thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên địa bàn tỉnh trà vinh - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA (2011-2015)
Đề tài:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG
TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG
VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

TS. PHẠM VĂN BEO

TRẦN VĂN THỐ

Bộ Môn: Luật Tư Pháp

MSSV: 5115846
Lớp: Tư pháp 1- K37
Cần Thơ, tháng 11, năm 2014


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh


GVHD: TS. Phạm Văn Beo

SVTH: Trần Văn Thố


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

............................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................
.......................................................................................................................................

1.1.2.2. Chủ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính........................8
1.1.2.3. Khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính .................8
1.1.2.4. Chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.....................8
1.2. KHÁI QUÁT VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ ...................9
1.2.1. Khái niệm về tội chống người thi hành công vụ ........................................... 9
1.2.1.1. Khái niệm “người thi hành công vụ” .......................................................9
1.2.1.2. Khái niệm “tội chống người thi hành công vụ”......................................10
1.2.2. Đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ ......................................... 11
1.3. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM...................................................................13
1.3.1. Giai đoạn trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 ......................... 13
1.3.2. Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 ........................................... 13
1.3.3. Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay ............................ 14
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

SVTH: Trần Văn Thố


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

1.4. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH
CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM .........................................15
CHƯƠNG II. TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH .....................................................................................17
2.1. TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH........................................................................................17
2.2. DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
THEO LUẬT HÌNH SỰ 1999..................................................................................18
2.2.1. Khách thể của tội phạm chống người thi hành công vụ ............................ 18

Bộ luật Hình sự ..................................................................................................................... 42
2.4.2.1. Về khái niệm ..........................................................................................42
2.4.2.2. Về dấu hiệu pháp ...................................................................................42
CHƯƠNG III. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG
TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ
VINH ............................................................................................................................45
3.1. VÀI NÉT VỀ THỰC TRẠNG, DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM CHỐNG
NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN CẢ NƯỚC..............................45
3.2. THỰC TRẠNG VÀ DIỄN BIẾN CỦA TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI
HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH ........................................48
3.3. DỰ BÁO TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH TRONG THỜI GIAN TỚI...........................62
3.4. NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CHỐNG
NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH..................62
3.4.1. Những hạn chế của quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng
pháp luật ............................................................................................................................. 62
3.4.1.1. Những bất cập của quy định pháp luật hiện hành ..................................62
3.4.1.2. Bất cập trong áp dụng pháp luật............................................................65
3.4.2. Các nguyên nhân và điều kiện khác ............................................................. 66
3.4.2.1. Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến vấn đề kinh tế xã hội ...............66
3.4.2.2. Nguyên nhân và điều kiện liên quan tới vấn đề quản lý xã hội ...............68
3.4.2.3. Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến vấn đề văn hóa giáo dục và ý
thức pháp luật của người dân..............................................................................70
3.4.2.4. Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến hoạt động của các cơ quan bảo
vệ pháp luật.........................................................................................................71

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

SVTH: Trần Văn Thố


duy”, tạo nền thuận lợi cho các kỳ đại hội sau này, đã đề ra đường lối đổi mới đất nước
một cách toàn diện, sâu sắc. Đại hội xác định xoá bỏ cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu bao cấp, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa có sự điều tiết của nhà nước. Nhờ đó mà trong những năm tiếp theo đất nước ta
không ngừng phát triển về mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội…
Trong công cuộc đổi mới của đất nước, không chỉ thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh….mà các tỉnh khác cũng không ngừng phấn đấu phát triển để trở thành những
trung tâm kinh tế, văn hóa của đất nước, trong đó có tỉnh Trà Vinh. Trà Vinh nằm trong
khu vực đồng bằng Sông Cửu Long, với diện tích 2. 215km2, dân số 1.015 triệu người
(2012) tuy vị trí địa lí không thật sự thuận lợi nhưng tỉnh Trà Vinh vẫn có một số lợi thế
nhất định so với các tỉnh khác trong khu vực như: Dự án đầu tư công trình Luồng cho tàu
biển có trọng tải lớn vào sông Hậu (kênh Quan Chánh Bố), Trung tâm điện lực Duyên
Hải công suất dự kiến 4.400 MW, Dự án nâng cấp mở rộng các tuyến quốc lộ 53-54-60
rút ngắn thời gian và khoảng cách giữa Trà Vinh với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
khác trong khu vực,…tất cả các công trình trên đang được thực hiện một cách khẩn
trương và khi những công trình đó hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các
mặt của đời sống kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, sự phát triển của nền kinh tế cũng kéo theo những tiêu cực đáng kể. Đó
là sự thiếu kinh nghiệm, kém ổn định của trật tự kỷ cương xã hội. Đây chính là điều kiện
thuận lợi cho các loại tội phạm phát sinh, phát triển, gây cản trở cho sự phát triển của đất
nước, trong đó phải kể đến nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Điển hình
trong nhóm tội phạm này là tội phạm chống người thi hành công vụ. Loại tội phạm này
đang diễn ra với quy mô rộng ở khắp nơi trên toàn quốc nói chung và tỉnh Trà Vinh nói
riêng.
Tại địa bàn tỉnh Trà Vinh trong những năm gần đây, diễn biến của loại tội phạm
này hết sức phức tạp, tính chất và mức độ của tội phạm ngày càng nghiêm trọng, gây
nguy hại to lớn cho ổn định trật tự xã hội, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các
cơ quan nhà nước, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, của nhân viên cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội.


địa bàn tỉnh Trà Vinh từ đó đề ra một số giải pháp phòng ngừa và hạn chế tội phạm này
trên địa bàn tỉnh nhà.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài, tác giả đã sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu chủ yếu sau để hoàn thành luận văn được tốt hơn:
Luận văn sử dụng lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm nền tảng lý luận để đưa ra các quan điểm, lập
luận của chính bản thân để về tội chống người thi hành công vụ.
Sử dụng các phương pháp thống kê hình sự, phương pháp so sánh, phương pháp
điều tra xã hội học, phương pháp phân tích các luận cứ khoa học để làm sáng tỏ vấn đề
được nghiên cứu.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 2

SVTH: Trần Văn Thố


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

Kết hợp các phương pháp phân tích luật viết để tìm hiểu quy định của pháp luật
hiện hành, phương pháp so sánh đối chiếu các văn bản quy phạm pháp luật.
Bên cạnh đó tác giả cũng tìm hiểu và tham khảo một số loại sách báo, tạp chí, giáo
trình, các trang thông tin điện tử,…để hoàn thành luận văn.
4. Cấu trúc đề tài
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm
ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tội chống người thi hành công vụ trong

dựng, phát triển và ổn định kinh tế xã hội của đất nước. Quản lý hành chính nhà nước
đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và của
công dân. Chính vì vậy để hoạt động quản lý hành chính thật sự mang lại hiệu quả, đóng
góp tích cực vào công cuộc đổi mới của đất nước, Luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam quy định chương “Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính”
nhằm ngăn ngừa và chống lại những hành vi gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội,
làm giảm hiệu lực và hiệu quả thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước.
Quản lý hành chính là bộ phận quan trọng trong quản lý xã hội của Nhà nước. Việc
xử lý về mặt hình sự các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành chính là cần thiết góp
phần ổn định trật tự, kỉ cương xã hội. Theo luật hình sự Việt Nam, các tội xâm phạm trật
tự quản lý hành chính là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm hoạt động bình thường
của nhà nước và xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước.1
Cũng có quan điểm khác cho rằng “tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính” là:
những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm vào những quy định của Nhà
nước về trật tự quản lý hành chính, gây khó khăn cho công tác quản lý xã hội và làm
giảm hiệu lực của cơ quan quản lý nhà nước.2
Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính nhà nước có các đặc điểm cơ bản sau
đây:
Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, không chỉ cản trở hoạt động bình
thường của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội trong quản lý hành chính mà còn gây ra

1

Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 2, NXB Công An Nhân Dân, Hà Nội, 2007, tr.
259.
2
Trần Minh Hưởng, Tìm hiểu bộ luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bình luận và chú giải, NXB
Lao Động, Hà Nội, 2002, tr. 514.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

định, đó là: “Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ” (Điều 260) và
“Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới” (Điều 273).
So với Mục C, Chương VIII và Mục B, Chương I phần các tội phạm của Bộ luật
hình sự năm 1985 thì các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính quy định tại Chương
XX Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm mới và bổ sung sau đây:
Mục C, Chương VIII, phần các tội phạm Bộ luật hình sự 1985 có 14 điều (từ Điều
205 đến Điều 217) quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính, còn chương
XX Bộ luật hình sự 1999 có 20 điều (từ Điều 257 đến Điều 276) quy định các tội xâm
phạm trật tự quản lý hành chính với 20 tội danh tương ứng. Tuy nhiên trong đó đã có 14
tội được qui định tại Mục C, Chương VIII phần các tội phạm của Bộ luật hình sự 1985, 4
3

Trường đại học luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2007, tr.
259.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 5

SVTH: Trần Văn Thố


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

tội được quy định tại Mục B, Chương I phần các tội phạm Bộ luật hình sự năm 1985 và
bổ sung hai tội mới đó là: “Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ”
(Điều 260) và “Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới” (Điều 273).
Chương XX Bộ luật hình sự 1999 quy định về các tội xâm phạm trật tự quản lý
hành chính, một số tội trước đây thuộc nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia như: (tội tổ


Trang 6

SVTH: Trần Văn Thố


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

định khung hình phạt; hình phạt bổ sung đối vời từng tội phạm được qui định trong cùng
một điều luật.4
Có thể thấy rằng, việc thay đổi một số chính sách hình sự là một điều tất yếu phù
hợp với quy luật phát triển của kinh tế, xã hội. Kinh tế và xã hội luôn vận động theo
chiều hướng đi lên từ thấp đến cao. Tuy vậy, cùng với sự phát triển đó thì những mặt tiêu
cực của kinh tế và xã hội cũng bộc lộ ở mức độ nhiều hơn mà cụ thể là hành vi của tội
phạm. Khi trình độ văn hóa của những người dân được nâng cao thì trình độ nhận thức
của họ về phát luật cũng sâu sắc hơn, họ ý được quyền lợi cũng như nghĩa vụ của mình từ
đó điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội. Tuy nhiên, bên
cạnh những mặt tích cực như vậy thì những biểu hiện tiêu cực cũng xuất hiện ngày một
nhiều hơn, bởi do đã am hiểu pháp luật, trình độ nhận thức được nâng cao, nhìn thấy
được kẻ hở của luật pháp nên một số tội phạm đã lợi dụng chính khe hở đó để phạm tội,
và cùng với đó thì sự phát triển nhanh của xã hội làm xuất hiện nhiều hành vi mà trước
đây các nhà làm luật chưa lường trước được hết tính nguy hiểm của nó đối với xã hội nên
làm cho chính sách hình sự của nhà nước ta trở nên lạc hậu và không còn phù hợp với
thực tế. Từ những lý do đó, nên chính sách hình sự phải có thay đổi để phù hợp với quy
luật vận động, phát triển của kinh tế - xã hội là một điều hợp lý.
1.1.2. Dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
1.1.2.1. Khách thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Các tội phạm này không chỉ xâm phạm trật tự quản lý hành chính nói chung, mà
trong nhiều trường hợp còn trực tiếp xâm phạm và gây thiệt hại về tính mạng, thiệt hại

trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Chỉ có một số ít tội phạm có thể là những
người từ đủ mười bốn tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự (các khoản 2, 3 của
Điều 263 và Điều 275). Một số tội phạm trong Chương này thuộc nhóm tội có chủ thể
đặc biệt, đó là những người có thẩm quyền nhất định (về đăng ký nghĩa vụ quân sự - Điều
261) hoặc có trách nhiệm về một lĩnh vực nào đó (bí mật nhà nước - Điều 263 và Điều
264) hoặc phải là người có trách nhiệm thực hiện những nghĩa vụ nhất định (nghĩa vụ
quân sự, nhập ngũ - Điều 259 và Điều 260).
1.1.2.3. Khách quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Mặt khách quan của đa số các tội phạm quy định trong Chương XX Bộ luật hình
sự hiện hành được thể hiện ở tất cả các dạng hành động và không hành động. một số tội
phạm chỉ được thể hiện ở dạng hành động như: tội chống người thi hành công vụ; tội cố ý
làm lộ bí mật nhà nước, chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước; tội sửa
chữa, sử dụng giấy chứng nhận và các tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội lam giả con dấu,
tài liệu cảu cơ quan, tổ chức…
Hậu quả nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản không phải là dấu
hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của đa số các tội phạm thuộc Chương này. Ngoài
ra, đối với một số tội (thuộc các điều 270, điều 272, điều 273, điều 274), dấu hiệu bắt
buộc trong cấu thành tội phạm còn là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị
kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”. Chỉ đối với một số rất ít các
tội (Điều 266, Điều 272), hậu quả thiệt nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành
tội phạm.
1.1.2.4. Chủ quan của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Đa số các hành vi phạm tội được quy định tại Chương XX Bộ luật hình sự hiện
hành được thực hiện với lỗi cố ý. Chỉ có một số ít hành vi được thực hiện với lỗi vô ý
(các điều 264, 271, 272, 273). Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt
buộc trong cấu thành tội phạm của các loại tội phạm này. Đối với một số tội (Điều 263,

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 8

phong, dân quân tự vệ, dân phòng được huy động làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh,…). Dựa
trên những quan điểm đã phân tích, thì tại khoản 1, Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường
nhà nước đưa ra khái niệm “Người thi hành công vụ” như sau: “Người thi hành công vụ
là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào một vị trí trong cơ quan
nhà nước để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án hoặc người

5

Nguyễn Đức Mai (chủ biên), Bình luận khoa học bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009- Phần các tội phạm,
NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, 2010, tr. 653- tr. 655.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 9

SVTH: Trần Văn Thố


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

khác được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ có liên quan đến
hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án”.6
1.2.1.2. Khái niệm “tội chống người thi hành công vụ”
Khi xã hội phát triển đến một mức độ nào đó thì các quan hệ xã hội ngày một
phức tạp, thì tất yếu sẽ có những hành vi chống người thi hành công vụ của những người
muốn lựa chọn cách thức thỏa mãn nhu cầu trái với lợi ích xã hội. Qua nghiên cứu, hành
vi chống người thi hành công vụ tuy đa dạng nhưng điều có đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, hành vi chống người thi hành xâm hại tới một hoặc nhiều quan hệ xã
hội được Nhà nước, pháp luật bảo vệ.

SVTH: Trần Văn Thố


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

1.2.2. Đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ
Mỗi tội phạm đều mang những đặc điểm riêng biệt nhưng nhìn chung thì tội phạm
nào cũng có những đặc điểm cơ bản, đó là:
 Hành vi được thực hiện là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.
 Tính trái pháp luật hình sự.
 Tính có lỗi của tội phạm.
 Tính chịu hình phạt của tội phạm.
Tội phạm chống người thi hành công vụ cũng mang những đặc điểm cơ bản trên
nhưng cũng có vài nét khác biệt để phân biệt với các loại tội phạm khác:
Thứ nhất, Hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đã gây ra hoặc đe dọa gây thiệt
hại đáng kể đến các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Các quan hệ đó là: độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ
kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp
của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các
quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự
pháp luật xã hội chủ nghĩa. Nếu thiệt hại gây ra hoặc đe dọa gây ra không đáng kể thì
không phải là hành vi nguy hiểm cho xã hội và không bị coi là hành vi phạm tội. Có thể
thấy tội phạm chống người thi hành công vụ là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, về mặt
khách quan nó gây thiệt hại cho khách thể là trật tự quản lý hành chính được pháp luật
hình sự bảo vệ. Tuy nhiên, tội chống người thi hành công vụ cũng có đặc điểm riêng biệt
khác với các loại tội phạm khác thể hiện qua các yếu tố sau:
Người thực hiện công vụ phải thực hiện công vụ từ khi bắt đầu thực hiện công vụ và
chưa kết thúc thực hiện công vụ.
Người thực hiện công vụ phải là người do bổ nhiệm, do bầu cử do hợp đồng hoặc

đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực
hiện hành vi trái pháp luật, được xem là hành vi trái với quy định tại điều 257 Bộ luật
hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009). Do nhìn nhận được sự nguy hiểm của hành vi
chống người thi hành công vụ nên các nhà làm luật đã quy định hành vi này trong một
điều luật cụ thể, đó là: Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009).
Thứ ba, đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ còn thể hiện ở tính lỗi của
tội phạm. Lỗi là thái độ tâm lý của người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu
quả của hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Đối với tội chống người thi hành công
vụ, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức được hành vi
trái pháp luật của mình là đang chống lại người thi hành công vụ và mong muốn thực
hiện việc chống lại này khiến cho người thi hành công vụ không hoàn thành được nhiệm
vụ. Tuy nhiên, để xem xét hành vi chống người thi hành công vụ có lỗi hay không cần
phải xem xét hai điều kiện sau:
Người thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ phải có năng lực trách nhiệm
hình sự khi thực hiện hành vi của mình, tức là không bị rơi vào tình trạng không có năng
lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung
2009).

8

Đinh Văn Quế, Một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng,
NXB Công An Nhân Dân, 2007, tr. 12.
9
Phạm Văn Beo, Luật hình sự Việt Nam, Quyển 1- Phần chung, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà Nội, 2009,
tr.120.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 12


thống pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật hình sự có vị trí rất
quan trọng. Nó là một công cụ sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản để bảo vệ
những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh quốc
gia và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu
tranh chống và phòng ngừa mọi hành vi phạm tội, góp phần hoàn thành hai nhiệm vụ
chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa”. Qua lời nói đầu trên, có thể thấy vai trò và tầm quan trọng của
Bộ luật hình sự 1985 đối với đời sống kinh tế - chính trị cũng như xã hội của nước ta là

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 13

SVTH: Trần Văn Thố


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

rất lớn. Bộ luật hình sự 1985 đã cụ thể hóa đường lối và chính sách của Đảng và nhà
nước ta, góp phần ngăn ngừa và phòng chống tội phạm, đồng thời nó là một lời răng đe
mạnh mẽ với những người phạm tội, từ đó góp phần ổn định an ninh trật tự, đời sống xã
hội và tạo điều kiện cho đất nước phát triển.
Bộ luật hình sự năm 1985 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá VII, kỳ họp thứ 9, nhất trí thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 tại Hà Nội, có
hiệu lực thi hành ngày 01/01/1986 gồm 12 chương và 280 điều. Trong đó “tội chống
người thi hành công vụ” được quy định tại Điều 205, mục C, Chương VIII: các tội xâm
phạm an toàn, trật tự công cộng và trật tự quản lý hành chính. Điều 205 Bộ luật hình sự
1985 quy định như sau:
“1- Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành công vụ

địa bàn tỉnh Trà Vinh

pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu
tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến
bảy năm :
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ) Tái phạm nguy hiểm”.
Có thể thấy điểm khác biệt cơ bản của Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 so với
Điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985 là: Điều 257 Bộ luật hình sự năm 1999 có bổ sung
thêm hành vi “dùng thủ đoạn khác”. Có sự thay đổi như thế là một điều dễ hiểu bởi qua
thực tiễn và kinh nghiệm xét xử cho thấy, nhiều trường hợp người phạm tội không dùng
vũ lực, cũng không đe dọa dùng vũ lực nhưng vẫn cản trở được người thi hành công vụ
thực hiện công vụ của mình nhưng vẫn không bị xử phạt vì không được quy định trong
điều 205 Bộ luật hình sự năm 1985. Vì thế các nhà làm luật đã bổ sung thêm hành vi
“dùng thủ đoạn khác” vào Điều 257 Bộ luật hình sự 1999, đây cũng một quy định tiến
bộ của Bộ luật hình sự năm 1999 so với bộ luật hình sự năm 1985. Sau này, cũng xuất
phát từ nhu cầu thay đổi các văn bản pháp luật để phù hợp hơn với tình hình thực tiễn
kinh tế - xã hội của đất nước thì Bộ luật hình sự năm 1999 cũng được sửa đổi, bổ sung
năm 2009 nhưng tội chống người thi hành công vụ vẫn được giữ nguyên không bị sửa
đổi, bổ sung.
1.4. Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH
CÔNG VỤ TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Với tốc độ phát triển của nền kinh tế thị trường, đã đem lại cho đất nước và xã hội
nhiều lợi ích to lớn. Tuy nhiên, cùng với đó là những tiêu cực xuất hiện ngày một nhiều
hơn, các tội phạm trên những lĩnh vực khác nhau cũng không ngừng phát triển và tội
phạm trong lĩnh vực quản lý hành chính cũng không nằm ngoài xu thế đó mà đặc biệt là


Đề tài: Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm chống người thi hành công vụ trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh

CHƯƠNG II
TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH
SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1. TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 bộ luật hình sự năm
1999 như sau:
1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người
thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp
luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba
năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy
năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;
d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
e) Tái phạm nguy hiểm;
Theo khoản 1 Điều 8 Luật Hình sự Việt Nam hiện hành thì “Tội phạm là hành vi nguy
hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện một cách cố ý hau vô ý...”. Tuy nhiên, những hành vi gây nguy hiểm
cho xã hội không đáng kể thì không được xem là tội phạm. Trong luật Hình sự Việt Nam
hiện hành bất cứ một hành vi nào khi đã kết luận là tội phạm thì đều phải chịu hình phạt
nhất định nào đó, tùy vào mỗi mức độ phạm tội, mức độ thành khẩn, những trường hợp
tăng nặng, giảm nhẹ, mà quyết định hình phạt một cách hợp lý và công bằng luôn lấy quy
định pháp luật làm căn cứ. Như vậy, “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của

dụ: cảnh sát giao thông, bộ đội biên phòng, cán bộ thu thuế, cán bộ thi hành án...
Người đang thi hành công vụ nói tại Điều 257 Bộ luật hình sự rất đa dạng. Có thể họ
là những người được Nhà nước giao cho công việc nhất định để thực hiện theo pháp luật,
cũng có thể do người có thẩm quyền phân công trong từng trường hợp cụ thể. Cá biệt có
những trường hợp là công dân bình thường nhưng được điều động thực hiện một công vụ
cấp bách nào đó vì lợi ích chung cũng được xem là người đang thi hành công vụ. Tội
phạm này chỉ bảo vệ những người có trách nhiệm, nhiệm vụ thực hiện “công vụ”. Vì vậy,
dù công chức đang thực hiện công việc nhưng công việc này vì lợi ích hoặc động cơ cá
nhân thì không được xem là phạm vi của tội phạm này nếu có hành vi chống lại công
chức thực hiện công vụ đó.12
Ví dụ: anh A là cảnh sát trật tự của Công an quận, trên đường tuần tra anh A phát
hiện anh B đang chạy xe gắn máy trên đường (không có hành vi phạm luật giao thông) là
người có cải vã với mình trong quán cà phê hôm trước, anh A liền ra hiệu lệnh bảo anh
B tấp vô lề đường để kiếm chuyện trả đũa việc hôm trước trong quán cà phê. Khi anh B
điều khiển xe dừng lại trên lề đường thì anh A không kiểm tra giấy tờ hay các hoạt động

11

Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 2- Phần các tội phạm, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà
Nội, 2012, tr. 534.
12
Phạm Văn Beo, Luật Hình Sự Việt Nam, Quyển 2- Phần các tội phạm, NXB Chính Trị Quốc Gia- Sự Thật, Hà
Nội, 2012, tr. 535.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang 18

SVTH: Trần Văn Thố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status