hãy trình bày tóm tắt kết quả nghiên
cứu của tác giả đó về tội phạm học và rút nhận xét cá nhân về kết quả
nghiên cứu đó”, em xin lựa chọn luận văn thạc sĩ luật học: “Đấu tranh,
phòng chống Tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam hiện
nay”(năm 2009) của thầy Đào Bá Sơn để tiến hành nghiên cứu.
B. NỘI DUNG
I. TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
Trong tội phạm học, tội phạm là một hiện tượng mang các tính chất
cá nhân và xã hội.Vì thế khi nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm
cần nghiên cứu các nguyên nhân bắt nguồn từ phía xã hội và nguyên
nhân xuất phát từ phía cá nhân người phạm tội, sự tác động của nguyên
nhân xã hội dẫn đến nhân cách không tốt của cá nhân người phạm tội, từ
đó làm phát sinh tội phạm; bên cạnh đó cần tìm hiểu cả tình huống cụ thể
bởi vì trong nhiều trường hợp tình huống đóng vai trò như là nguyên
nhân phát sinh của tội phạm. Có thể hiểu nguyên nhân của tội phạm như
sau : “Nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác
Quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa một số vùng địa phương đã
làm cho người dân bị mất đất làm ruộng, nhiều người nông dân không có
cơ hội được đào tạo nghề , bỗng dưng trở nên thất nghiệp, trở thành lao
động dư thừa ở địa phương. Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, thu
nhập thấp đã làm cho cuộc sống một bộ phận người dân trở nên khó khăn.
Để thoát khỏi cuộc sống khó khăn, nghèo đói, nhiều người đã chấp nhận
làm những việc phi pháp để có thu nhập như: chở hàng lậu thuê qua biên
giới, chở gỗ lậu thuê, chở than thổ phỉ thuê, phá rừng,buôn bán hàng cấm,
… Khi gặp phải cơ quan chức năng, họ đã liều lĩnh chống lại người thi
hành công vụ để giành giật hoặc tẩu tán hàng phạm pháp. Trong luận văn
của mình tác giả đã lấy ví dụ chứng minh:
Ví dụ 1: Theo bản án hình sự sơ thẩm số 25/2005/HSST ngày
14/4/2005 của Tòa án nhân dân huyện HNT tỉnh BT, Nguyễn Thanh
Long, làm ruộng và thuộc gia đình nghèo, bố mẹ và anh chị đều là nông
dân. Do thu nhập từ nghề làm ruộng không đủ sống, Nguyễn Thanh Long
phải làm thêm nhiều nghề khác nhau như cày , cuốc thuê, lái xe ôm…
Nguyễn Thanh Long đã nhận chở gỗ lậu thuê (do lâm tặc đã chặt xong để
ở trong rừng) để lấy tiền trang trải cuộc sống. Khi xe bò của Long chở gỗ
trong rùng ra thì bị lực lượng Kiểm lâm phát hiện, Long đã có hành vi
chống người thi hành công vụ nhằm tẩu tán số gỗ chuyên chở cũng như
mấy con bò chở gỗ. Cụ thể Long có các hành vi như la hét,chửi bới,giật
cây rựa chống đối quyết liệt lực lượng Kiểm lâm.
Ví dụ 2: Theo bản án hình sự sơ thẩm số 66 (2006) HSST ngày
23/5/2006 của Tòa án nhân dân thị xã HB, tỉnh HB, Mai Thị Loan, không
có nghề nghiệp và đang phải nuôi 3 con nhỏ. Loan đã có bán trái phép
một gói Heroin với giá 40.000đ cho Lê Thế Tháp. Khi bị tổ công tác làm
nhiệm vụ tuần tra phát hiện bắt giữ, Loan đã một tay cầm mía, một tay
cầm dao chống người thi hành công vụ. Mặc dù tổ công tác đã giải thích,
3
4
xét duyệt ồ ạt, không tính đến tính khả thi của dự án. Bên cạnh đó cũng
không tránh khỏi việc phê duyệt dự án do trục lợi của một số cán bộ lãnh
đạo địa phương. Quá trình triển khai công nghiệp hóa, đô thị hóa ồ ạt,
thiếu qui hoạch đồng bộ ở một số địa phương đã tác động đến tâm lý, đời
sống người nông dân,… Nhiều nông dân mất đất sản xuất cho các dự án
trong khi việc đền bù, giải phóng mặt bằng có nhiều yếu tố tiêu cực, đặc
biệt việc đền bù đất nông nghiệp cho nông dân thì rẻ mạt, nhưng sau khi
làm cơ sở hạ tầng một cách qua loa, chiếu lệ thì đất đó lại được bán với
giá cao. Điều đã đẩy nhiều người nông dân vào tình trạng bần cùng, từ đó
bức xúc, không kiềm chế được dẫn đến hành vi chống người thi hành
công vụ.
Tác giả có lấy ví dụ (theo Bản án hình sự số 216/2006/HSST của
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội) thì :Gần 400 người dân xã Kim nỗ,
huyên ĐA, thành phố HN vào ngày 13/12/2004 đã sử dụng cờ tổ
quốc,biểu ngữ, khẩu hiệu, các bao tải đựng gạch đá, cát sỏi, sử dụng gậy
gộc, giáo mác, lốp xe hỏng, xăng dầu và la hét tấn công lại lực lượng
cảnh sát nhân dân và lực lượng vệ sĩ(100 người) bảo vệ cho việc thi công
dự án sân golf tại đây,có thể xem là một trường hợp điển hình của sự
phản đối đã làm 24 cán bộ chiến sĩ Cảnh sát nhân dân bị thương,24 đến
41%.
3. Nguyên nhân,điều kiện thuộc về yếu kém của người thi hành công
vụ và người quản lý.
Trình độ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của một số
người thi hành công vụ hạn chế, thái độ ứng xử với người dân thiếu minh
bạch, có dấu hiệu tham nhũng tư lợi,không khách quan hoặc thiếu cương
quyết làm cho người dân cảm thấy mình bị thiệt thòi, dẫn đến bất bình, từ
đó có hành vi chống đối người thi hành công vụ mà trong đó, người thi
quan quản lý địa phương giải quyết thỏa đáng. Do vậy, một số người đã
không kiềm chế được mà có hành vi chống đối người thi hành công vụ.
Trong 210 trường hợp mà tác giả nghiên cứu, số người phạm tội mà
6
người thi hành công vụ có lỗi thuộc trường hợp này là 11 vụ chiếm tỉ lệ
5,2 %. Tác giả lấy một ví dụ minh chứng trong Hồ sơ số 190/041050/03… (trang 39,40 luận văn) .
Công tác tiếp nhận đơn thư, khiếu kiện của dân, công tác tiếp dân,
giải quyết đơn thư,… của công dân ở một số địa phương, một số cơ quan
bảo vệ pháp luật bị coi nhẹ. Nhiều người dân bức xúc, nổi nóng và thực
hiện hành vi chống người thi hành công vụ. Trong 210 bản án mà tác giả
nghiên cứu có 20 vụ thuộc trường hợp này, chiếm tỉ lệ 9,5%. Để minh
chứng tác giả đưa ra một ví dụ trong Bản án hình sự sơ thẩm số
18/2002/HSST của Tòa án nhân dân huyện QT,tỉnh QB (trang41 luận
văn).
Một yếu kém khác cũng là yếu tố dẫn đến việc chống người thi
hành công vụ là việc thiếu trách nhiệm của cấp trên kiểm tra, giám sát
việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức cấp dưới, chưa cương quyết
xử lý sai sót của cấp dưới,… Từ đó góp phần tác động đến sự phát sinh
các hành vi chống người thi hành công vụ.
Tóm lại, tất cả các sai sót liên quan dến năng lực chuyên môn,
phẩm chất đạo đức, trách nhiệm của người thi hành công vụ ở các khâu
của quá trình quản lý Nhà nước trong nhiều năm qua trên tất cả các mặt
đời sống xã hội đã tạo thành môi trường xã hội tiêu cực, một yếu tố làm
phát sinh tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ ở nước ta.
4. Nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu kém trong công tác xử lý vi
phạm và tội phạm chống người thi hành công vụ.
Việc xử lý vi phạm nói chung (trong đó có vi phạm chống người thi
hành công vụ, của một số cơ quan có thẩm quyền còn chưa cương quyết,
“Hồ sơ số 17A/2005/NB” và vụ thứ hai nằm trong “Báo cáo tình hình và
kết quả xử lý các vụ chống người thi hành công vụ của công an tỉnh NB”.
Tóm lại, việc xử lý hành vi chống người thi hành công vụ ở một số
địa phương chưa thực sự nghiêm điều này đã tác động, ảnh hưởng nhất
8
định đến tâm lý của người phạm tội làm cho những người này coi thường
pháp luật, từ đó có hành vi chống đối người thi hành công vụ.
II. NHẬN XÉT VIỆC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
1. Ưu điểm
*Về hình thức trình bày:
Cách trình bày các mục và tiểu mục trong Chương II của tác giả
cũng như toàn luận văn được sắp xếp một cách hợp lý, khoa học. Tác giả
sử dụng cấu trúc đánh số hỗn hợp cho một bài luận văn không phải quá
dài là tương đối phù hợp, cách trình bày này giúp người đọc tiếp cận một
cách dễ dàng và hình dung được kết cấu, những gì tác giả muốn trình bày
về nguyên nhân của tội phạm trong luận văn.
* Vế nội dung trình bày:
Thứ nhất, phần trình bày về nguyên nhân của tội phạm tội chống
người thi hành công vụ của tác giả mang tính khoa học biện chứng cao.
Tác giả đã thông qua việc nghiên cứu các vụ án thực tế, cụ thể là 210 bản
án trên thực tế. Xem xét từng bản án để tìm ra nguyên nhân phạm tội của
loại tội phạm này. Sau đó tác giả phân loại chúng theo các nhóm nguyên
nhân, rồi tiến hành tổng hợp và tìm ra tỉ lệ phần trăm cụ thể của từng
nguyên nhân được nêu trong tổng số 210 bản án đã được nghiên cứu.Việc
tiến hành nghiên cứu thực tế nên các số liệu thống kê khi trình bày
nguyên nhân của tội phạm trong luận văn của tác giả rất có tính thuyết
hiện chính sách của Nhà nước”.
Thứ hai, tác giả sử dụng hai thuật ngữ chuyên nghành là “nguyên
nhân” và “điều kiện” hai thuật ngữ này riêng biệt về nghĩa tuy nhiên khi
trình bày tác giả lại trình bày chung nên gây ra cảm giác không phân biệt
được đâu là nguyên nhân, đâu là điều kiện. Theo quan điểm nhóm nên chỉ
sử dụng một thuật ngữ duy nhất là “nguyên nhân” của tội phạm trong bài
luận văn. Còn nếu để dễ hiểu hơn tác giả nên tách bạch hai thuật ngữ này
khi phân tích cụ thể.
10
Thứ ba, ở nguyên nhân thứ 4 tác giả có nêu “Nguyên nhân, điều
kiện thuộc về yếu kém trong công tác xử lý vi phạm và tội phạm chống
người thi hành công vụ”. Rõ ràng cách đặt tiêu mục cho nguyên nhân thứ
4 này của tác giả gây cảm giác khó hiểu ,không rõ ý. Nếu chưa tìm hiểu
nội dung thì rõ ràng khi nhìn vào đề mục nguyên nhân thứ 4 này thì dễ
hiểu rằng tác giả muốn trình bày nguyên nhân thuộc về công tác xử lý vi
phạm và thứ hai là tác giả sẽ trình bày về tội phạm chống người thi hành
công vụ là hai phần riêng biệt. Theo nhóm nên sửa lại tiêu mục cho dễ
hiểu ý của tác giả như sau : “Nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu kém
trong công tác xử lý vi phạm nói chung và xử lý tội phạm chống người thi
hành công vụ nói riêng”.Như vậy thì sẽ đúng với những gì tác giả trình
bày trong luận văn hơn. Hoặc sửa : Nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu
kém trong công tác xử lý vi phạm trong đó có công tác xử lý tội phạm
chống người thi hành công vụ”.
* Về nội dung trình bày:
Thứ nhất, tác giả có đi sâu phân tích quan điểm lý luận và các ví dụ
có tính thuyết phục. Tuy nhiên tác giả mới chỉ trình bày ở góc độ nêu
nguyên nhân và đưa ra ví dụ tình huống cụ thể, tác giả vẫn chưa làm rõ
ra một số quan điểm về hạn chế trong phần trình bày nguyên nhân tội
phạm của thầy tuy nhiên về tổng thể thì em đánh giá cao luận văn của
thầy.
C.KẾT LUẬN
Cùng với sự phát triển ngày một mạnh của nền kinh tế thị trường thì
trong đời sống xã hội vấn đề gia tăng tội phạm hình sự đang làm đau đầu
các nhà quản lý và ngành chức năng. Những vụ án hình sự ngày càng gia
tăng về cả số lượng và tính chất nguy hiểm ngày càng cao vì thế nó đang
là hồi chuông cảnh tỉnh đối với toàn xã hội. Việc tìm ra Nguyên nhân tội
phạm đã và đang đóng một vai trò không nhỏ trong việc ngăn chặn tình
hình tội phạm hiện nay và tìm ra các biện pháp hữu ích nhằm giảm thiếu
tối đa tình hình tội phạm.
12
Tài liệu tham khảo
1. Luận văn thạc sĩ luật học Đấu tranh, phòng chống Tội chống
người thi hành công vụ ở Việt Nam hiện nay - Đào Bá Sơn( năm 2009)
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tội phạm học, Nxb. CAND,
Hà Nội, 2011.
3. Dương Tuyết Miên (chủ biên), Giáo trình tội phạm học, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 2010.
13