Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông qua môn tự nhiên và xã hội lớp 1, 2, 3 ở một số trường tiểu học thuộc khu vực thị xã phúc yên - Pdf 31

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo ở bất cứ thời điểm nào cũng đều hướng tới mục
tiêu là phát triển toàn diện học sinh cả về đức, trí và các năng lực khác cho
học sinh. Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của
sự phát triển xã hội. Cùng với xu thế phát triển của thời đại, giáo dục phổ
thông đã và đang được đổi mới mạnh mẽ theo bốn trụ cột của giáo dục thế kỉ
XXI, mà thực chất là cách tiếp cận kĩ năng sống, đó là: Học để biết, học để
làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống. Xuất phát từ đặc
điểm của xã hội hiện nay, nên việc hình thành và phát triển kĩ năng sống trở
thành một yêu cầu quan trọng của nhân cách con người hiện đại.
Kĩ năng sống có vai trò vô cùng quan trọng trong sự hình thành và phát
triển nhân cách học sinh, nó giúp các em chuyển tri thức, tình cảm, niềm tin
thành giá trị xã hội, thành hành động thực tế mang tính tích cực xã hội, tính
xây dựng, đồng thời giúp họ có được sự thành công trong học tập, lao động
và rèn luyện. Kĩ năng sống như là cây cầu giúp học sinh vượt qua những bến
bờ thử thách, ứng phó với thay đổi của cuộc sống hằng ngày, giúp các em
thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ đối với cá nhân, tập thể và xã hội. Nhờ có
kĩ năng sống mà các em làm chủ trong mọi tình huống, thích nghi với cuộc
sống không ngừng biến đổi.
Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện
đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi thói
quen tiêu cực trên sơ sở giúp người học có tri thức, giá trị, thái độ và các kĩ
năng thích hợp. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh có thể tiến hành bằng hai
con đường: tổ chức kĩ năng sống, tiếp cận kĩ năng sống cho học sinh thông
qua nội dung các môn học và thông qua các hoạt động giáo dục.


đối mới ở Việt Nam:


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Năm 1996, thuật ngữ kĩ năng sống được biết đến thông qua cách tiếp
cận về 4 trụ cột trong giáo dục của thế kỉ 21: “ Học để biết, hoc để làm, học
để cùng chung sống, học để tự khẳng định”. Sau đó, thuật ngữ này được đề
cập đến trong chương trình của UNICEF tại Việt Nam: “Giáo dục kĩ năng
sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên
trong và ngoài nhà trường”.
- Năm 2000, theo chương trình hành động “Giáo dục cho mọi người”
tại Diễn đàn giáo dục thế giới, giáo dục kĩ năng sống đã được xem như một
nội dung của chất lượng giáo dục của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
- Năm 2003, các nhà nghiên cứu, các nhà giáo dục ở Việt Nam mới
hiểu đầy đủ hơn về Kĩ năng sống sau hội thảo “ Chất lượng giáo dục và kĩ
năng sống” do UNESCO tổ chức tại Hà Nội.
- Năm 2005, nhóm các tác giả của Viện Chiến lược và chương trình
giáo dục đã có công trình nghiên cứu đầu tiên: “ Giáo dục kĩ năng sống ở Việt
Nam.” Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến các nội
dung cơ bản: các quan niệm về kĩ năng sống; cơ sở pháp lý của giáo dục Kĩ
năng sống ở Việt Nam; giáo dục Kĩ năng sống ở các bậc học; cách thức giáo
dục Kĩ năng sống; đánh giá về giáo dục Kĩ năng sống ở Việt Nam; những
thách thức và định hướng giáo dục Kĩ năng sống trong tương lai. Đây là công
trình nghiên cứu quan trọng, làm cơ sở, nền tảng cho các công trình nghiên
cứu tiếp theo về Kĩ năng sống ở Việt Nam.
- Ở bậc tiểu học, vấn đề giáo dục Kĩ năng sống đã được quan tâm
nhưng chỉ được thực hiện tích hợp thông qua các môn học ở trong nhà trường.

thực hiện giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong các nhà trường phổ thông.
3. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh tiểu học thông qua môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3. Từ đó dề
xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh thông qua môn học này.


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

4. Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học thông
qua môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3.
5. Khách thể nghiên cứu :
Thực trạng về việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học nói
chung.
6. Phạm vi nghiên cứu:
Ở một số trường tiểu học thuộc khu vực thị xã Phúc Yên.
7. Giả thuyết khoa học:
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học đã được chú trọng
nhưng hiệu quả của nó chưa được cao. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực
trạng nói trên : do nhận thức của giáo viên, do nội dung chương trình không
phù hợp, do sử dụng phương pháp chưa hợp lí, hình thức tổ chức dạy học
chưa phù hợp…
Nếu phát hiện đúng thực trạng về việc giáo dục kĩ năng sống cho học
sinh tiểu học thông qua môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1, 2, 3 và đề xuất những
biện pháp hợp lý để khắc phục thực trạng thì hiệu quả giáo dục kĩ năng sống
trong nhà trường tiểu học nói chung và thông qua môn Tự nhiên và Xã hội nói

khu vực thị xã Phúc Yên.
Chương 4: Nguyên nhân của thực trạng và một số biện pháp khắc phục
thực trạng.


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KĨ NĂNG SỐNG VÀ GIÁO DỤC
KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC.
1.1.Khái niệm kĩ năng sống
Hiện nay có khá nhiều quan niệm về kĩ năng sống. Tùy từng góc nhìn
khác nhau, người ta có những quan niệm về kĩ năng sống khác nhau. Chẳng
hạn:
Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc
(UNESCO): Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức
năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày – đó là những kĩ năng cơ bản như
: kĩ năng đọc, viết, làm tính,…
- Theo tổ chức Y tế Thế giới ( WHO): Kĩ năng sống là những kĩ năng
thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh. Đó là
những kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp được vận dụng
trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người
khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống
hàng ngày. [8]
- Theo thuyết hành vi: Kĩ năng sống là những kĩ năng tâm lí xã hội liên
quan đến những tri thức, những giá trị và những thái độ - là những hành vi
làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu
và thách thức của cuộc sống.[4].

cảm, nhận ra thiện cảm của người khác.
1.2.2. Cách phân loại của Tổ chức Qũy nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
Tổ chức UNICEF chia kĩ năng sống thành 3 nhóm kĩ năng cơ bản:
- Nhóm kĩ năng nhận thức và sống với người khác
- Nhóm kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình
- Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả.
1.2.3. Cách phân loại của UNESCO
UNESCO cho rằng có thể chia kĩ năng sống thành 2 nhóm kĩ năng lớn:


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Nhóm 1: Bao gồm các kĩ năng sống được thể hiện trong các lĩnh vực
chung như: Kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng cảm xúc, kĩ năng xã hội.
Nhóm 2: Gồm các kĩ năng sống được thể hiện trong các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội như:
- Các vấn đề về vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng
- Các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy, rượu, thuốc
lá,…
- Các vấn đề về giới tính, sức khỏe sinh sản
- Các vấn đề về thiên nhiên, môi trường, rủi ro, bạo lực…
- Các vấn đề về gia đình, cộng đồng…
- Hòa bình và giải quyết xung đột
- Giáo dục công dân
- Bảo vệ thiên nhiên và môi trường
- Phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ
Như vậy, có nhiều cách phân loại khác nhau về kĩ năng sống. Điều đó
càng nói lên tính đa dạng, phức tạp, phong phú về các biểu hiện cụ thể của

công dân.
Sự phát triển nhanh chóng của xã hội hiện đại trên tất cả các lĩnh vực
đã có tác động to lớn đến cuộc sống của mỗi gia đình theo cả hai chiều tích
cực và tiêu cực, điều đó làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của học
sinh lứa tuổi tiểu học nói riêng, ở mọi bậc học nói chung. Một số gia đình mải
mê với công việc mà bỏ bê, sao nhãng tới việc quan tâm, chăm sóc con cái
khiến trẻ bị thiếu hụt về tinh thần; một số khác lại thiếu sự hiểu biết, chia sẻ
với nhau giữa bố mẹ và con cái buộc chúng phải tìm đến với bạn bè mà chúng
cho rằng có thể tìm thấy lời khuyên; hoặc có một số gia đình do hoàn cảnh
khó khăn nên trẻ phải lang thang kiếm sống. Tỉ lệ ly hôn gia tăng, bạo lực gia
đình, bố mẹ vướng vào các tệ nạn xã hội ngày càng phổ biến… đã khiến
nhiều trẻ bị bỏ rơi và bị khủng hoảng tinh thần.
Lứa tuổi học sinh tiểu học bao gồm trẻ em có độ tuổi 6-7 tuổi đến 1112 tuổi. Mỗi học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên với một nhân cách


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

đang hình thành, đang phát triển. Mỗi em đều có những đặc điểm chung của
lứa tuổi tiểu học nhưng cũng có những đặc điểm riêng, từ cá tính, từ tâm lí, trí
tuệ, thể chất… cho đến những nhu cầu khả năng tiềm ẩn. Nhà trường cần có
chiến lược khơi dậy và phát triển đầy đủ khả năng đó. Theo chương trình mới,
giáo viên tập trung vào dạy cách học, học sinh học cách học, cách nhận biết
nhu cầu và học phương pháp tự học. Giáo viên coi trọng và khuyến khích học
sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, tự phát hiện và giải quyết vấn đề
của bài học. Học sinh, do đó có thể tự chiếm lĩnh các kiến thức: trước hết biết
vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập trên lớp, sau đó vận dụng sáng tạo
vào việc giải quyết một cách hợp lí các tình huống diễn ra trong đời sống của
bản thân, gia đình và cộng đồng theo cách riêng của mình.

nền tảng, kĩ năng tâm lí xã hội và kĩ năng giao tiếp ứng xử. Trong mỗi nhóm
kĩ năng nêu trên lại gồm nhiều kĩ năng khác, ví dụ như kĩ năng nhận thức, kĩ
năng đương đầu với cảm xúc, kĩ năng xử lí tình huống, kĩ năng tương tác, kĩ
năng làm việc theo nhóm, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đạt mục tiêu, kĩ năng
kiên định…
Giáo dục kĩ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi của
người học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực
chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực có hiệu quả để
nâng cao chất lượng cuộc sống của cá nhân và góp phần phát triển bền vững
cho xã hội.
Đồng thời giáo dục kĩ năng sống cần được thực hiện thống nhất trong
nhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện (theo các lĩnh vực văn hóa xã hội,
theo các loại hình hoạt động của con người, theo cả bốn trụ cột trong giáo dục
thế kỉ XXI : học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người, học
để tự khẳng định mình). Thông qua quá trình dạy học và giáo dục vừa hướng
tới mục tiêu hình thành khả năng tâm lí xã hội để người học có thể vượt qua
những thử thách của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ,
hành động, phát triển toàn diện các chỉ số thông minh và các lĩnh vực trí tuệ
xúc cảm, trí tuệ xã hội.


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Theo quan niệm mới, trí tuệ là kết quả tương tác của con người với môi
trường sống, đồng thời cũng là tiền đề cho sự tương tác ấy. Trong khi tương
tác với môi trường sống, đòi hỏi con người phải có sự tương tác với môi
trường xã hội. Việc cùng sống và hoạt động trong cộng đồng với nhiều người
khác đòi hỏi phải có sự chú ý đến các quy luật xã hội, đồng thời sự chuẩn

cố những hành vi lành mạnh và hướng tới cuộc sống tốt hơn cho mọi người
trong cộng đồng. Tuy nhiên, còn rất hạn chế sử dụng những thông điệp mang
tính đe dọa để động viên sự thay đổi hành vi.
- Giáo dục theo quy mô nhỏ và cần độ lâu dài về thời gian để động viên
người tham gia chấp nhận những hành vi mới, để dạy mô hình các kĩ năng
cần thiết nhằm đạt được những hành vi đó, để tiếp tục củng cố những kĩ năng
mới cho đến khi người tham gia cảm thấy có thể thực hiện được những hành
vi lành mạnh.
- Khuyến khích tư duy phê phán trong các tình huống lựa chọn: Mỗi cá
nhân thường thích chấp nhận những hành vi mới nếu họ được lựa chọn nó
trong số những phương án có thể trên cơ sở tự phân tích, phê phán và tìm ra
phương án phù hợp với mình. Cho nên phương pháp giáo dục kĩ năng sống
vần hướng tới phát triển kĩ năng tư duy phê phán giúp người tham gia học
được rất nhiều lựa chọn khi giải quyết những tình huống khó khăn.
- Tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi hành vi: Vì sự thay đổi sẽ
dễ dàng hơn nếu môi trường cũng khuyến khích sự thay đổi đó đối với cá
nhân, nên các chương trình giáo dục kĩ năng sống cần chú trọng cộng tác với
cộng đồng một cách toàn diện để tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi.
Tăng cường sử dụng giáo dục đồng đẳng: Người mang ảnh hưởng có
thể làm thúc đẩy những thay đổi, nên phương pháp đồng đẳng có thể được bổ
sung vào các chương trình giáo dục kĩ năng sống để tạo cơ sở thuận lợi cho sự
thay đổi, cũng như chấp nhận hành vi mẫu của người khác. Tập huấn cho


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

người có tác động ảnh hưởng để họ có thể đóng vai trò mẫu trong nhóm của
mình có thể tăng đáng kể tác động của chương trình.


con người ít có cơ hội để học khả năng tâm lí xã hội qua truyền thống và văn
hóa cộng đồng hơn trước đây. Mọi người đều thiếu khả năng tâm lí xã hội và
phát triển. Vì vậy cần tăng cường năng lực tâm lí xã hội cho người học ngay
trong đời sống nhà trường thông qua giáo dục kĩ năng sống.
Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng kĩ năng sống cần được dạy trong
chương trình của nhà trường hơn là nhiệm vụ biệt lập tách khỏi chương trình
bình thường của nhà trường.[7]
Dạy kĩ năng sống còn cần phải được chứa đựng trong tất cả các môn
khoa học thông qua nhấn mạnh mối quan hệ giữa học tập và các hoạt động
sống hằng ngày. Đồng thời cần coi việc dạy kĩ năng xã hội với tư cách là một
khía cạnh của kĩ năng sống.
1.3.4.2. Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua việc tiếp cận 4 trụ
cột trong giáo dục
Hội nghị giáo dục thế giới đã làm sáng tỏ một quan điểm rằng: Giáo
dục muốn bồi dưỡng năng khiếu và tiềm năng của cá nhân, phát triển cá tính
của người học giúp cải thiện cuộc sống của họ và làm thay đổi xã hội thì cần
phải chú trọng đến việc nắm được các kĩ năng. Bên cạnh các kĩ năng thực
hành, kĩ năng thể chất, chúng ta còn cần thêm các kĩ năng sống – những kĩ
năng làm cho con người có thể học và sử dụng kiến thức để phát triển khả
năng phân tích và phán đoán giúp làm chủ được cảm xúc, cuộc sống và có
quan hệ phù hợp với người khác.[5]
Chương trình hành động Dakar đã tuyên bố rằng: Tất cả thế hệ trẻ và
những người lớn có quyền được hưởng một nền giáo dục đảm bảo cho người
học “ học để biết, học để làm, học để chung sống với mọi người, học để tự
khẳng định mình”. Bốn trụ cột này chính là một cách tiếp cận kĩ năng sống
dựa trên sự kết hợp giữa khả năng tâm lí xã hội (học để biết, học để chung


Khóa luận tốt nghiệp


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Các kĩ thuật quan trọng bao gồm: Động não, phân loại, thảo luận, phản
hồi, những câu hỏi đóng mở. Vai trò của giáo viên là lập kế hoạch, bắt đầu,
hỏi và ghi nhận. Vai trò của người học là chia sẻ, trao đổi và phân tích kiến
thức của họ bằng cách trả lời các câu hỏi quá trình và ghi nhận thông tin.
Bước 2 : Kết nối
- Mục tiêu: Giới thiệu những thông tin và kĩ năng mới bằng cách xây
dựng cầu nối để gắn kết kinh nghiệm trước đó của người học (cái đã biết) và
cái chưa biết (thông tin mới). Kết nối kinh nghiệm của người học và chủ đề
bài học.
- Tiến trình: Giáo viên giới thiệu mục tiêu của bài học và liên hệ với
những kiến thức thu thập được chia sẻ trong bước khám phá. Giáo viên sau đó
tổ chức giới thiệu những thông tin mới và kiểm tra sự nắm bắt thông tin mới,
cung cấp ví dụ bổ sung (nếu cần) để người học có thể
hiểu được.
- Các kĩ thuật dạy học quan trọng bao gồm: Chia nhóm, trình bày của
người học, thảo luận nhóm, sử dụng các thông tin dạy học, sử dụng mẫu đóng
vai…
Giáo viên giả định vai trò của nhà giáo dục, còn người học đóng vai trò
của người tiếp cận và phản hồi quan điểm của mình, hỏi và trình bày thông
tin.
Bước 3: Thực hành
- Mục tiêu: Tạo cơ hội cho người học thực hành sử dụng những kiến
thức và kĩ năng mới trong ngữ cảnh đầy đủ ý nghĩa. Giáo viên đưa ra những
hướng dẫn để người học tránh được những cách thực hiện không đúng do
chưa hiểu.

cần giáo dục kĩ năng sống qua bài học, hoạt động ngoài giờ lên lớp mà còn
cần phải phối hợp với cộng đồng để tổ chức các hoạt động học tập thông qua
việc giải quyết vấn đề của cộng đồng.


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

1.3.4.4. Thông qua dịch vụ tham vấn
Đó là một quá trình trợ giúp trong đó người cán bộ được đào tạo về
chuyên môn sử dụng các kĩ năng để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống,
xác định và triển khai những giải pháp khả thi trong giới hạn cho phép để
vượt qua những khó khăn mình gặp phải.
Nhà giáo dục dù có thành công trong việc giúp học sinh nhận ra cách
suy nghĩ có thể làm ảnh hưởng đến hành vi, thành công của mình thì nhà giáo
dục vẫn cần phải thử thách niềm tin vào những suy nghĩ không lành mạnh và
phát triển một triết lí sống, niềm tin mới hiệu quả. Chính triết lí và niềm tin đó
là điểm tựa và chi phối cho những thái độ và hành vi tích cực mang tính xây
dựng làm cho họ có kĩ năng sống.
1.3.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục kĩ năng sống
Để đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục kĩ
năng sống nói riêng cần phải xem xét đến các yếu tố sau:
1.3.5.1. Tương tác giữa người dạy và người học
Nhìn chung, trung tâm của mọi việc trong giáo dục là tương tác giữa
người dạy và người học. Điều đó có nghĩa là chất lượng được tạo ra trong quá
trình tương tác này.[11]
1.3.5.2. Nội dung chương trình và tài liệu dạy học
Nội dung giáo dục cần phù hợp với kinh nghiệm, nhu cầu của cả học sinh
nam và nữ, cũng như nhu cầu của xã hội. Các chương trình kĩ năng sống về

“ Nhà trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục
quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng”.
(Điều lệ trường tiểu học, Điều 2, Chương 1)
Nhà trường phải thực hiện chức năng kép vừa dạy chữ vừa dạy làm
người cho các em, nghĩa là vừa trang bị cho các em có kiến thức để hòa nhập,
để tiếp tục học lên đồng thời vừa hình thành nhân cách, đạo đức cho các em
để các em có thể sống và phát triển được trong xã hội luôn biến động như
hiện nay.
Giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường tiểu học không được biên soạn


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

thành một môn học độc lập hay một lĩnh vực học tập cụ thể mà được tiếp cận
thông qua việc thể hiện những nét đổi mới trong chương trình tiểu học hiện
nay và qua việc tích hợp trong một số môn học có tiềm năng như : môn Đạo
đức, môn Tự nhiên và Xã hội (ở các lớp 1,2,3), môn Khoa học (ở các lớp 4,5)
và trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
Môn Đạo đức, trên cơ sở hướng tới mục tiêu cao nhất là hình thành cho
học sinh tiểu học những kĩ năng và hành vi đúng đắn liên quan đến các chuẩn
mực đạo đức thì hầu hết các bài học đạo đức ở tiểu học cũng đã chứa đựng
những nội dung về giáo dục kĩ năng sống. Thêm vào đó để hình thành các
hành vi và chuẩn mực đạo đức cho học sinh thì các phương pháp học tập chủ
động như: động não, sắm vai, thảo luận nhóm, nghiên cứu tình huống, rèn
luyện,...cũng thường xuyên được sử dụng khi dạy môn học này, đều góp phần
làm cho việc giáo dục kĩ năng sống trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.
Môn Tự nhiên và Xã hội (lớp 1,2,3), mô Khoa học (lớp 4,5) cũng là
những môn học có chú trọng nhiều đến giáo dục kĩ năng sống. Trong đó, kĩ

1.3.6.4. Kĩ năng kiên định và kĩ năng từ chối
Kiên quyết giữ vững lập trường và nói lời từ chối trước những lời mời
mọc sử dụng chất gây nghiện; rủ rê tham gia vào các hoạt động tiêu cực của
người xấu hoặc sự lôi kéo chơi bời, bỏ học của bạn bè chưa ngoan, kiên quyết
không tham gia vào việc làm, hành vi mang tính tiêu cực.
1.3.6.5. Kĩ năng ứng phó với tình huống căng thẳng
Học tập, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí phù hợp để có tâm trạng thoải
mái, lành mạnh để tránh gặp những tình huống căng thẳng không cần thiết.
Đồng thời xác định rõ những mối quan hệ giữa bản thân với các đối tượng
xung quanh để có thể chia sẻ, tâm sự, tìm kiếm sự giúp đỡ của người đáng tin
cậy và tìm ra các giải pháp tối ưu khi gặp các tình huống căng thẳng trong
cuộc sống.
1.3.6.6. Kĩ năng ra quyết định
Có khả năng quyết định đúng nên và không nên làm gì để bảo vệ sức
khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; để bảo vệ môi trường; để phòng
tránh bị xâm hại.


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
CHƯƠNG 2

GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC THÔNG
QUA MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI LỚP 1, 2, 3.
2.1. Mục tiêu của chương trình môn Tự nhiên và Xã hội
Sau khi học xong môn Tự nhiên và Xã hội ở Tiểu học , học sinh cần đạt được:
2.1.1. Một số kiến thức cơ bản,ban đầu và thiết thực
- Học sinh có những hiểu biết cơ bản,ban đầu về cơ sở khoa học của vệ
sinh cá nhân,vệ sinh dinh dưỡng,vệ sinh môi trường,nếp sống khoa học,lành

Cấu trúc môn Tự nhiên và Xã hội lớp 1,2,3 gồm 3 chủ đề: Con người
và sức khỏe, xã hội và tự nhiên. Các chủ đề này được mở rộng và nâng cao
theo nguyên tắc từ gần đến xa, từ đơn giản đến phức tạp giúp học sinh có cái
nhìn về con người, thiên nhiên và cuộc sống xung quanh dưới dạng tổng thể
đơn giản. Một số điểm mới chủ yếu về nội dung từng chủ đề như sau:
2.2.1. Chủ đề con người và sức khỏe
Kế thừa và phát triển nội dung: các bộ phận của cơ thể người, nhận biết
các cơ quan, hệ cơ quan của cơ thể và cách vệ sinh. Các mạch nội dung mới
như: vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh.
2.2.2. Chủ đề Xã hội
Kế thừa và phát triển các nội dung: Các thành viên trong gia đình và
công việc của họ, các thành viên trong lớp học và công việc của họ, cơ sở vật
chất của trường học, tỉnh, thành phố, thôn, xóm, làng, xã...phong cảnh và hoạt
động sinh sống của nhân dân, an toàn giao thông…Các nội dung mới: phòng
tránh tai nạn khi ở nhà, an toàn giao thông, một số biển báo an toàn giao
thông, giữ gin vệ sinh nơi công cộng...
2.2.3. Chủ đề Tự nhiên
Kế thừa và phát triển các nội dung: thực vật và động vật, hiện tượng tự
nhiên. Các nội dung mới: Hiện tượng chuyển động của Trái đất, các hiện
tượng: ngày đêm, mùa..



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status