Thực trạng và giải pháp phòng chống ma túy đối với thanh niên Quận Long Biên, Thành phố Hà Nội (Nghiên cứu tại hai phường Thượng Thanh và Ngọc Lâm) - Pdf 28

§¹i häc quèc gia hµ néi
Tr-êng ®¹i häc khoa häc X· HéI Vµ NH©N V¡N

T
T
R
R


N
NV
V
Ă
Ă
N
NS

Tr-êng ®¹i häc khoa häc X· HéI Vµ NH©N V¡N

T
T
R
R


N
NV
V
Ă
Ă
N
NS
S
Ơ
Ơ

2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
3. Ý nghĩa của nghiên cứu 11
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5. Phạm vi nghiên cứu 12
6. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 13
7. Câu hỏi nghiên cứu 13
8. Giả thuyết nghiên cứu 13
9. Phương pháp nghiên cứu 14
10. Kết cấu luận văn 16
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU 17
1.1. Các khái niệm công cụ 17
1.1.1. Khái niệm ma túy 17
1.1.2. Khái niệm nghiện ma túy 17
1.1.3. Khái niệm thanh niên 18
1.1.4. Khái niệm thanh niên nghiện ma túy 19
1.1.5. Khái niệm phòng, chống ma túy 19
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 19
1.2.1. Lý thuyết hành vi 19
1.2.2. Lý thuyết hệ thống 21
1.2.3. Lý thuyết động năng tâm lý 23
1.2.4. Lý thuyết nhân văn 25
1.3. Nhân viên công tác xã hội và vai trò 26
- 2 -

1.3.1. Khái niệm nhân viên công tác xã hội 26
1.3.2. Vai trò của nhân viên công tác xã hội 27
1.4. Đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu 27
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG THANH NIÊN NGHIỆN MA TUÝ VÀ CÔNG
TÁC PHÒNG CHỐNG MA TUÝ ĐỐI VỚI THANH NIÊN 33
2.1. Khái lƣợc về vấn đề thanh niên nghiện ma tuý 33

3.2.4. Kết hợp phương pháp công tác xã hội trong hoạt động cai nghiện và
quản lý sau cai 86
3.2.5. Phát triển các mô hình công tác xã hội 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1. Kết luận 90
2. Khuyến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
- 4 -

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang trên đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh thời cơ mới, cũng có nhiều khó khăn, thách thức mới, nổi bật là mặt
trái của toàn cầu hóa và cơ chế thị trường đã làm nảy sinh các vấn đề xã hội
phức tạp. Trong đó có sự gia tăng của các loại tội phạm nói chung và tội
phạm ma túy nói riêng.
Tệ nạn nghiện ma túy đã lan rộng ra tất cả các tỉnh, thành phố, các
khu vực dân cư, đến mọi thành phần, lứa tuổi, đặc biệt là trong thanh, thiếu
niên. Nghiện ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của thanh niên, ảnh
hưởng đến giống nòi mà còn là một trong các nguyên nhân lớn gây tình

ngày 05/12/2012 là 1.140 người (trong đó có mặt tại cộng đồng: 510 người,
đang cai nghiện tại các Trung tâm cai nghiện thành phố: 472 người, đang bị
giam giữ, cải tạo tại các cơ sở do ngành công an quản lý: 158 người), hoạt
động tội phạm ma tuý vẫn gia tăng và phức tạp là một thách thức không
nhỏ đối với quận Long Biên.
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan
trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên
nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi sự hy sinh, gian khổ,
sức khỏe và sáng tạo. Vị trí của Thanh niên là lực lượng xung kích cách
mạng; Trong văn Kiện Đại hội Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2012 - 2017) đã nêu ra mục tiêu xây dựng
hình mẫu người thanh niên: “Xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước,
yêu chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị, ý thức chấp hành pháp luật, có
đạo đức cách mạng và lối sống đẹp, có ước mơ, hoài bão, khát vọng đưa
đất nước vươn lên, có tri thức, sức khoẻ, kỹ năng xã hội, năng lực chuyên
môn, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại”.
1

Như vậy, để xây dựng được một lớp thanh niên đáp ứng các tiêu chí
trên việc nghiên cứu các giải pháp phòng chống tệ nạn xã hội nói chung và 1
Văn kiện Đại hội đoàn TNCS HCM toàn quốc lần thứ X, trang 23
- 6 -

đặc biệt công tác phòng chống ma túy đối với đối tượng thanh niên là thực sự
cần thiết.
Thanh niên quận Long Biên (từ 16 - 30 tuổi) có khoảng hơn 70.000
người, chiếm 26,2% dân số toàn Quận, là thế hệ thanh niên thời kỳ mới,

nạn nghiện ma túy trong thanh niên không giảm, mà đang phát triển với tốc
độ đáng báo động. Tỷ lệ tái nghiện trong thanh niên rất cao, số thanh niên đi
cai nghiện thành công chỉ vào khoảng 10 – 20%. Trong khi đó hoạt động của
đội ngũ nhân viên công tác xã hội cơ sở còn tương đối mờ nhạt, chưa phát
huy được hết vai trò, cũng như các hoạt động trợ giúp trực tiếp đối với đối
tượng nghiện và người có nguy cơ cao. Điều đó cho thấy được sự cần thiết
cũng như tầm quan trọng của đội ngũ nhân viên xã hội trong các hoạt động tại
cơ sở.
Phường Thượng Thanh và phường Ngọc Lâm thuộc quận Long Biên là
hai phường có số người nghiện đông nhất của quận, phường Thượng Thanh
có 124 người nghiện, chiếm 10,9% và phường Ngọc Lâm có 178 người
nghiện chiếm 15,6% tổng số người nghiện. Bên cạnh đó trong đề tài này tác
giả chủ định lựa chọn một phường có tính chất đô thị, buôn bán, dịch vụ là
phường Ngọc Lâm và một phường làm nông nghiệp, trồng cây ăn quả và các
dịch vụ nông nghiệp, đó là phường Thượng Thanh để nghiên cứu, nhìn nhần
từ nhiều góc độ về tình trạng nghiện ma tuý trong thanh niên của quận.
Với những yêu cầu cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài: “Thực trạng và
giải pháp phòng, chống ma túy đối với thanh niên quận Long Biên -
Thành phố Hà Nội (nghiên cứu tại hai phƣờng Thƣợng Thanh và Ngọc
Lâm)” để nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hiệu
quả trong công tác phòng chống ma túy đối với thanh niên để xây dựng một
- 8 -

lớp thanh niên quận Long Biên khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần, hoàn
thành mọi nhiệm vụ trong tình hình mới.
2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, khi ma túy trở thành tệ nạn xã hội làm tha
hóa, băng hoại đạo đức, lối sống và sức khỏe của xã hội, trong đó có một bộ
phận là thanh thiếu niên, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này như sau:
2.1. Nhóm nghiên cứu liên quan đến công tác phòng, chống ma tuý trong

Điểm làm chủ nhiệm. Đề tài đánh giá được cơ bản thực trạng nghiện ma tuý
trong thanh thiếu niên Việt Nam và đề xuất các giải pháp phòng ngừa cho
thực trạng này. Tuy nhiên, đề tài chưa chia tách được thực trạng nghiện ma
tuý trong nhóm thiếu niên và nhóm thanh niên, do đó đề tài cũng chỉ đề xuất
được các giải pháp phòng ngừa chung cho cả thanh niên và thiếu niên, trong
khi đó ở mỗi độ tuổi cần phải có những nhóm giải pháp phòng ngừa phù hợp.
Bên cạnh đó, đề tài chưa đề xuất được nhóm giải pháp để khắc phục những
hậu quả của tình trạng nghiện ma tuý trong thanh thiếu niên.
- Năm 2008, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hà
Nội với Đề tài khoa học “Tình hình lạm dụng ma túy trong sinh viên các
trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp - Một số biện pháp
phòng ngừa, ngăn chặn”. Đề tài đã triển khai khảo sát tình trạng lạm dụng ma
tuý trong sinh viên ở một số trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trên địa
bàn thành phố Hà Nội, kết quả đề tài đã nhận định thực trạng nghiện hút ma
tuý trong sinh viên có nhiều diễn biến phức tạp, tình trạng lạm dụng các chất
gây nghiện ngày càng gia tăng. Đề tài cũng đã đưa ra một số giải pháp phòng
ngừa, ngăn chặn nhưng các giải pháp chủ yếu tập trung vào vai trò của nhà
trường và tổ chức Đoàn, chưa đề xuất được nhóm giải pháp có tính chiều sâu
như công tác quản lý sinh viên giữa nhà trường, gia đình và nơi cư trú, tạm
trú; chương trình sinh viên tham gia các hoạt động công tác xã hội, tình
nguyện, công tác hướng nghiệp cho sinh viên
- 10 -

- Cùng đối tượng như vậy, năm 2008, Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội
với Đề tài khoa học: “Nghiên cứu các biện pháp giáo dục phòng chống ma
túy trong các trường học”. Đề tài đã chỉ ra được thực trạng của công tác giáo
dục trong các trường trên địa bàn Hà Nội, đặc biệt với các nội dung mang tính
giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Trong đó nhấn mạnh đến cải cách
chương trình học, đưa các nội dung về phòng, chống ma tuý và chương trình
học phổ thông. Đây là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức cho

thuyết động năng tâm lý, lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhân văn. Đồng thời
cũng vận dụng các phương pháp và kỹ năng can thiệp công tác xã hội ứng
dụng trong quá trình nghiên cứu, củng cố sâu sắc hơn những hiểu biết về các
lý thuyết, phương pháp và kỹ năng công tác xã hội đã được học và thực hành.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ thực trạng tình hình nghiện ma túy
trong thanh niên quận Long Biên và bước đầu đề xuất một số giải pháp hiệu
quả để đóng góp cho công tác phòng chống ma túy trên địa bàn quận Long
Biên nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung.
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công
tác phòng chống tệ nạn xã hội, xây dựng kế hoạch phòng chống tệ nạn ma túy
đối với thanh niên quận Long Biên nói riêng, Thành phố Hà Nội nói chung;
cho đoàn thanh niên trong công tác tuyên truyền về phòng, chống tệ nạn ma
túy trong thanh niên các cấp;
- Là tài liệu tham khảo cho các cán bộ làm công tác xã hội trong nghiên
cứu và hoạt động thực tiễn.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng nghiện ma túy trong thanh niên quận Long Biên và
một số kết quả phòng, chống ma tuý trong thanh niên trên địa bàn Quận, từ đó
- 12 -

đề xuất được một số giải pháp hiệu quả phòng chống ma túy đối với thanh
niên của quận Long Biên.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiện hút
trong thanh niên và những giải pháp trong công tác phòng, chống nghiện hút
đối với thanh niên.
- Phân tích, đánh giá thực trạng nghiện ma túy trong thanh niên quận
Long Biên, đặc biệt tập trung đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi.

- Chính quyền địa phương, bao gồm: Các phòng, ban ngành, đoàn thể
thuộc UBND quận Long Biên và UBND hai phường Thượng Thanh, Ngọc Lâm.
7. Câu hỏi nghiên cứu
(1) Tình hình nghiện ma túy trong thanh niên quận Long Biên làm ảnh
hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương như thế nào?
(2) Công tác phòng, chống nghiện hút ma tuý đối với thanh niên quận
Long Biên đã được tiến hành và đạt được những kết quả như thế nào?
(3) Để góp phần phòng chống và làm giảm tình trạng nghiện hút trong
thanh niên quận Long Biên cần đưa ra những giải pháp hiệu quả nào?
8. Giả thuyết nghiên cứu
(1) Tình hình nghiện ma tuý trong thanh niên quận Long Biên là một vấn
đề bức xúc đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
(2) Quận Long Biên đã có nhiều giải pháp trong công tác phòng, chống
nghiện hút ma tuý trong thanh niên, tuy nhiên chưa thực sự hiệu quả.
- 14 -

(3) Phát huy vai trò của nhân viên xã hội và các hoạt động công tác xã
hội là một trong những giải pháp hiệu quả góp phần tích cực trong phòng,
chống và làm giảm tình trạng nghiện hút trong thanh niên quận Long Biên.
9. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phương pháp luận
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật lịch sử
và Chủ nghĩa duy vật biện chứng khi xem xét thực trạng nghiện ma túy trong
thanh niên và các giải pháp phòng, chống ma túy của quận Long Biên đã thực
hiện trong mối quan hệ tổng hòa với các vấn đề khác.
9.2. Phương pháp thu thập thông tin
9.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Để triển khai nghiên cứu, một hệ thống tư liệu được sử dụng để tổng
hợp và nhìn nhận, đánh giá làm cơ sở và minh chứng cho các luận điểm được
trình bày. Những tài liệu được sử dụng gồm có tài liệu hàn lâm (những tài liệu

- 03 thanh niên nghiện ma túy;
- 03 cán bộ, tình nguyện viên làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội;
- 03 Lãnh đạo đại diện chính quyền quận và phường;
- 03 Người nhà của người nghiện.
9.2.4. Phương pháp quan sát
Để thu thập thông tin cho đề tài, phương pháp quan sát tham dự đã được
triển khai. Những đối tượng và mục tiêu quan sát chính được lựa chọn như sau:
- Các phòng, ban, đơn vị thuộc UBND quận Long Biên có liên quan đến
công tác phòng chống ma túy, UBND phường Ngọc Lâm, Thượng Thanh: quan
sát cách thức tổ chức và vận hành hoạt động, quan sát cơ sở vật chất
- Cán bộ, tình nguyện viên làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội: quan
sát thái độ, cách thức giao tiếp giữa cán bộ, tình nguyện viên làm công tác phòng
- 16 -

chống tệ nạn xã hội với người nghiện và người nhà của người nghiện (quan sát
trong trường hợp lập hồ sơ đưa đối tượng nghiện đi cai tại Trung tâm và trong
sinh hoạt Câu lạc bộ B93), cách giải quyết vấn đề trong công việc chuyên môn
- Thanh niên nghiện ma túy (chủ yếu là thanh niên nghiện ma túy đã cai
nghiện trở về và đang sinh hoạt trong Câu lạc bộ B93): quan sát đặc điểm trung
về thể trạng ngoại hình, thái độ, cách ứng xử với các thành viên trong nhóm và
với mọi người xung quanh.
- Người nhà của người nghiện ma túy: quan sát thái độ, cách cư xử, tương
tác của người nhà đối với người nghiện và các cơ quan, cá nhân làm công tác
phòng, chống ma túy; cách thức và thái độ đánh giá, phản hồi về tính hiệu quả
của công tác phòng, chống ma túy với người thân của họ.
10. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị kết cấu của luận văn được
chia thành ba chương, cụ thể như sau:
 Chương 1: Cơ sở lý luận của nghiên cứu
 Chương 2: Thực trạng thanh niên nghiện ma tuý và công tác phòng,

Như vậy, ma túy là những chất đã được xác định và có tên gọi riêng,
tổng hợp lại có thể hiểu:
Ma túy là những chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp khi xâm
nhập vào cơ thể con người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ làm thay đổi trạng
thái ý thức, trí tuệ, tâm trạng của người đó. Nếu lạm dụng sẽ bị lệ thuộc, gây
tổn thương, nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng.
1.1.2. Khái niệm nghiện ma túy
- Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1957, nghiện ma tuý là:
“Trạng thái ngộ độc kinh niên hay từng thời kỳ do sử dụng lặp đi lặp lại một
hay nhiều lần chất tự nhiên hay tổng hợp. Chất gây nghiện làm người nghiện
- 18 -

ham muốn không tự kiềm chế được mà bằng mọi giá phải sử dụng. Chất gây
nghiện gây xu hướng tăng dần liều lượng, gây ra sự lệ thuộc về tâm lý và
thường là cả thể chất, có hại cho chính người nghiện và xã hội”.
- Khái niệm theo Y học: “Nghiện là một sự lệ thuộc thuốc gây nghiện
cùng với quá trình tái nghiện sau khi rời bỏ chất gây nghiện”.
- Theo Luật phòng, chống ma tuý năm 2000: “Người nghiện ma tuý là
người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc
vào các chất này” [24, tr. 4]
Như vậy, người nghiện ma tuý là người sử dụng lặp đi lặp lại các chất
ma tuý, thuốc gây nghiện dẫn đến bị lệ thuộc cả về thể chất lẫn tinh thần đối
với chất gây nghiện đó.
1.1.3. Khái niệm thanh niên
Từ góc độ xã hội học, thanh niên được xem là một nhóm xã hội của
những người “mới lớn”. PGS.TS Phạm Hồng Tung, khi nghiên cứu về lối
sống của thanh niên cho rằng: “tuổi thanh niên là độ tuổi quá độ từ trẻ con
sang người lớn trong cuộc đời mỗi người”. (Phạm Hồng Tung, 2010).
Từ góc độ tâm lý học, thanh niên là một độ tuổi, ở giữa lứa tuổi trẻ em
và tuổi trưởng thành. Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh

của con người vì chính nó là động cơ tác động đến phản ứng hành động trong
các tương tác xã hội cụ thể [16, tr. 54]
Các nhà xã hội học theo trường phái lý thuyết này cho rằng phần lớn
các hành vi của con người thể hiện đều được giải thích theo mô hình kích
thích và phản ứng. Theo đó, hành vi của chúng ta hoàn toàn máy móc, sinh
học và không có sự tham gia của ý thức hay một yếu tố nào khác[16, tr. 55].
Ví dụ, một người nghiện ma túy khi thèm thuốc mà không có thì học lên cơn
quằn quại, sùi bọt mép và có thể vai xin người thân hoặc thực hiện hành vi
giết người trong trạng thái mất kiểm soát. Do vậy, thuyết hành vi đi đến nhận
- 20 -

định nếu không quan sát được phản ứng thì không thể xác định được hành vi.
Lý thuyết hành vi cho rằng trong quá trình sinh tồn, mỗi người đều có những
động cơ riêng nhất định trong từng tình huống cụ thể, tuy vậy nhưng chúng
lại không đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện các hành vi của họ.
Những động cơ này được hình thành mang tính chủ quan, duy cá nhân nên
không có tính quy luật. Vì vậy chúng ta không thể nghiên cứu những động cơ
chủ quan của con người về mặt khoa học. Việc dự đoán hành vi của con
người không thể thực hiện được khi những phản ứng đã bộc lộ ra bên ngoài
mới quan sát được [16, tr. 57]
Điều này được sử dụng khi giải thích về hành vi phạm tội của người
nghiện ma túy, hành vi bộc phát mua dâm trong những hoàn cảnh thuận lợi,
sự thiếu hiểu biết và lối sống thác loạn dẫn đến nguy cơ bùng phát HIV/AIDS
và những hệ quả xã hội có liên quan.
Việc tìm kiếm một mô hình giáo dục hỗ trợ người nghiện ma túy hay
trong các trường hợp dễ hình thành hành vi có nguy cơ cao gây xâm hại đến
lợi ích lâu dài cho cá nhân và xã hội chính là việc giảm bớt những phản ứng
mang tính máy móc, bản năng sinh học. Thay vào đó là sự xuất hiện có kiểm
soát, sự tham gia của ý trí cá nhân gắn kết với ý thức xã hội để thực hiện
hành động có ý nghĩa đối với người khác. Do vậy việc tìm kiếm xác lập cơ

của Bertalanffy (Toseland và Rivas), (1998).
Trong công tác xã hội có hai loại thuyết hệ thống nổi bật được đề cập
đến là thuyết hệ thống tổng quát và thuyết hệ thống sinh thái. Phần nội dung
của lý thuyết này sẽ tập trung đi sâu phân tích thuyết hệ thống dựa trên quan
điểm sinh thái. Đại diện của lý thuyết này là Hearn, Siporin, Germain và
Gitterman.
Nội dung chính: thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh vào sự tương tác
của con người với môi trường sinh thái của mình. Sự can thiệp tại bất cứ điểm
nào trong hệ thống cũng sẽ ảnh hưởng hoặc tạo ra sự thay đổi trong toàn bộ
hệ thống.
- 22 -

Vận dụng trong công tác xã hội nhóm: thuyết hệ thống được sử dụng
rộng rãi trong công tác xã hội nhóm vì thuyết này giúp Nhân viên xã hội hiểu
được nhóm như là một hệ thống của các yếu tố tương tác với nhau. Bên cạnh
đó, để hệ thống nhóm này hoạt động hiệu quả, nhóm sẽ có nhiều tương tác với
các hệ thống môi trường bên ngoài khác.
Parsons, Bales và Shils (1953) đã chỉ ra 4 nhiệm vụ có ảnh hưởng đến
công tác xã hội nhóm như sau:
+ Hoà nhập: đảm bảo sự hoà hợp giữa các thành viên trong nhóm
+ Điều chỉnh: đảm bảo các thành viên trong nhóm thay đổi thích ứng
với những yêu cầu của môi trường.
+ Duy trì mô hình: nhóm phải xác định và duy trì những mục đích và
luôn tuân thủ tiến trình cơ bản.
+ Tiến trình đạt mục tiêu: đảm bảo nhóm duy trì và hoàn thành
nhiệm vụ.
Việc tuân thủ bốn nhiệm vụ trên sẽ giúp nhóm có thể duy trì tính ổn
định, cân bằng, cũng như giúp nhân viên xã hội hiểu biết các thể chế, sự
tương tác của các hệ thống với nhau và với các đối tượng trong nhóm,
cách thức tương tác giữa các cá nhân, những nhân tố hỗ trợ cho sự thay

bản ngã hoạt động trong vùng ý thức. Vùng tiền thức là kho chứa ký ức, nó
chứa đựng những ý tưởng cảm nghĩ và hình ảnh của những biến cố đã qua và
chúng có thể được đưa đến vùng ý thức bởi nỗ lực ý chí của con người. Vô
thức là chỗ chứa những kinh nghiệm, những cảm xúc, những khao khát mạnh
mẽ bị dồn nén ra khỏi thức. Mặc dù con người không nhận biết được những
cảm xúc này và không thể nhớ lại cảm xúc theo ý muốn nhưng chúng vẫn hiện
diện trong vô thức và ảnh hưởng đến cảm xúc cũng như ứng của con người qua
cơ chế tự vệ. Khi một người đang ngủ, ý thức không hoạt động, nhưng vô thức
hoạt động, giấc mơ là biểu lộ một chút ít nội dung của vô thức. Có người đi
đứng hay nói năng trong khi ngủ là họ làm việc đó dưới ảnh hưởng của vô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status