khảo sát thực trạng và nhu cầu giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên trên địa bàn tỉnh bình dương - Pdf 24

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người được nâng cao cả về vật
chất lẫn tinh thần. Tuy vậy, cùng với đó là rất nhiều những vấn đề mang tính cấp
thiết mà một trong số đó, đặc biệt đối với sinh viên là vấn đề thiếu kỹ năng sống,
thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỉ vô tâm, thiếu trách nhiệm với gia đình và bản
thân làm cản trở sự phát triển của mình. Chính điều đó làm không ít các bậc cha
mẹ phiền lòng vì con trong một xã hội phát triển năng động như hiện nay.
Cùng với việc đó là bạo lực học đường đang có xu hướng gia tăng. Nhiều
người có cuộc sống khép kín với thực tại, sống chìm trong thế giới ảo ảnh
Internet,… Quên đi những cơ hội giao lưu kết bạn, sống khép mình, ít tham gia
vào các hoạt động tập thể, ít khám phá và thể hiện khả năng tiềm ẩn của mình.
Lo sợ, rụt rè khi đứng trước đám đông, với cộng đồng xã hội. Có không ít sinh
viên rơi vào tình trạng như trên, hoạt động và cơ hội việc làm của sinh viên là
một thách thức rất lớn quyết định sự thành công của bản thân và việc giáo dục
kỹ năng sống là một điều hết sức cần thiết.
Trong xã hội hiện đại, có sự thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội
và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đây con
người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu. Hoặc có
những vấn đề đã xuất hiện nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn và đầy thử thách
như trong xã hội hiện đại nên con người dễ hành động cảm tính và không tránh
khỏi rủi ro. Lewis.L.Dunnington đã khẳng định: “Ý nghĩa cuộc sống không phải
nó đem đến ta điều gì, mà ở chỗ ta có thái độ với nó ra sao; Không phải ở chỗ
điều gì xảy ra với ta mà ở chỗ ta phản ứng với những điều đó như thế nào”. Nếu
con người có kiến thức, có thái độ tích cực mới đảm bảo 50% sự thành công,
50% còn lại là những kỹ năng cần cho cuộc sống mà ta thường gọi là kỹ năng
sống. Kỹ năng sống giúp biến kiến thức thành hành động cụ thể, những thói
quen lành mạnh.
1
Trong những năm gần đây, giáo dục kỹ năng sống được cả thế giới quan
tâm và bàn luận. Trong Diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại

luận của nó một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể, biết lấy “cái bất
biến” ứng vào “cái vạn biến” – như Chủ tịch Hồ Chi Minh nói thì vai trò và hiệu
lực cải tạo tự nhiên, biến đổi xã hội được tăng cường. Ngược lại, cách nghĩ, cách
làm chủ quan duy ý chí, siêu hình sẽ dẫn đến sai lầm, thất bại trong cuộc sống.
Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của
phép biện chứng duy vật cung cấp cho chúng ta những cách nhìn nhận, đánh giá
những kỹ năng – đặc biệt là những kỹ năng trong cuộc sống, trong đó có những
kỹ năng rất quan trọng như: kỹ năng đạt mục tiêu, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng
xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng kiên
định,… Sẽ giúp mỗi cá nhân có thể định hướng tới cuộc sống lành mạnh phù
hợp với các quá trình sống của xã hội để có những hành vi tích cực trong giải
quyết các vấn đề của cuộc sống giúp thúc đẩy phát triển bền vững của cá nhân
và tập thể.
Ngoài ra, vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy
vật còn xác định cho con người những kỹ năng chung như: Tư duy phê phán, tư
duy sáng tạo, thiện chí, suy nghĩ tích cực,… Còn được áp dụng vào giải quyết
các nội dung cụ thể để tạo ra sự phát triển bền vững, nó không chỉ cung cấp tri
thức khoa học đúng đắn mà còn định hướng hoạt động của con người vào các
mục tiêu xây dựng làm thay đổi hành vi theo hướng tích cực mang tính xây
dựng đối với các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Đặc biệt là đối với sinh viên,
việc thiếu kỹ năng sống là một việc hết sức nghiêm trọng. Rất nhiều sinh viên
tích lũy được nhiều kiến thức nhưng ra đời không có được những kỹ năng dù chỉ
là những kỹ năng cơ bản nhất nên nguy cơ thất bại trong cuộc sống là rất cao.
Như vậy, từ những điều trên ta thấy được rằng ý nghĩa phương pháp luận
của phép biện chứng duy vật và kỹ năng sống có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Nó là cơ sở, nền tảng để con người học tập và tìm ra giá trị đích thực của
3
bản thân và của cuộc sống. Cho nên việc vận dụng ý nghĩa phương pháp luận
của phép biện chứng duy vật để giáo dục kỹ năng sống là hết sức cần thiết.
Với những lý do trên chúng em quyết định chọn đề tài “Ý nghĩa phương

Tiếp theo trong các kế hoạch hành động quốc gia giáo dục cho mọi người
2003 - 2015 cũng đã xác định các nhóm mục tiêu về: Giáo dục mầm non, giáo
dục tiểu học, giáo dục THCS, giáo dục thường xuyên, …
Trong Luật giáo dục năm 2005, điều 44: “ Giáo dục thường xuyên giúp
mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân
cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để
cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với
đời sống xã hội”.
Tất cả những vấn đề trên mới chỉ phản ánh cơ sở chính trị, pháp lý, văn
hóa - xã hội và khoa học cho việc tiếp cận kỹ năng sống trong giáo dục. Có thể
nói vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho người học chưa được thể chế hóa trong
chính sách giáo dục ở Việt Nam, và sự gắn kết nội dung của những môn học vào
giáo dục kỹ năng sống còn hết sức hạn chế.
Việc khai thác ý nghĩa của phép biện chứng duy vật cũng như sự ảnh
hưởng của nó trong giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên (đặc biệt là sinh viên
Đại học Sư phạm Hà Nội) là một việc khá mới mẻ, tưởng chừng như đơn giản
mà ẩn chứa cả một ý nghĩa và tác dụng to lớn. Tuy vậy, tới nay vẫn chưa có
công trình nào nghiên cứu về vấn đề này.
Với sự thôi thúc, tìm tòi nghiên cứu khoa học, chúng em lựa chọn đề tài
“Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật đối với việc giáo dục
kỹ năng sống cho sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong điều kiện
hiện nay” để làm đề tài nghiên cứu của mình, nhằm góp phần làm rõ hơn ý
nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy vật với việc giáo dục kỹ năng
sống.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
 Đối tượng nghiên cứu: Ý nghĩa phương pháp luận của phép biện
chứng duy vật đối với việc giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường Đại học
Sư phạm Hà Nội trong điều kiện hiện nay.
5
 Phạm vi nghiên cứu: Sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội.

1.1Khái niệm và các hình thức phát triển của phép biện chứng
1.2Nội dung cơ bản của phép biện chứng duy vật
Chương 2. Vận dụng ý nghĩa phương pháp luận của phép biện chứng duy
vật vào giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Sư phạm Hà Nội trong điều kiện
hiện nay
2.1. Kỹ năng sống và thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên
trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong điều kiện hiện nay
2.2. Vận dụng nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc lịch sử - cụ thể, nguyên
tắc phát triển của phép biện chứng duy vật vào việc giáo dục kỹ năng sống cho
sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong điều kiện hiện nay
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT
1.1 Khái niệm và các hình thức phát triển của phép biện chứng
Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới
quan và phương pháp luận Triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin. Ph. Ăngghen
định nghĩa “Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến” và cũng là
“khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự
nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”. (2; t20, tr445, 201 )
1.1.1. Khái niệm phép biện chứng
Biện chứng (hay phương pháp biện chứng) là một phương pháp luận, đây
là phương pháp chủ yếu của cả nền triết học phương Đông và phương Tây trong
thời cổ đại. Từ biện chứng ("dialectic") có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, và trở
nên phổ biến qua những cuộc đối thoại kiểu Socrates của Platon. Phương pháp
biện chứng có nền tảng từ những cuộc đối thoại giữa hai hay nhiều người với
những ý kiến, tư tưởng khác nhau và cùng mong muốn thuyết phục người khác.
Theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý
bằng cách phát triển các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ thuật
bảo vệ những lập luận của mình. Người Hy Lạp cổ đại cho rằng, đã là tri thức
đúng thì không thể có mâu thuẫn trong tri thức đó và quá trình đi tới chân lý là

con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng”
(7; t23, tr53).
Phép biện chứng duy vật có hai đặc trưng cơ bản: Một là, phép biện
chứng duy vật được xác lập trên nền tảng thế giới quan duy vật khoa học, lấy
chính thế giới vật chất để giải thích thế giới vật chất bằng phương pháp biện
chứng mà không viện đến thượng đế. Hai là, trong phép biện chứng duy vật có
sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp
9
luận biện chứng duy vật. Phép biện chứng duy vật không dừng lại ở sự giải thích
thế giới mà còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới.
Với những đặc trưng cơ bản đó, phép biện chứng duy vật giữ vai trò là
một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận, tạo
nên tính khoa học và cách mạng của Chủ nghĩa Mác – Lênin. Đồng thời nó cũng
là thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong
các lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
1.2. Nội dung cơ bản bản của phép biện chứng duy vật
1.2.1. Hai nguyên lý cơ bản và ý nghĩa phương pháp luận của nó
Sự phong phú, đa dạng của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội,
tư duy quy định nội dung phép biện chứng duy vật, bao gồm nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển. Đây là hai nguyên lý có ý nghĩa
khái quát nhất.
Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nội dung cơ bản
của phép biện chứng duy vật, mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ sự quy định sự
tác động qua lại, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa
các mặt của một sự vật, của một hiện tượng. Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là
tính thống nhất vật chất của thế giới, theo đó, các sự vật, hiện tượng trong thế
giới dù có đa dạng, dù có khác nhau như thế nào đi nữa, thì cũng chỉ là những
dạng cụ thể khác nhau của một thế giới vật chất duy nhất. Nó có tính khách
quan, phổ biến và đa dạng, phong phú, chúng giữ những vai trò khác nhau quy
định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

động nhận thức và thực tiễn chúng ta phải quán triệt nguyên tắc phát triển.
Nguyên tắc phát triển có nghĩa là khi xem xét bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng
phải đặt chúng trong sự vận động, sự phát triển, vạch ra xu hướng biến đổi,
chuyển hoá của chúng.
Xem xét sự vật theo nguyên tắc phát triển còn phải biết phân chia quá
trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn. Trên cơ sở ấy để tìm ra
phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến
11
triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tuỳ theo sự phát triển đó có
lợi hay có hại đối với đời sống của con người.
Nguyên tắc phát triển cũng góp phần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ,
định kiến trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của chúng ta.
1.2.2 Ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và ý nghĩa
phương pháp luận của nó
Bên cạnh hai nguyên lý, phép biện chứng duy vật còn bao hàm ba quy
luật phổ biến khái quát nguồn gốc, cách thức, khuynh hướng về sự vận động,
phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Đó là quy luật chuyển hóa từ những sự
thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại, quy luật thống
nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định.
Là một trong những quy luật trọng yếu nhất về sự phát triển và biến đổi của
thế giới khách quan, quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại chỉ ra cách thức của sự vận động và phát
triển của sự vật, hiện tượng. Bất kì sự vật nào cũng đều là thể thống nhất của hai
mặt chất và lượng. Chúng gắn bó hữu cơ với nhau, quy định lẫn nhau, trong đó
lượng là cái thường xuyên biến đổi, chất là cái tương đối ổn định. Sự thay đổi dần
dần về lượng đến một mức độ nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất, sự
vật chuyển hóa, chất mới ra đời thay thế chất cũ. Đồng thời, khi chất mới ra đời,
sẽ tạo ra một lượng mới phù hợp với nó để có sự thống nhất mới giữa chất và
lượng, biểu hiện ở quy mô, nhịp điệu và mức độ phát triển mới của lượng.
Nắm được nội dung quy luật này, sẽ tránh nôn nóng, chủ quan, đốt cháy

Không chỉ dừng lại ở đó, phép biện chứng duy vật còn chỉ ra khuynh
hướng phát triển của sự vật, hiện tượng qua quy luật phủ định của phủ định. Phủ
định biện chứng là quá trình khách quan, tự thân, là quá trình kế thừa cái tích
cực đã đạt được từ cái cũ, là mắt khâu của quá trình dẫn đến ra đời sự vật mới,
tiến bộ hơn. Quá trình phủ định của phủ định tạo thành sự vận động, phát triển
không ngừng mang tính chu kì của thế giới khách quan. Trải qua một số lần phủ
định, sự vật, hiện tượng dường như lặp lại những giai đoạn đã qua trên cơ sở
13
mới, cao hơn và như vậy, sự phát triển không đi theo đường thẳng mà theo
đường “xoáy ốc”.
Quy luật này có một ý nghĩa phương pháp luận to lớn trong quá trình thay
thế cái cũ bởi cái mới. Nó đòi hỏi phải xuất phát từ những điều kiện khách quan,
cho phép, phải tạo điều kiện, tạo tiền đề cho cái mới chiến thắng cái cũ, phải biết
kế thừa và phát triển sáng tạo những cái tích cực đã đạt được từ cái cũ; đồng thời
phải thấy được tính chất quanh co, phức tạp trong quá trình ra đời cái mới.
Như vậy, ta thấy quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành
những sự thay đổi về chất và ngược lại giải thích rõ nhờ những quá trình nào và
bằng cách nào, các vật thể có những thay đổi và biến hóa về chất lượng; nó chỉ
rõ rằng ngoài hình thức thay đổi về số lượng một cách dần dần, bằng phẳng, khó
nhận thấy, sự phát triển còn bao gồm hình thức: tính liên tục bị gián đoạn, nhảy
vọt từ một trạng thái chất lượng cũ sang một trạng thái chất lượng mới. Quy luật
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập vạch ra những nguồn gốc của mọi
sự phát triển, chỉ rõ sự thôi thúc bên trong cuộc đấu tranh giữa các mặt, các lực
lượng và các khuynh hướng đối lập của các vật thể. Quy luật phủ định của phủ
định phản ánh và nói lên mối liên hệ kế thừa giữa các giai đoạn khác nhau cả sự
phát triển, chiều hướng chủ yếu, khuynh hướng chủ yếu của sự phát triển nằm
trong sự vận động tiến lên từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, tức là phản
ánh và nói lên hình thức “xoáy trôn ốc” phức tạp của sự vận động đó.
Những quy luật trên chỉ là những quy luật quan trọng nhất, chủ yếu nhất
và căn bản nhất của phép biện chứng chứ chưa nói hết được về phép biện chứng.

2.1.1. Kỹ năng sống
2.1.1.1. Khái niệm kỹ năng sống
Kỹ năng sống là một khái niệm không mới và đã có nhiều quan niệm diễn
đạt theo những cách khác nhau.
Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc UNICEF quan niệm : Kỹ năng sống là
cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu
ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng.
Theo tổ chức UNESCO coi: “Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực
hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày”.
Theo tổ chức y tế thế giới WHO: “Kỹ năng sống là những kỹ năng mang
tính tâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình
huống hằng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết
có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hằng ngày”.
Tương đồng với quan niệm của tổ chức y tế thế giới, có quan niệm cho
rằng: “Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã hội liên quan đến những tri
thức, những giá trị và những thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những
hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu
cầu và thách thức của cuộc sống”.
Như vậy kỹ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức - “cái
chúng ta đã biết” và thái độ, giá trị - “cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng”
thành hành động thực tế - “làm gì và làm cách nào” là tích cực nhất và mang
tính chất xây dựng.
16
Khái niệm kỹ năng sống được hiểu khác nhau ở từng quốc gia. Ở một số
nước kỹ năng sống được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng
bệnh. Ở một nước khác lại hướng vào giáo dục hành vi, cách ứng xử, giáo dục
an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng yêu hòa bình.
Kỹ năng sống thường gắn với một bối cảnh để người ta có thể hiểu và
hành động một cách cụ thể. Nó thường gắn với một nội dung giáo dục cụ thể.
Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Nó mang tính

+ Các kỹ năng ra quyết định một cách hiệu quả.
2.1.2. Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường Đại học
Sư phạm Hà Nội trong điều kiện hiện nay
Ở các nước phát triển, việc giáo dục kỹ năng sống cho tất cả các bậc học
được tiến hành từ lâu. Còn ở nước ta, thực trạng vấn đề này còn nhiều hạn chế.
Theo PGS.TS Nguyễn Thanh Bình, giáo dục hiện nay đã quan tâm đến việc giáo
dục kỹ năng sống cho người học. Tuy nhiên, giáo dục kỹ năng sống với ý nghĩa
để đáp ứng với những thách thức của cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc
sống còn phân tán, mang tính sơ khai, tập trung vào một số đối tượng được lựa
chọn ưu tiên với những nội dung còn hạn hẹp. Do đó, giáo dục kỹ năng sống ở
Việt nam chưa đảm bảo quyền được hưởng giáo dục có chất lượng của trẻ em,
quyền được tiếp cận chương trình giáo dục kỹ năng sống phù hợp đã đề ra trong
mục tiêu 3 của chương trình hành động Dakar về giáo dục cho mọi người.
Cụ thể hơn, kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu môi trường và các vấn
đề xã hội, tiến hành đối với hơn 1.000 học sinh, sinh viên thuộc 10 trường Đại
học, Cao đẳng và phổ thông trên toàn quốc năm 2009 cho thấy: “Có trên 95%
các em chưa nhận thức đúng đắn về kỹ năng sống, 77,7% chưa bao giờ được đào
tạo, tập huấn kiến thức về kỹ năng sống và hầu hết các em lúng túng khi trả lời
hoặc chưa biết cách xử lý các tình huống thường gặp trong cuộc sống”. Kết quả
trên đã chứng minh việc giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên rõ ràng còn nhiều
hạn chế.
18
Còn việc giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đã được đưa vào giảng dạy ở một số khoa: công tác xã hội, giáo dục
chính trị, triết học,… với 2 tín chỉ (40 tiết), bao gồm dạy một số kỹ năng quan
trọng: kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết
định và giải quyết nan đề, kỹ năng ứng phó với căng thẳng, kỹ năng xác định giá
trị, kỹ năng tìm kiếm sự hỗ trợ …Và theo kết quả khảo sát, kỹ năng sống của
sinh viên có phát triển. Tuy nhiên, khi xem xét các biểu hiện cụ thể vẫn còn có
những sinh viên ngại ngùng, e dè, thiếu tự tin khi giao tiếp với người khác, trình

2.2.1. Vận dụng nguyên tắc toàn diện vào giáo dục kỹ năng sống cho
sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội trong điều kiện hiện nay
Vận dụng nguyên tắc toàn diện của phép biện chứng duy vật vào giáo dục
kỹ năng sống là một trong những phương pháp tích hợp môn học khá mới và
đem lại hiệu quả không nhỏ, góp phần làm sống động, tăng tính hấp dẫn và khơi
dậy được hứng thú học tập của sinh viên. Đặc biệt, đối với sinh viên Sư phạm,
những người sau này làm nghề truyền đạt kiến thức cho người khác thì lại
càng có ý nghĩa sâu sắc.
Nguyên tắc toàn diện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn là một trong
những nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, quan trọng nhất của phép biện
chứng duy vật. Cơ sở lí luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lí về mối liên
hệ phổ biến. Nguyên tắc toàn diện đòi hỏi, muốn nhận thức được bản chất của
sự vật, hiện tượng chúng ta phải xem xét sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua
lại giữa các bộ phận, yếu tố, thuộc tính khác nhau trong tính chỉnh thể của sự
vật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng ấy với sự
vật, hiện tượng khác, tránh cách xem xét phiếm diện, một chiều. Nguyên tắc
toàn diện đòi hỏi phải xem xét, đánh giá từng mặt, từng mối liên hệ, và phải
nắm được đâu là mối liên hệ chủ yếu, bản chất, quy định sự vận động, phát
triển của sự vật, hiện tượng; tránh chủ nghĩa chiết trung, kết hợp vô
nguyên tắc các mối liên hệ; tránh sai lầm của thuật ngụy biện, coi cái cơ
20
bản thành cái không cơ bản, dẫn đến sự nhận thức sai lệch, xuyên tạc bản
chất sự vật, hiện tượng.
Chúng ta có thể vận dụng vào kỹ năng tự nhận thức bản thân. Như trong
Luận cương về Phoiơbắc, C.Mác khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản
chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”, bởi vậy khi tự nhận
thức về bản thân mình, cần phải xem xét bản thân một cách toàn diện về những
yếu tố cá nhân, như mình là ai, sống trong hoàn cảnh nào, yêu thích điều gì, ghét
điều gì, điểm mạnh và điểm yếu của mình ra sao, mình có thể thành công ở
những lĩnh vực nào…. Đồng thời, phải đặt mình trong mối quan hệ với những cá

ta thấy trong quá trình giao tiếp chúng ta phải chú ý một cách toàn diện tới tất cả
những yếu tố chi phối tới sự thành công của quá trình giao tiếp, như đối tượng
giao tiếp, trang phục, thái độ, cử chỉ, cách sử dụng ngôn ngữ,…
2.2.2. Vận dụng nguyên tắc lịch sử - cụ thể vào việc giáo dục kỹ năng
sống cho sinh viên Sư phạm trong điều kiện hiện nay
Nguyên tắc lịch sử - cụ thể là một trong những nguyên tắc phương pháp
luận cơ bản, quan trọng trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Đặc
trưng cơ bản của nguyên tắc này là xem xét sự hình thành, tồn tại và phát triển
của sự vật, hiện tượng trong điều kiện môi trường cụ thể, hoàn cảnh lịch sử cụ
thể. Điểm xuất phát của nguyên tắc lịch sử - cụ thể là sự tồn tại, vận động, phát
triển của sự vật diễn ra trong không gian, thời gian cụ thể. Trong những điều kiện,
hoàn cảnh khác nhau thì các mối liên hệ và hình thức phát triển của sự vật, hiện
tượng cũng khác nhau. Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn hiện nay, đất nước
đang bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập với nền kinh tế thế
giới thì việc vận dụng nguyên tắc lịch sử cụ thể vào việc giáo dục kỹ năng sống
cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên Sư phạm là một việc hết sức cần thiết.
Ở mỗi độ tuổi khác nhau thì tâm sinh lý của mỗi người có sự thay đổi và
xã hội cũng vậy; luôn có những sự phát triển khác nhau vì vậy đòi hỏi con người
cần phải kip thời thay đổi để thích nghi và tồn tại. Xã hội hiện đại luôn luôn đặt
22
ra những yêu cầu mới buộc chúng ta phải kịp thời trang bị cho mình đầy đủ
những kỹ năng sống thích hợp. Nhưng để có được đầy đủ những kỹ năng sống
thì đó không phải là chuyện một sớm một chiều, mà đó là cả một quá trình tu
dưỡng rèn luyện cả trong trường học lẫn trong trường đời. Một thực tế đã chỉ ra
rằng, sinh viên Sư phạm nhiều người có thành tích cao trong học tập nhưng lại
thiếu những kiến thức kỹ năng sống mà do vậy khi đứng trước những tình huống
có vấn đề đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc đưa ra cách giải quyết hợp lý
nhất. Nguyên tắc lịch sử - cụ thể đã chỉ rõ để nhận thức đầy đủ về sự vật, hiện
tượng, chúng ta phải xem xét chúng trong sự phát sinh, phát triển, chuyển hóa
trong các hình thức biểu hiện với những bước quanh co phức tạp với những

vật, hiện tượng trong quá trình hình thành, phát triển cũng như diệt vong của
chúng cho phép nhận thức đúng đắn bản chất của sự vật, hiện tượng, từ đó mới
có thể định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn. Trong cuộc sống, chúng
ta thường xuyên phải đưa ra các quyết định của bản thân. Quyết định có thể sẽ rất
đơn giản, chỉ cần một "tích tắc" là chúng ta đã có thể cho "ra đời" một quyết định
đúng. Nhưng cũng có những quyết định rất phức tạp đòi hỏi chúng ta phải suy
nghĩ, có thể hàng ngày hàng giờ và đôi khi còn cần phải tham khảo các ý kiến từ
những người khác. Vậy với những quyết định phức tạp thì bạn sẽ làm gì để đưa
ra một quyết định chín chắn cho mình? Trong trường hợp này, bạn hãy tham
khảo và làm theo những "nấc bước" sau đây:
Bước 1: Hiểu vấn đề
- Bạn phải quyết định điều gì?
- Đảm bảo là bạn phải tập trung chính xác vào vấn đề mà gây ra sự rắc rối
Bước 2: Nhận định các giải pháp
- Những lựa chọn của bạn là gì?
- Nghĩ đến các cách mà bạn có thể giải quyết được vấn đề
- Tham khảo ý kiến từ những người khác, có thể là bố mẹ, thầy cô, bạn bè
hoặc những người mà bạn cảm thấy tin tưởng
- Lắng nghe những ý kiến góp ý và phân tích trên cơ sở thực tế của bản thân
24
Bước 3: Đưa ra các lý lẽ tán thành và phản đối của mỗi lựa chọn
- Lựa chọn một số giải pháp thực thi
- Suy nghĩ và so sánh đến ưu điểm, nhược điểm của từng giải pháp
- Xác định hậu quả tiềm tàng và các kết quả có thể đạt được cho mỗi lựa
chọn và ảnh hưởng của nó đối với người khác
Bước 4: Quyết định đâu là giải pháp tốt nhất, sau đó làm theo giải pháp đó
- Kết hợp tất cả các thông tin để quyết định đâu là sự lựa chọn tốt nhất
- Quyết định và thực hiện
- Chịu trách nhiệm về quyết định và hành động của mình.
Từ cơ sở đó khi chúng ta nhìn nhận, đánh giá hay đưa ra quyết định về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status