TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
---------------Q----------------
NGUYỄN THỊ PHƯỢNG
TÌM HIẺU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG • •
•
CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN Tự NHIÊN
VÀ XÃ HỘI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỀU HỌC • • • • THUỘC
HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC • • •
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục học
Người hướng dẫn khoa học Thạc sĩ Trịnh Thị Xinh
Hà Nội, 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy (cô) trong Khoa Giáo dục Tiểu học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và truyền đạt kiến thức
cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong quá trình thực hiện khóa luận này.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn tới
Xinh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
cô giáo - Thạc sĩ Trịnh
suốt quátrình nghiên
Thị
CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN CỦA THựC TRẠNG VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 3 THÔNG
QUA DẠY HỌC MÔN Tự NHIÊN VÀ XÃ HỘI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC
THUỘC HUYỆN YÊN LẠC - TỈNH VĨNH PHÚC............................................................53
2.2.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHU LƯC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẤT
HS: học sinh GV: giáo viên KNS: kỹ năng sống NXB: nhà xuất bản
Phần I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Luật giáo dục 2005 đã ghi rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học
sinh phát triển toàn diện về đạo dức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản,
phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con
người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuấn
bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc” [Điều 27].
Đẻ đạt được mục tiêu này, các nhà trường tiểu học không chỉ quan tâm dạy chữ
mà còn phải dạy cho các em cách sống, cách làm người, hay nói cách khác là giáo dục
kĩ năng sống cho trẻ.
Vậy KNS là gì? KNS là năng lực cá nhân đế thực hiện đầy đủ các chức năng và
tham gia vào cuộc sống hàng ngày, giúp các em thích ứng được với sự thay đổi của xã
hội để có thể sống một cách an toàn và khỏe mạnh. KNS có vai trò vô cùng quan trọng
trong sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh, nó giúp các em chuyển tri thức,
tình cảm, niềm tin thành hành động thực tế mang tính tích cực xã hội, tính xây dựng,
đồng thời giúp các em có được những thành công trong học tập, lao động và rèn
luyện.
Giáo dục KNS chính là chúng ta hướng trẻ đến cuộc sống tích cực trong xã hội
Kĩ năng sống và vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho con người đã xuất hiện và
được nhiều người quan tâm từ xa xưa như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm
ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối
phó với thiên nhiên. Đó là những kĩ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù
họp với đời sống và giai cấp xã hội ở những điểm khác nhau. Nghiên cứu kĩ năng ở mức
độ khái quát, đại diện cho hướng nghiên cứu này có P.Ia.Galperin, V.A.Crutexki,
P.V.Petropxki,... P.Ia.Galperin trong công trình nghiên cứu của mình chủ yếu đi sâu vấn
đề hình thành tri thức và kĩ năng theo lí thuyết hình thành hành động trí tuệ theo giai
đoạn. Nghiên cứu kĩ năng ở mức độ cụ thể, các nhà nghiên cứu kĩ năng ở các lĩnh vực
hoạt động khác nhau như kĩ năng lao động gắn với những tên tuối các nhà tâm lí
-
giáo dục như V.V.Tseburseva, Trần Trọng Thủy; kĩ năng học tập gắn với G.X.Cochiuc,
N.A.Menchinxcaia, Hà Thị Đức; kĩ năng hoạt động sư phạm gắn với tên tuổi
X.I.Kixegops, Nguyễn Như An, Nguyễn Văn Hộ.
Kĩ năng sống có chủ yếu trong các chương trình hành động của UNESCO (Tổ
chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên Hợp Quốc), WHO (Tổ chức Y tế thế giới),
UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) cũng như các chương trình hành động của các
tổ chức xã hội trong và ngoài nước... Ớ hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây
dựng hệ thống kĩ năng của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kĩ năng cụ thể và
các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kĩ năng đó.. .Trong chương
trình này chỉ giới thiệu những kĩ năng cơ bản như: Kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp,
kĩ năng xác định giá trị và kĩ năng ra quyết định.
Năm 1996, thuật ngữ kĩ năng sống được biết đến thông qua cách tiếp cận 4 trụ cột
trong giáo dục thế kỉ XXI: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự
khẳng định mình”. Sau đó, thuật ngữ này được đề cập đến trong chương trình của
UNICEF tại Việt Nam: “Giáo dục kĩ năng sống đế bảo vệ sức khỏe và phòng chống
HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường”.
3. UNESCO: Kĩ năng song - cầu noi tới khả năng con ngưòi. Tiếu ban giáo dục.
UNESCO - 2003.
4. Nguyễn Đức Thạc: Rèn luyện lã năng sổng cho học sinh - một cách tiếp cận về chất
lượng, hiệu quả giảo dục. Tạp chí giáo dục số 226 (kì 2- 11/2009), tr. 52.
5. Nguyễn Thị Thu Hằng: Một sổ vấn để về giáo dục kĩ năng sổng cho học sinh tiểu
học. Tạp chí giáo dục số 204 (kì 2 - 12/2008), tr. 15.
6. Phan Thanh Vân: Giảo dục kĩ năng song - Điều cần cho trẻ. Tạp chí giáo dục số 225
(kì 1 - 11/2009). Tr.23.
7. Nguyễn Quang uấn: Khải niệm kĩ năng sống xét theo góc độ tâm lí học. Tạp chí tâm
lí học, số 6 (111), 6 - 2008.
8. Nguyễn Thị Hường: Giảo dục song khỏe mạnh và kĩ năng sổng trong dạy học Tự
nhiên - Xã hội ở Tiếu học. Tài liệu đào tạo giáo viên tiếu học trình độ đại học,
2007.
Nhìn chung giáo dục KNS cho con người nói chung, cho học sinh nói riêng đã được
nhiều tác giả quan tâm khai thác và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Song chưa
có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3
thông qua môn Tự nhiên và Xã hội
ở một số trường Tiểu học thuộc huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc, nên tôi quyết định
chọn đề tài này để nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiếu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua dạy
học môn Tự nhiên và Xã hội ở một số trường tiểu học thuộc huyện Yên Lạc - tỉnh
Vĩnh Phúc, đồng thời tìm ra nguyên nhân dẫn đến thực trạng, trên cơ sở đó đề xuất
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
4. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3.
trường Tiểu học thuộc huyện Yên Lạc - tỉnh Vĩnh Phúc.
9. Phương pháp nghiên cứu
-
Phương pháp nghiên cứu lí luận.
-
Phương pháp quan sát.
-
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
-
Phương pháp phỏng vấn.
-
Phương pháp thống kê toán học.
10. Cấu trúc đề tài
Ngoài phần Mở đầu, phần Ket luận và Tài liệu tham khảo nội dung chính của
khóa luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chương 2: Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 3 thông qua dạy
học môn Tự nhiên và Xã hội ở một số trường tiểu học thuộc huyện Yên Lạc - tỉnh
dục UNESCO 2003).
-Tổ chức Y tế thế giới (WHO) quan niệm: Kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà con
người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh. Đó là những kĩ năng mang tính tâm lí xã
hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một
cách hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống
của cuộc sống hàng ngày.
(Chu Shiu Kee - Understanding Life Swkijlls, Báo cáo tại hội thảo “Chất
lượng giáo dục kĩ năng sống ”, Hà Nội 23-25/10/2003).
- Thuyết hành vi quan niệm: Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội liên quan đến
những tri thức, những giá trị và những thái độ - là những hành vi làm cho các cá nhân có thể
thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
(Lục Thị Nga: Tích hợp dạy kĩ năng sổng cho học sinh tiếu học qua môn
Khoa học và hoạt động ngoài giờ lên lớp. NXB Giáo Dục Việt Nam, 2009, tr.10).
-
Các quan niệm khác: Tương đồng với quan niệm của Tổ Chức Y tế thế giới (WHO), còn có
quan niệm kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội liên quan đến những tri thức, những
giá trị và thái độ, cuối cùng được thế hiện ra bằng những hành vi giúp cá nhân giải quyết có
hiệu quả các yêu cầu, các thách thức đặt ra của cuộc sống và thích nghi với cuộc sống.
(Nguyễn Thanh Bình. Giảo trình chuyên để giảo dục lã năng sổng. NXB
Đại Học Sư Phạm, 2009)
1.1.3.
Khái niệm học sinh tiếu học
Học sinh tiểu học là trẻ ở độ tuổi từ 6 - 11 tuổi, đang theo học chương trình
-
Các vấn đề về vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng.
-
Các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy, rượu, thuốc lá...
-
Các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản.
-
Các vấn đề về thiên nhiên, môi trường, rủi ro, bạo lực...
-
Các vấn đề về gia đình, cộng đồng...
-
Hòa bình và giải quyết xung đột.
-
Giáo dục công dân.
-
Kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề gồm: kĩ năng thu thập thông tin, kĩ năng phân
tích, kĩ năng thực hành để đạt được kết quả.
-
Các kĩ năng tư duy tích cực: kĩ năng nhận biết thông tin và lĩnh hội nguồn thông tin thích
ứng.
-
Các kĩ năng phát triển và kiểm soát nội tâm gồm: kĩ năng xây dựng tự tin và lòng tự trọng,
các kĩ năng tự nhận thức bản thân bao gồm: nhận thức về quyền lợi, nghĩa vụ, điểm mạnh,
điểm yếu của bản thân, các kĩ năng ấn định mục tiêu.
-
Các kĩ năng kiềm chế cảm xúc: sự kiềm chế tức giận, xử lí trạng thái bồn chồn, kĩ năng xử
lí với trạng thái mệt mỏi, các kĩ năng kiềm chế trạng thái căng thẳng như: tư duy tích cực,
lạc quan và các phương pháp thư giãn.
Việc phân loại kĩ năng sống chỉ mang tính tương đối, tùy thuộc vào khía cạnh xem
xét và đặc thù của từng quốc gia. Mặt khác bởi vì các kĩ năng này có mối liên hệ mật thiết
với nhau, đan xen và bổ sung cho nhau. Nhờ đó con người có thể ứng phó linh hoạt và hiệu
quả đối với những nguy cơ và vấn đề khó khăn trong cuộc sống hàng ngày.
1.3.Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học
Mục tiêu 3 của Chương trình Hành động Dakar về Giáo dục cho mọi người đã yêu
cầu các nước phải đảm bảo cho người học được tiếp cận với chương trình giáo dục kĩ năng
sống phù hợp. Bởi vì, có kiến thức, có thái độ tích cực mới đảm bảo 50% sự thành công,
50% còn lại là những kĩ năng sống.
trẻ em. Một gia đình mải mê với công việc của mình không có điều kiện để quan tâm, chăm
sóc con cái một cách đầy đủ, nhất là về mặt tinh thần, khiến nhiều trẻ rơi vào tình trạng bị
xao nhãng, bị bỏ rơi. Ở một số gia đình thiếu sự hiểu biết, chia sẻ lẫn nhau giữa cha mẹ và
con cái dẫn đến những hiểu lầm, căng thẳng và trẻ tìm đến bạn bè mà chúng cho là có thể
tìm lời khuyên. Một số trẻ em do gia đình khó khăn phải lang thang kiếm sống phụ giúp gia
đình. Tỉ lệ ly hôn gia tăng, bạo lực gia đình, bố mẹ vướng vào các tệ nạ xã hội... đã khiến
nhiều trẻ em bị bỏ rơi, bị khủng hoảng tinh thần một cách nặng nề.
Do đó, việc giáo dục kĩ năng sống là hết sức quan trọng và cần thiết để giúp trẻ rèn
luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình và cộng đồng, có khả năng ứng phó
tích cực trước sức ép của cuộc sống và sự lôi kéo thiếu lành mạnh của bạn bè cùng trang
lứa, phòng ngừa những hành vi có hại cho sức khỏe thế chất và tinh thần của các em, giúp
các em biết lựa chọn cách ứng xử phù họp trong các tình huống của cuộc sống, nó giúp tăng
cường khả năng tâm lý xã hội của các em, khả năng thích ứng và giúp các em có cách thức
tích cực để đối phó với những thách thức trong cuộc sống.
Như vậy, giáo dục kĩ năng sống có tầm quan trọng đặc biệt trong công tác giáo dục.
Bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ XXI mà UNESCO đưa ra thực chất cũng là tiếp cận kĩ năng
sống, nêu lên những vấn đề chủ chốt mà mỗi các nhân cần được trang bị để có một cuộc
sống tốt đẹp cả về vật chất và tinh thần, đó là: “Học để biết, học để làm, học để khẳng định
mình và học để cùng chung sống”. Nhất là trong thời điểm hiện nay ngành giáo dục đang
gấp rút chuẩn bị cho đề án đổi mới toàn diện giáo dục. Chương trình mới được tiếp cận theo
hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học, không chạy theo khối lượng tri thức
mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, động cơ...
vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày. Lúc này việc giáo dục kĩ năng
sống cho trẻ được đặt lên hàng đầu để nhằm đáp ứng được mục tiêu giáo dục và nhu cầu xã
hội.
1.4.Nội dung, nguyên tắc, phương pháp, con đường giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
tiểu học
xử phù hợp trong gia đình, nhà trường và cộng đồng; để bảo vệ môi trường.
- Kĩ năng kiên định và kĩ nẫng từ chối: Kiên quyết giữ vững lập trường và nói lời
từ chối trước những lời rủ rê của bạn bè và người xấu; không tham gia vào những việc làm,
hành vi mang tính tiêu cực.
- Kĩ năng làm chủ bản thân: Biết đảm nhận trách nhiệm, cam kết thực hiện công
việc và biết ứng phó với căng thẳng trong những tình huống của cuộc sống một cách tích
cực.
- Kĩ nãng giao tiếp: Tự tin khi giao tiếp; lắng nghe tích cực; phản hồi xây dựng; bày
tỏ sự cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ bạn bè trong lớp, trường, những người có hoàn cảnh khó
khăn.
- Kĩ năng hợp tác: Khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và cùng
chung sức làm việc có hiệu quả với những thành viên khác, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong
một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung.
- Kĩ năng tư duy phê phán: biết phê phán, đánh giá các ý kiến, hành động, lời nói,
việc làm, các hiện tượng trong đời sống hàng ngày.
- Kĩ năng tìm kiếm và xử lỉ thông tin: Biết tìm kiếm và xử lí thông tin đế giải quyết
vấn đề trên cơ sở vận dụng tư duy phê phán và sáng tạo.
1.4.2.
Nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
1.4.2.1. Tương tác
KNS không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tự đọc tài liệu mà phải
thông qua các hoạt động tương tác với người khác. Việc nghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ
giúp HS thay đổi nhận thức về một vấn đề nào đó. Nhiều KNS được hình thành trong quá
trình HS tương tác với bạn cùng học và những người xung quanh (kĩ năng thương lượng, kĩ
năng giải quyết vấn đề...) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong nhà
trường. Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác, học sinh có dịp thể hiện các ý
tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá và xem xét lại những kinh
1.4.2.5 Thời gian - môi trường giảo dục
Giáo dục KNS cần thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc và thực hiện càng sớm càng tốt đối
với trẻ em. Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo cơ hội cho HS áp dụng kiến thức và
kĩ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống.
Giáo dục KNS được thực hiện trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng. Người
tổ chức giáo dục KNS có thể là bố mẹ, là thầy cô, là bạn cùng học hay các thành viên cộng
đồng. Trong nhà trường phổ thông, giáo dục KNS được thực hiện trên các giờ học, trong
các hoạt động lao động, hoạt động đoàn thể - xã hội, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lóp
và các hoạt động giáo dục khác.
1.4.3.
Một so phương pháp dạy học tích cực
Các phương pháp tạo sự tương tác và vai trò tham gia của người học trong
việc học và thực hành kĩ năng được ghi nhận qua kinh nghiệm của nhiều quốc gia là thiết
thực và có ý nghĩa quyết định trong các chương trình giáo dục KNS. Nó vận dụng nguyên
tắc lấy người học làm trung tâm, dựa vào kinh nghiệm sống và nhu cầu của người học. Đây
là các phương pháp học tập chủ động: động não, thảo luận nhóm, đóng vai, nghiên cứu tình
huống, kể chuyện, trò chơi....
Một số phương pháp dạy học tích cực như:
1.4.3.1.Phương pháp thảo luận nhóm
- Bản chất: về bản chất, phương pháp này là tổ chức cho trẻ bàn bạc, trao đổi trong nhóm
nhỏ về một chủ đề xác định.
-Ưu, nhược điềm:
+ Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi trẻ tham gia một cách chủ
động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho họ có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến
Ưu, nhược điêm:
+ Đây là phương pháp có thể thu thập được nhiều ý kiến nhất, nhiều thông tin từ nhiều
người nhất trong thời gian ngắn nhất.
+ Tuy nhiên, nếu giáo viên không nắm vững cách tiến hành sẽ biến thành phương pháp
thảo luận hoặc hỏi đáp.
-
Cách tiến hành:
+ Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm.
+ Khuyến khích người học đóng góp ý kiến (bằng lời hoặc ghi ra giấy nhỏ) càng nhiều
càng tốt.
+ Liệt kê tất cả mọi ý kiến lên bảng hoặc giấy to, không loại trừ ý kiến nào, trừ trường
hợp trùng lặp.
+ Phân loại các ý kiến của người học.
+ Làm sáng tỏ các ý kiến chưa rõ ràng.
+ Tổng hợp ý kiến của người học, hỏi xem có thắc mắc hay bổ sung gì không.
1.4.3.3. Phương pháp đóng vai
- Bản chất: Là phương pháp tổ chức cho người học thực hành, “làm thử” một số cách ứng
xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp nhằm giúp người học suy
nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một cách ứng xử cụ thể mà họ quan sát
được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này, mà điều quan trọng hơn
là sự thảo luận phần diễn ấy.
-Ưu, nhược điềm:
+ Người học được rèn luyện, thực hành những kĩ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong
môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn.
+ Gây hứng thú, chú ý cho người học.
Phương pháp trò chơi có những ưu điểm sau:
+ Qua trò chơi người học có cơ hội thể nghiệm những thái độ, hành vi của mình. Chính
nhờ sự thế nghiệm này mà hình thành ở họ niềm tin vào những thái độ, hành vi tích cực, tạo
ra động cơ bên trong cho những hành vi, ứng xử trong cuộc sống.
+ Thông qua trò chơi, người học sẽ được rèn luyện khả năng quyết định lựa chọn cho
mình cách ứng xử đúng đắn, phù hợp, được rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá hành vi.
+ Gây hứng thú học tập cho người học, tạo không khí sôi nổi tự nhiên, giúp người học
tiếp nhận những nội dung giáo dục một cách nhẹ nhàng, sinh động và có hiệu quả cao.
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế như: nếu tổ chức không tốt sẽ dễ
làm mất thời gian, ảnh hưởng đến hoạt dộng tiếp theo của tiết học.
- Cách thức tiến hành:
Trò chơi có thế tiến hành theo các bước sau:
+ Lựa chọn trò chơi: trên cơ sở, mục tiêu, nội dung giáo dục mà giáo viên lựa chọn trò
chơi cho phù hợp. Trên cơ sở đó, chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho trò chơi.
+ Giới thiệu và giải thích trò chơi: giới thiệu và giải thích trò chơi phải ngắn gọn, dễ
hiểu để người học hiểu rõ cách chơi, luật chơi.
+ Tiến hành chơi: Có thể tiến hành chơi theo từng cá nhân, đại diện các đội, các nhóm
chơi hoặc cả lớp tùy thuộc vào nội dung chơi. Để tạo không khí sôi nổi cần có sự cổ động
viên, cổ vũ của nhiều người. Giáo viên (hoặc đại diện học sinh) làm trọng tài theo dõi trò
chơi để có những nhận xét, đánh giá khách quan.
+ Ket thúc trò chơi: Cả lớp nhận xét đánh giá kết quả chơi, trên cơ sở có giáo viên nhấn
mạnh những điếm cần lưu ý qua trò chơi.
1.4.4.
Các con đường giáo dục kĩ năng sống
Đe giáo dục KNS cho học sinh tiểu học cần có các con đường giáo dục chủ
kiện và con đường tốt nhất để phát triển KNS cho học sinh tiểu học.
Yêu cầu trong việc lồng ghép, tích hợp giáo dục KNS phải không làm ảnh hưởng tới
việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình môn học cũng như nội dung hoạt động giáo
dục cho HS. Giáo viên phải có năng lực, kỹ năng thiết kế bài giảng theo hướng lồng ghép,
tích họp; biết xác lập các mục tiêu của bài giảng và nội dung giáo dục KNS dự kiến đưa
vào; xác định phù họp các nội dung giáo dục KNS tích hợp vào nội dung bài học có ưu thế;
giáo viên phải có kĩ năng, kiến thức sâu và rộng, nghiệp vụ sư phạm vững vàng. Đặc biệt
phải phát huy được tính tích cực của học sinh, học sinh cần có thái độ, hứng thú tích cực đối
với các môn học và những nội dung giáo dục KNS được tích họp trong bài học. Những kiến
thức lồng ghép, tích hợp trong bài học có ưu thế cho học sinh tiếu học cần đơn giản dễ hiểu,
gắn với đặc thù địa phương và thói quen vùng miền phù hợp với học sinh tiểu học.
Khi đánh giá kết quả môn học và kết quả hoạt động giáo dục tích hợp, giáo viên cần
xây dựng tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục lồng ghép KNS và cần phản hồi thông tin tới
người học, tới phụ huynh về KNS của HS.
1.4.4.2.
Tô chức hoạt động giảo dục ngoài giờ lên lớp tích hợp nội dung giảo dục kĩ năng
sổng
Ngoài việc tích hợp giáo dục KNS thông qua việc giảng dạy các môn học có ưu thế,
còn có các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Hoạt động này gắn bó
chặt chẽ với các hình thức giáo dục qua dạy học giúp học sinh không những củng cố, mở
rộng những tri thức mà còn hình thành được thái độ tình cảm, rèn luyện được hành vi, kĩ
năng thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như thi tìm hiểu, thuyết trình theo
chủ đề, xử lý tình huống, các hoạt động tham quan dã ngoại, xâm nhập thực tế sẽ giúp cho
học sinh tiếp cận với thực tế, đi sâu vào một chủ đề và làm quen với các tình huống thực
tiễn trong đời sống. Những hoạt động này thường thu hút và gây hưng phấn cho HS, tạo
điều kiện để HS thực hành và tăng cường những kĩ năng sống theo những cách thức phù