Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt bốn năm học tập tại trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh,
em đã tiếp thu được nhiều kiến thức quý báu mà Quý Thầy, Cô đã truyền đạt cùng
với những kỹ năng cần thiết sẽ giúp em vững vàng hơn khi bước vào thực tiễn công
việc. Em xin chân thành cảm ơn tập thể Quý Thầy, Cô của khoa Kinh tế - Luật
trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình ba tháng thực tập vừa qua, tuy ban đầu còn gặp nhiều khó
khăn trong việc áp dụng kiến thức lý thuyết vào thực tế. Nhưng nhờ sự hướng dẫn
tận tình của giảng viên hướng dẫn Phạm Thanh Tú đã giúp em hoàn thành bài báo
cáo tốt nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn cô Phạm Thanh Tú.
Em cũng xin chân thành cảm ơn Văn phòng Luật sư Quang Trung, Trưởng
văn phòng – Luật sư Vũ Mạnh Hòa và Luật sư tập sự Hoàng Đăng Vĩnh Huy, đã tận
tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập tại Quý Văn
phòng.
Do giới hạn về thời gian thực tập và kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài báo
cáo chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện. Vì vậy,
em rất mong nhận được những ý kiến, hướng dẫn từ Quý Thầy, Cô để bài báo cáo
được hoàn thiện tốt hơn.
Cuối cùng, một lần nữa em xin cảm ơn Quý Thầy, Cô, giảng viên hướng dẫn
Phạm Thanh Tú. Chúc Quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự
nghiệp giáo dục cao quý của mình. Em cũng xin cảm ơn và kính chúc Văn phòng
Luật sư Quang Trung, Luật sư Vũ Mạnh Hòa, Luật sư tập sự Hoàng Đăng Vĩnh Huy
luôn dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công trong công việc.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
………………………………………………………………………
Xã hội chủ nghĩa
Trách nhiệm hữu hạn
Thành phố Hồ Chí Minh
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Số vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và số bị cáo
Bảng 3.2: Động thái diễn biến các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
từ năm 2010 - 2012 (lấy năm 2010 làm gốc so sánh).
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, bên cạnh những thành
tựu quan trọng mà nước ta đã đạt được trên các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội thì
mặt trái của nền kinh tế thị trường mang lại là tình hình tội phạm diễn biến ngày
càng phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện với tính chất, mức độ ngày càng
tinh vi, nguy hiểm hơn. Trong số này, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là
một trong những tội phạm xảy ra khá phổ biến. Tuy nhiên, việc xét xử loại tội phạm
này trong thực tiễn vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc xác định tội danh, quyết
định hình phạt, vấn đề “hình sự hóa” các quan hệ dân sự, quan hệ kinh tế và “phi
hình sự hóa”. Các cơ quan áp dụng pháp luật đôi lúc còn tỏ ra lúng túng trong quá
trình áp dụng pháp luật, do đó, phần nào đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất
lượng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” để nghiên
cứu, nhằm tìm hiểu thực trạng của tội phạm này, qua đó đề xuất một số kiến nghị,
PHẦN 5: KẾT LUẬN
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
PHẦN 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.1 Khái niệm chung về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản
Nước ta đang trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây
dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, với xu hướng toàn cầu hóa và
khu vực hóa, nước ta đã và đang đẩy mạnh hội nhập với thế giới. Việc được các
nước thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO đồng ý cho gia nhập là thành
quả của sự nỗ lực không ngừng trong các chính sách phát triển kinh tế của Việt
Nam. Cùng với đó là tiến trình khu vực hóa hướng đến việc thành lập cộng đồng
chung ASEAN vào năm 2016. Với xu hướng đó việc các giao dịch dân sự, kinh tế,
thương mại diễn ra ngày càng thương xuyên, đa dạng nhiều chiều là một hệ quả tất
yếu của sự phát triển kinh tế, nhưng kèm theo đó là những biến tướng phát sinh.
Việc nhận diện đúng ranh giới giữa giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại với hành
vi phạm tội hình sự để có biện pháp điều chỉnh bằng pháp luật một cách hữu hiệu là
điều rất cần thiết, mang ý nghĩa to lớn. Điều đó nhằm lành mạnh hóa các quan hệ xã
hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự.
Loại bỏ tình trạng “hình sự hóa” các quan hệ dân sự, tránh nhầm lẫn và bỏ lọt tội
phạm. Vì vậy, chúng ta cần phải tìm hiểu nghiên cứu làm rõ mặt khái niệm về tội
phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Tội phạm là một khái niệm được khoa học Luật Hình sự chú trọng nghiên
cứu, tại Điều 8 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được
Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, được sửa đổi, bổ sung tại
Quốc hội khóa 12 ngày 19 tháng 6 năm 2009 (sau đây gọi tắt là BLHS) định nghĩa
như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật
hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân được sửa đổi một lần vào năm
1991. Tuy nhiên, các lần sửa đổi này chỉ sửa đổi hoặc bổ sung các tình tiết tăng
nặng, các khung hình phạt mà vẫn không có mô tả về hành vi khách quan và cũng
không có các văn bản hướng dẫn cụ thể nên việc định nghĩa về tội phạm này và việc
xác định tội phạm trong thực tiễn là khá mơ hồ và gặp nhiều khó khăn.
Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu những bài học kinh nghiệm trong thực tiễn đấu
tranh phòng chống tội phạm và trình độ lập pháp. Ngày 22 tháng 11 năm 1999 Quốc
hội X đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999, theo đó Điều 140 BLHS về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ra đời là kết quả của sự sửa đổi một cách căn bản,
từ hai điều luật riêng rẽ trong BLHS năm 1985. Việc sửa đổi này là hoàn toàn phù
hợp, qua đó giúp định nghĩa được rõ ràng hơn về tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, khắc phục được nhược điểm về mặt khách quan của tội phạm, đã
có mô tả cụ thể trong cấu thành tội phạm, điều này có vai trò quan trọng trong việc
xác định tội phạm và tránh oan sai. Ngày 19 tháng 06 năm 2009, tại Quốc hội XII đã
thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS 1999, theo đó tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 chỉ sửa đổi về yếu tố định lượng cụ thể là
nâng mức định lượng trong cấu thành tội phạm của BLHS 1999 lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản có giá trị từ một triệu đồng trở lên là đã cấu thành tội phạm này
thì được sửa đổi nâng mức định lượng lên bốn triệu đồng.
Quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 BLHS 1999
như sau: “Người nào có một trong những hành vi sau đây: Chiếm đoạt tài sản của
người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới
bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về
hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án
tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ
ba tháng đến ba năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn
.
1 Từ điển tiếng Việt, NXB Từ điển Bách Khoa 2013
2 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 44.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu.
Hiến pháp 1992 và Bộ Luật Dân sự 2005 (BLDS 2005) đã quy định các hình thức sở
hữu ở nước ta hiện nay, theo đó có rất nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu
toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân… Đây là những quan hệ được Luật Hình sự
bảo vệ và bị tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xâm phạm. Khi xâm
phạm đến các quan hệ sở hữu nghĩa là xâm phạm đến các quyền: Quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
Để xâm phạm đến quan hệ sở hữu thì người phạm tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản phải tác động đến tài sản. Tài sản chính là đối tượng tác động của
loại tội phạm này, là đối tượng vật chất mà nhờ đó quan hệ sở hữu phát sinh và tồn
tại. Tài sản mà tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tác động đến là
những tài sản được quy định tại Điều 163 BLDS 2005 gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá
và các quyền tài sản. Để trở thành đối tượng tác động của tội phạm lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản thì những tài sản này phải thỏa mãn một số điều kiện là:
Đối với vật thì vật đó phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, là thước đo giá
trị lao động của con người và là đối tượng của giao lưu dân sự. Những vật có sẵn
trong tự nhiên không phải do con người tạo ra thì không phải là đối tượng tác động
của tội phạm xâm phạm sở hữu, vật là đối tượng tác động của các tội phạm xâm
phạm sở hữu thì không có tính năng đặc biệt. Đối với tiền thì bao gồm tiền Việt
Nam, ngoại tệ, đây là những loại tiền thật và được phép lưu thông, có giá trị thanh
toán.
3
Tài sản bị chiếm đoạt của tội phạm này phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở
lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp luật định tại
điều 140 BLHS.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn
để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay mượn thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người
khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất
hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”
Như vậy, hành vi khách quan của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản trước hết được thể hiện ở dấu hiệu người phạm tội đã nhận được tài sản một
cách ngay thẳng và hợp pháp thông qua các hình thức giao dịch như vay, mượn,
thuê tài sản hoặc các hình thức hợp đồng khác rồi mới thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt toàn bộ hoặc một phần tài sản đã nhận
bằng một trong các thủ đoạn:
Gian dối để không trả lại tài sản, thường xảy ra phổ biến như giả tạo bị mất
tài sản, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản khiến tài sản không còn đủ về số lượng, chất
lượng như yêu cầu của hợp đồng, xóa dấu tích, chứng cứ, các tài liệu quan trọng
chứng minh nghĩa vụ trả lại tài sản, làm thay đổi sai lệch các thông tin khác để thực
hiện hành vi chiếm đoạt.
Bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn sau khi nhận được tài sản một cách
hợp pháp người phạm tội đã bỏ trốn với ý thức cố tình không thanh toán, không trả
lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lí tài sản. Người phạm tội dùng thủ đoạn
này thường rơi vào trường hợp sau khi có được tài sản hợp pháp trên cơ sở hợp
đồng, do làm ăn thua lỗ hoặc vì hoàn cảnh khách quan dẫn đến không có khả năng
thanh toán nợ, trả lại tài sản nên đã bỏ trốn để tránh nghĩa vụ trả lại tài sản. Đây là
dấu hiệu biểu hiện của hành vi chiếm đoạt. Nếu một người nhận được tài sản của
người khác một cách hợp pháp sau đó sử dụng tài sản vào mục đích hợp pháp nhưng
thua lỗ hoặc vì lý do khách quan nào đó khiến cho không có khả năng chi trả lại tài
sản nhưng không bỏ trốn thì đây không phải là tội phạm mà chỉ là một quan hệ dân
sự.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
phải trả và chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã đòi lại. Hậu quả của tội phạm là
thiệt hại về tài sản từ bốn triệu đồng trở lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng thuộc
một trong các trường hợp luật định.
Về mối quan hệ nhân quả, được biểu hiện ở việc hành vi chiếm đoạt tài sản
phải xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và hậu quả chính là kết quả trực tiếp của
hành vi chiếm đoạt tài sản.
Các dấu hiệu khác như về đặc điểm, thời gian… không phải là dấu hiệu bắt
buộc trong mặt khách quan của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
2.2.3 Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người đạt độ tuổi nhất định đã thực hiện hành vi
phạm tội cụ thể trong khi không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm
hình sự.
5
Như vậy, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể chứ không
thể là pháp nhân.
Năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng của một người tại thời điểm thực
hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của
hành vi do mình thực hiện và điều khiển được hành vi đó.
6
Đây là điều kiện tiền đề
để xác định một người có lỗi khi người đó thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
và chỉ những người có năng lực trách nhiệm hình sự thì mới có thể trở thành chủ thể
của tội phạm.
Dấu hiệu thứ hai của một chủ thể bất kỳ là tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Tại
Điều 12 Bộ luật Hình sự của Việt Nam quy định độ tuổi đủ 14 tuổi
7
, chỉ chịu trách
nhiệm đối với trường hợp pham tội rất nghiêm trong do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi
phạm tội quy định tại điều 140 BLHS.
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
2.2.4 Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là những yếu tố bên trong tội phạm, bao gồm:
Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Trong ba yếu tố này, lỗi là dấu hiệu không thể
thiếu, bắt buộc phải có trong cấu thành của tất cả các tội phạm. Các dấu hiệu còn lại
là mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ
quan của mọi cấu thành tội phạm, không mang nhiều ý nghĩa trong việc quyết định
tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
Trong tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, yếu tố lỗi trong mặt chủ
quan của người phạm tội luôn là lỗi cố ý trực tiếp. Khoản 1 Điều 9 BLHS định
nghĩa lỗi cố ý trực tiếp:
“Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:
1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy
trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;…”
Khi thực hiện tội phạm, người phạm tội nhận thức được hành vi chiếm đoạt
tài sản của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành
vi, tức là biết rằng khi thực hiện hành vi chiếm đoạt sẽ để lại hậu quả cho người
khác là thiệt hại, mất mát về tài sản gặp các vấn đề về tình thần và tâm lý nhưng
người phạm tội vẫn mong muốn để cho hậu quả xảy ra, tức là người thực hiện tội
phạm đã cố tình để mặc cho hậu quả xảy ra cho dù có thiệt hại tài sản cho người
khác nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi sai trái, người phạm tội cố tình không trả lại
tài sản sau khi có yêu cầu của người sở hữu tài sản. Việc xác định lỗi trong tội phạm
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần lưu ý hiểu rằng ở tội phạm này, ban đầu
người phạm tội nhận tài sản ngay thẳng thông qua hợp đồng và mong muốn thực
hiện hợp đồng đó. Vì vậy, ở thời điểm này không thực hiện tội phạm nên không có
yếu tố lỗi. Chỉ sau khi nhận được tài sản, đã giao kết hợp đồng xong thì người phạm
tội mới có hành vi chiếm đoạt nên chỉ xét lỗi của người phạm tội tại thời điểm này.
9 Trần Thị Quang Vinh & Vũ Thị Thúy (2011), Luật hình sự Việt Nam, NXB ĐHQGTPHCM, tr. 108
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
2.3 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với
một số tội phạm khác
Qua nghiên cứu về các dấu hiệu pháp lý của tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản đã phân tích ở trên, có thể thấy rằng việc nắm vững các dấu hiệu
pháp lý này là rất quan trọng. Đặc biệt trong thực tiễn hiện nay, có rất nhiều trường
hợp gặp khó khăn trong việc xác định tội danh, vì một số tội phạm có dấu hiệu pháp
lý gần giống với nhau trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc
phân tích, nắm bắt rõ các dấu hiệu pháp lý của tội phạm này giúp chúng ta phân biệt
với các tội phạm khác có dấu hiệu gần giống trong thực tiễn áp dụng.
Phân biệt với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành gần giống nhất với tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trong thực tiễn các cơ quan tố tụng đã gặp rất
nhiều khó khăn khi xác định ranh giới giữa hai tội danh này. Cấu thành cơ bản của
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại điều 139 BLHS như sau:
“Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có
giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng
nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm
đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến
ba năm”
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
có các dấu hiệu ở mặt khách thể, mặt chủ thể và mặt chủ quan là giống nhau, chỉ
khác nhau về mặt khách quan. Cụ thể ở tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
người phạm tội đã nhận được tài sản một cách ngay thẳng, hợp pháp thông qua một
hợp đồng từ người chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản. Trong quá trình trước và
trong khi nhận tài sản người phạm tội không hề có ý định chiếm đoạt tài sản. Chỉ
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
2.4 Đường lối xử lý
Nhà nước ta khi ban hành quy định pháp luật về tội phạm cũng đồng thời quy
định về đường lối xử lý đối với người phạm tội. Đường lối xử lý gồm nhiều biện
pháp mang tính cưỡng chế, bắt buộc của Nhà nước. Các biện pháp xử lý hình sự
cũng rất đa dạng nhưng phổ biến nhất là hình phạt, Điều 26 BLHS định nghĩa:
“Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của nhà nước nhằm tước bỏ
hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội…”
Đường lối xử lý đối với tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tại
Điều 140 BLHS đã quy định gồm bốn khung hình phạt: Khung cơ bản và khung
tăng nặng trách nhiệm hình sự. Theo đó, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản được xử lý như sau:
Khung cơ bản: Khung hình phạt này được quy định tại Khoản 1 Điều 140
BLHS, có mức phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến
ba năm. Biện pháp xử lý này được áp dụng đối với trường hợp phạm tội thông
thường, tội phạm mang tính chất ít nghiêm trọng và không có tình tiết tăng nặng, đã
thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi
triệu đồng. Và trường hợp chiếm đoạt tài sản dưới bốn triệu nhưng gây hậu quả
nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được
xóa án tích mà còn vi phạm.
10
Tình tiết này được hướng dẫn cụ thể tại Thông tư liên
tịch số 02/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BCA – BTP ngày 25 tháng 12
năm 2001, thông tư đã hướng dẫn cụ thể để xác định các tình tiết trên. Vì giới hạn
của đề tài nên sẽ không nghiên cứu cụ thể các tình tiết trên trong bài báo cáo này.
Khung tăng nặng thứ nhất: Đây là biện pháp xử lý đối với những tội phạm
có tính chất nghiêm trọng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được quy
định tại Khoản 2 Điều 140 BLHS, có mức phạt tù từ hai năm đến bảy năm. Áp dụng
10 Đọc: Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BCA – BTP ngày 25 tháng 12 năm
2001 về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật
Hình sự năm 1999.
sản đã thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật khi hình phạt tù là biện pháp xử
11 Đọc: Khoản 3 Điều 20 Bộ luật Hình sự nước CHXHCNVN
12 Đọc: Khoản 2 Điều 49 Bộ luật Hình sự nước CHXHCNVN
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang
Báo cáo thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sĩ – Phạm Thanh Tú
lý được áp dụng chủ yếu. Bên cạnh đó pháp luật cũng đã có quy định thêm các hình
phạt bổ sung đối với tội phạm này, việc áp dụng thêm hình phạt bổ sung đã góp
phần làm tăng hiệu quả của hình phạt chính, hoàn thiện đường lối xử lý và nâng cao
hiệu quả trong công tác đấu tranh, phòng ngừa và chống tội phạm lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản.
PHẦN 3: THỰC TRẠNG VỀ TỘI PHẠM LẠM DỤNG TÍN
NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
3.1 Diễn biến của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Trong những năm qua, tình hình tội phạm hình sự nói chung và tội phạm lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng diễn ra khá phức tạp, nhiều biến tướng
với những thủ đoạn tinh vi gây nguy hiểm cho xã hội, khiến cho công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm gặp nhiều khó khăn.
Trong giai đoạn 2010 – 2012, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản diễn ra khá phổ biến, có chiều hướng tăng, giảm không đồng đều, có giảm
nhưng không đáng kể. Cụ thể, theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao
(sau đây gọi tắt là TANDTC), Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là
VKSNDTC) có thể thấy diễn biến tình hình tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản từ năm 2010 – 2012 diễn ra như sau:
Bảng 3.1: Số vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và số bị cáo
Năm
Tổng số vụ án
phạm tội lạm dụng
Tổng số bị cáo
phạm tội lạm dụng
Tỷ lệ (%)
cho thấy công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm lạm dụng tín nhiệm trong thời
gian này không hiệu quả. Tuy nhiên, năm 2012 số vụ án đã có xu hướng giảm xuống
và số liệu 06 tháng đầu năm 2013 cho thấy cả nước chỉ xảy ra 124 vụ lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản, điều này thể hiện hiệu quả tích cực trong công tác đấu
SVTH: Nguyễn Quốc Quân – MSSV: 1054062231 Trang