Lời nói đầu
Chúng ta biết rằng, đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò vô
cùng to lớn. Nó vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao động.
Là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, không thể thiếu đối với
các ngành sản xuất xã hội và đời sống con người. Điều này cũng được khẳng
định một cách rõ ràng trong Luật Đất đai năm 1993 của nước ta như sau:
“Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất
đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa
bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội ,
an ninh quốc phòng…”.
Việt Nam chúng ta là một nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp,
gắn liền với nền văn minh lúa nước. Người dân chúng ta vẫn sinh sống chủ
yếu bằng hoạt động sản xuất nông nghiệp. Và ngay cả hiện tại, khi đất nước
đang trên đà phát triển, đang trong quá trình CNH-HĐH thì ngành sản xuất
nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP, với một lượng lớn lao
động (khoảng 70% lực lượng lao động) hoạt động trong lĩnh vực này.
Là một huyện nông thôn của tỉnh Hà Tây, nằm trong lưu vực đồng bằng
sông Hồng, có vị trí tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, thị xã Hà Đông; gần thị xã
Sơn Tây, khu du lịch Ba Vì, khu công nghệ cao Láng – Hoà Lạc và nằm
cạnh tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội -Hải Phòng – Quảng Ninh. Vì vậy
Hoài Đức có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội theo
hướng tăng tỉ trọng các ngành phi nong nghiệp. Vì lý do này mà trong những
năm gần đây cơ cấu đất đai của Hoài Đức thay đổi rất nhanh chóng, đất đai
dành cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp – thay vào đó là đất đai
dành cho sản xuất phi nông nghiệp tăng nhanh. Đây là một xu hướng biến
1
1
động phù hợp với quy luật của sự phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên các
vấn đề đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, ổn định đời sống của người
dân và hạn chế những trường hợp vi phạm đất đai trên địa bàn huyện (nhất
là những vi phạm về việc tự ý chuyển nhượng, chuyển đổi, sử dụng đất sai
nhận được sự đóng góp quý báu của các thầy cô giáo và tập thể cơ quan
phòng Tài nguyên và Môi trường để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn,
đồng thời giúp em có thêm kiến thức, kinh nghiệm cho nghề nghiệp của
mình sau này.
Hà Tây, tháng 5 năm 2005
Sinh viên: Nguyễn Duy Dương.
3
3
Phần I
cơ sở khoa học về quản lý Nhà nước
đối với đất nông nghiệp
1. Đất nông nghiệp
Căn cứ vào Luật Đất đai năm 1993 và luật sửa đổi bổ xung một số điều
của Luật Đất đai năm 1998 và 2001 thì đất đai của nước ta được chia ra làm 5
loại cơ bản là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất ở, đất chuyên dùng và đất
chưa sử dụng. Và từ đó đất nông nghiệp được hiểu là đất sử dụng chủ yếu vào
mục đích sản xuất nông nghiệp của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn
nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hay để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Như
vậy trong loại đất nông nghiệp này được chia ra chi tiết như sau:
1. Đất trồng cây hàng năm
1.1. Đất ruộng lúa, lúa màu (Ruộng 3 vụ, 2 vụ, 1 vụ,
chuyên mạ).
1.2. Đất nương rẫy (nương trồng lúa và nương rẫy khác).
1.3. Đất trồng cây hàng năm khác (chuyên rau màu, cây
công nghiệp hàng năm, cây hàng năm còn lại…).
2. Đất vườn tạp
3. Đất trồng cây lâu năm
3.1. Đất trồng cây công nghiệp lâu năm.
3.2. Đất trồng cây ăn quả.
4
hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản. Nó được chia chi tiết
như sau:
1. Đất trồng cây hàng năm
1.1. Đất trồng lúa ( đất chuyên trồng lúa nước, đất trồng lúa nước
còn lại, đất trồng lúa nương).
1.2. Đất cỏ dùng vào chăn nuôi (đất trồng cỏ, đất cỏ tự nhiên có
cải tạo).
1.3. Đất trồng cây hàng năm khác (đất bằng trồng cây hàng năm
khác, đất nương rẫy trồng cây hàng năm khác).
2. Đất trồng cây lâu năm
2.1. Đất trồng cây công nghiệp lâu năm.
2.2. Đất trồng cây ăn quả lâu năm.
2.3. Đất trồng cây lâu năm khác.
3. Đất nuôi trồng thuỷ sản
3.1. Đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn.
3.2. Đất nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt.
6
6
Như vậy cách chia các loại đất theo luật đất đai năm 1993 và 2003 cơ bản
là có sự khác nhau, nhưng với đất nông nghiệp (trong phạm vi nghiên cứu của
chuyên đề) thì thành phần chính vẫn là đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây
lâu năm và đất nuôi trồng thuỷ sản.
2. Đặc điểm và vai trò của đất nông nghiệp
2.1. Đặc điểm của đất nông nghiệp
Đất đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng có những đặc
điểm cơ bản sau:
Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao động
Chúng ta đều biết đất đai là sản phẩm của tự nhiên, nó được coi là nguồn
tài nguyên thiên nhiên quý giá. Quá trình hình thành của nó là một sự thay đổi
trạng thái vật chất tự nhiên (từ đá) trải qua hàng triệu năm. Và nó tồn tại như
Tất cả chúng ta đều nhận thấy một điều hiển nhiên, đất đai có sự giới hạn
về không gian và có vị trí cố định. Trong một phạm vi ranh giới nhất định thì
tổng diện tích tự nhiên của một đơn vị hành chính là không đổi, và ngay cả diện
tích tự nhiên của toàn cầu cũng không đổi. Tuy nhiên, nếu xét trong cơ cấu các
loại đất thì có thể thay đổi bởi điều này phụ thuộc vào nhu cầu sử dụng loại đất
đó của con người. Đối với đất nông nghiệp, theo quy luật của sự phát triển kinh
tế xã hội thì có xu hướng giảm dần và thay vào đó là đất phi nông nghiệp tăng
lên do có sự thay đổi của cơ cấu lao động, cơ cấu ngành. Mặc dù con người có
8
8
thể khai hoang đưa đất chưa sử dụng vào sản xuất nông nghiệp để bù đắp vào
phần diện tích đất nông nghiệp đã chuyển mục đích sử dụng, nhưng phần diện
tích ấy cũng chỉ có giới hạn mà thôi.
Đối với đất nông nghiệp, việc gặp phải giới hạn về không gian, vị trí cố
định và phân bố đất đai có thể sản xuất nông nghiệp được không đều đã tạo ra
một số rào cản cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp ở một số nơi. Như thế
yêu cầu đặt ra ở đây là phải sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, phù hợp với điều
kiện từng địa phương. Từ đó hình thành các vùng chuyên môn hoá, chuyên
canh về sản xuất nông nghiệp và phát triển trao đổi hàng hoá.
Đất đai là tư liệu sản xuất không thể tự sản sinh, có chất lượng không
đều, khả năng sản xuất là vô hạn
Như chúng ta đã khẳng định, đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là sản
phẩm của quá trình phong hoá đá. Phải trải qua hàng triệu năm thì quá trình
phong hoá đá mới cho ra đất. Như thế có thể coi đất đai là không thể tự sản sinh
ra được. Mặt khác, quá trình phong hoá sẽ tạo ra những loại đất khác nhau từ
những loại đá khác nhau. Như thế hàm lượng các chất dinh dưỡng (độ phì
nhiêu) có trong đất sẽ khác nhau ở mỗi nơi. Tuy nhiên việc có độ phì nhiêu
khác nhau ở mỗi loại đất là khó xác định vì đối với mỗi cây trồng khác nhau thì
sự thích hợp và sản phẩm là khác nhau.
Trong quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, đất đai sẽ được phân bổ một cách
tính chất hoá học, lý học… mà đất đai đã cung cấp cho cây trồng chất dinh
dưỡng, giúp cây trồng tồn tại, sinh trưởng, phát triển, cung cấp sản phẩm cho
con người. Như vậy, trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai (đất nông nghiệp)
1
0
1
0
có vai trò to lớn, nó vừa là điểm tựa vừa là cơ sở cung cấp chất dinh dưỡng để
cây trồng có thể sinh trưởng, phát triển được. Đó là nhờ độ phì nhiêu của đất
đai - đây là một yếu tố quyết định đến năng xuất và chất lượng cây trồng.
Những vai trò đó của đất đai (đất nông nghiệp) chính là bản chất vốn có
của nó. Nhưng đất đai còn có những vai trò, giá trị to lớn khác mà không phải
thuộc về tự nhiên, bản chất của nó mà do trong chính quá trình khai thác, sử
dụng con người đã tạo ra nó. Việc này xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống, khi
xã hội ngày một đông người hơn, đất đai trở nên khan hiếm, vô tình nó đã có
giá trị hơn. Điều này khi được phản ánh qua các quan hệ hàng hoá- tiền tệ thì
nó là một nguồn vốn to lớn của đất nước (như Nghị quyết TW7 lần 2 tháng 01
năm 2003 đã khẳng định). Và hàng năm nguồn vốn này đã đóng góp vào ngân
sách Nhà nước là không nhỏ, nó hình thành từ (theo Điều 54 Luật Đất đai năm
2003):
-Tiền sử dụng đất.
-Tiền thuê đất.
-Thuế sử dụng đất.
-Thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất.
-Tiền thu từ việc sử phạt vi phạm pháp luật đất đai.
-Tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại trong quản lý và
sử dụng đất đai.
-Phí và lệ phí trong quản lý, sử dụng đất đai
Không những thế, khi có sự hình thành và phát triển của TTBĐS thì chính
trong bản thân đất đai đã tiềm ẩn một giá trị vô cùng to lớn bởi khi đó đất đai
chỉnh các hoạt động theo những quy luật ấy.
Trong xã hội, con người luôn được đặt ở vị trí trung tâm của mọi hoạt
động và việc quản lý đương nhiên cũng phải hướng vào những mục tiêu, mục
đích của con người. Như vậy, quản lý ta có thể khái quát là sự tác động có
hướng đích của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những
mục tiêu đã định sẵn. Đối với đất đai thì chủ thể quản lý chính là Nhà nước mà
đại diện là các cấp chính quyền, sở ban ngành ở các địa phương. Và đối tượng
của quản lý chính là các hoạt động khai thác và sử dụng đất đai.
Từ những điều này thì quản lý Nhà nước về đất đai là quá trình tác động
bằng các cơ chế chính sách của các cấp chính quyền, các sở ban ngành ở địa
phương vào các hoạt động khai thác sử dụng đất đai nhằm khai thác và sử
dụng đất một cách có hiệu quả và bền vững.
Công tác quản lý Nhà nước về đất đai được phân cấp, phân quyền và phân
công nhiệm vụ cụ thể ở mỗi cấp. Điều này được quy định cụ thể trong nghị
1
3
1
3
định số 91/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ về việc quy định
nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường .
Bộ máy quản lý Nhà nước vế đất đai được cụ thể thành sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước về TN&MT
1
4
1
4
Chính phủ
Các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc
Chính phủ khác
nhim v nng n i vi cỏc c quan chc nng. Nguyờn nhõn sõu xa ca
nhng vn ny l t nụng nghip ang gim nhanh chúng. Vỡ vy ta phi
tin hnh qun lý t nụng nghip. Mt khỏc, do cú nhng li ớch trc mt v
mt kinh t nờn cú nhiu h gia ỡnh ó bt chp lut phỏp m t ý chuyn i,
chuyn nhng trỏi phộp, s dng sai mc ớch, ln chim Vỡ l ny m yờu
cu qun lý i vi t nụng nghip trờn a bn huyn Hoi c li cng phi
t ra.
1
5
1
5
UBND huyện
Chủ tịch UBND huyện
Phòng Tài nguyên và Môi tr ờng
Tr ởng phòng
UBND các xã, thị trấn
Chủ tịch UBND xã, thị trấn
Các phòng ban khác
Phó
Phòng
Cán bộ, nhân viên khác
Cán bộ địa chính, môi tr ờng các xã, thị trấnCán bộ quản lý khác (thuộc cấp xã)
dỏp ng yờu cu qun lý ny, UBND huyn Hoi c ó t chc v
phõn cp b mỏy qun lý t ai trờn a bn huyn (t huyn ti xó, th trn)
nh sau:
S 2: C cu t chc b mỏy qun lý TN&MT
Hoi c (t huyn ti xó, th trn)
Trong ú: biu hin mi quan h phõn cp
biu hin mi quan h cựng cp
Nh vy, phũng Ti nguyờn v Mụi trng huyn Hoi c l c quan
Chúng ta biết rằng, trong các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai thì
nội dung khảo sát, đo đạc và lập bản đồ địa chính là nội dung cơ bản, đầu tiên
để thiết lập một hệ thống thông tin về đất đai . Nói như vậy thì công tác đo đạc,
khảo sát và lập bản đồ địa chính là hết sức quan trọng.Trước hết nó cho biết
được diện tích, hình thể và thực trạng quỹ đất cũng như về địa hình và sự phân
bố của đất đai. Sau khi có những thông tin cơ bản về thửa đất thì những thông
tin này được chuyển thể sang bản đồ và bản đồ địa chính là cơ sở, căn cứ đầu
tiên để thực hiện quản lý Nhà nước về đất đai.
Đối với đất nông nghiệp thì cùng với việc khảo sát đo đạc là công việc
đánh giá, phân hạng đất. Công việc này trước hết là để biết được chất lượng của
đất ra sao. Đồng thời để chia ra các hạng đất khác nhau, làm căn cứ tính thuế sử
dụng đất đối với các cá nhân, tổ chức có sử dụng đất canh tác. Tuy nhiên trong
lĩnh vực này, hiện Nhà nước đang có nhiều những khuyến khích hỗ trợ nông
dân nhằm xoá đói giảm nghèo ở nông thôn, có hướng chuyển đổi cơ cấu cây
1
7
1
7
trồng vật nuôi hợp lý để đẩy nhanh quá trinh CNH nông thôn, đồng thời thúc
đẩy việc khai hoang phục hoá đất và nâng cao hệ số sử dụng đất trong nông
nghiệp . Vì vậy mà thuế sử dụng đất nông nghiệp đang ngày càng được giảm
dần và tiến tới xoá bỏ đối với người nông dân.
Như vậy đây là nội dung quan trọng, là cơ sở đầu tiên để Nhà nước tiến
hành quản lý chặt chẽ về đất đai.
b. Lập, triển khai và giám sát việc thực hiện quy hoạch kế hoạch sử
dụng đất
“Quy hoạch sử dụng đất là việc khoanh định hay điều chỉnh khoanh định
đối với các loại đất cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của
từng địa phương và trong cả nước, là việc tính toán phân bổ việc sử dụng đất cụ
thể về số lượng, chất lượng, vị trí, không gian. Mục tiêu của việc quy hoạch sử
sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết.
- Báo cáo thuyết minh tổng hợp quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế
hoạch sử dụng đất chi tiết.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết đối với trường hợp xét
duyệt quy hoạch sử dụng đất chi tiết.
Hồ sơ được gửi lên phòng Tài nguyên và Môi trường để lấy ý kiến của
các cơ quan có liên quan và phòng có trách nhiệm tổng hợp ý kiến thẩm định
gửi UBND xã để hoàn chỉnh hồ sơ. Sau khi hoàn chỉnh hồ sơ, UBND xã trình
HĐND xã thông qua và kèm theo nghị quyết của HĐND gửi đến phòng Tài
nguyên và Môi trường trình UBND huyện xét duyệt.
Đối với xã (thuộc khu vưc quy hoạch phát triển đô thị) thì việc xét duyệt
được thực hiện bởi cấp tỉnh.
Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất là nhũng công cụ quan trọng để Nhà
nước thực hiện thống nhất quản lý về đất đai. Mà đại diện của Nhà nước ở các
địa phương là những cơ quan chuyên môn về địa chính ở các cấp có nhiệm vụ
tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất trên
địa bàn mình quản lý. Vì vậy mà Nhà nước vẫn có thể thực hiện được quyền
1
9
1
9
định đoạt của mình đối đất đai và nắm được sự chu chuyển của đất đai thông
qua kết quả của quy hoạch kế hoạch sử dụng đất. Đồng thời đảm bảo được việc
sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, bền vững, phù hợp với mục tiêu, chiến lược phát
triển kinh tế xã hội đã đề ra; ngăn chặn xử lý kịp thời những trường hợp lấn
chiếm, sử dụng sai mục đích, tự ý chuyển đổi, mua bán trái phép. Căn cứ vào
quy hoạch kế hoạch sử dụng đất Nhà nước có cơ sở để thực hiện việc giao đất,
cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất hay chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật
nuôi phù hợp với điều kiện tự nhiên từng vùng cũng như phù hợp với chiến
- Khả năng đầu tư thực hiện các dự án công trình có sử dụng đất.
Và với những nội dung sau:
*Về nội dung của quy hoạch sử dụng đất:
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích tổng hợp điều kiện tự nhiên, kinh
tế xã hội và hiện trạng sử dụng đất; đánh giá tiềm năng sử dụng
đất.
- Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất trong kỳ quy
hoạch.
- Xác định diện tích các loại đất phân bổ cho nhu cầu phát triển
kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh.
- Xác định diện tích đất phải thu hồi để thực hiện các công trình dự
án.
- Xác định các biện pháp sử dụng, bảo vệ, cải tạo đất và bảo vệ
môi trường.
- Giải pháp tổ chức thực hiện quy hoạch sử dụng đất.
*Về nội dung của kế hoạch sử dụng đất:
- Phân tích đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất kỳ
trước.
- Kế hoạch thu hồi diện tích các loại đất để phân bổ cho nhu cầu
xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển công nghiệp, dịch vụ; phát
triển đô thị, khu dân cư nông thôn; an ninh quốc phòng.
2
1
2
1
- Kế hoạch chuyển diện tích đất trồng lúa nước và đất có rừng sang
sử dụng vào mục đích khác, chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong
nông nghiệp.
- Kế hoạch khai hoang mở rộng diện tích đất để sử dụng vào các
mục đích.
trách nhiệm chính trong việc không ngăn chặn, không xử lý kịp
thời để xảy ra trường hợp sử dụng đất không đúng quy hoạch kế
hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt tại địa phương.
- Đối với cấp huyện và xã thì phòng Tài nguyên và Môi trường và
cán bộ địa chính xã, thị trấn tổ chức kiểm tra thực hiện quy hoạch
kế hoạch sử dụng đất tại địa phương; phát hiện, xử lý theo thẩm
quyền những trường hợp vi phạm hoặc báo cáo đề nghị xử lý.
- Các quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục
đích sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải theo
đúng quy hoạch kế hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt.
- Hàng năm UBND các cấp có trách nhiệm báo cáo kết quả thực
hiện kế hoạch sử dụng đất của địa phương đến ngày 31/12.
Trong đó: UBND cấp xã báo cáo lên UBND cấp huyện trước
ngày 15/01 năm sau, UBND cấp huyện báo cáo lên cấp tỉnh trước
ngày 31/01 năm sau.
c. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử
dụng đất.
Đất đai của chúng ta thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất
quản lý và đại diện chủ sở hữu. Nhà nước giao đất cho các tổ chức cá nhân sử
dụng dưới các hình thức như giao đất có thu tiền sử dụng đất, giao đất không
thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền hàng năm hay cho thuê đất trả tiền
thuê đất cho cả thời kỳ.Vì Nhà nước thống nhất quản lý , cũng đồng thời đảm
bảo cho đất đai được sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm, bền vững thì các cơ
quan chuyên môn đại diên cho Nhà nước ở địa phương có trách nhiệm quản lý
2
3
2
3
các hoạt động trong lĩnh vực này. Đồng thời việc quản lý tốt lĩnh vực này còn
đảm bảo được nguồn thu cho Nhà nước từ việc thu tiền sử dụng đất. Hiện nay
ích công cộng, phát triển kinh tế. Còn những trường hợp khác như vi phạm
pháp luật về đất đai (sử dụng sai mục đích, không hiệu quả, lấn chiếm, huỷ hoại
đất….), không có người thừa kế, tự nguyện trả lại đất cho Nhà nước, … thì có
những quy định cụ thể trong Luật Đất đai 2003. Trong mọi trường hợp thu hồi
Nhà nước đều phải có quyết định thu hồi, đồng thời cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền phải thông báo cho người sử dụng đất biết lý do phải thu hồi và kế hoạch
di chuyển. Tuỳ trong điều kiện nhất định mà Nhà nước có phương án bồi
thường, đền bù về đất đai, tài sản cụ thể. Người bị thu hồi phải nghiêm chỉnh
chấp hành các quyết định thu hồi.
Cùng với việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất là việc chuyển mục đích
sử dụng đất. Do yêu cầu của việc phát triển kinh tế xã hội, cơ cấu ngành nghề
ở nông thôn đang thay đổi nhanh chóng, nó cần có những cơ sở vật chất để đáp
ứng điều này cho nên đất đai sẽ được chuyển mục đích cho phù hợp. Đất đai
(đất nông nghiệp) đang dần thu hẹp đi để chuyển mục đích sử dụng sang các
ngành phi nông nghiệp. Thế nhưng vai trò và những yêu cầu mà cần từ ngành
sản xuất nông nghiệp là vô cùng to lớn. Do vậy việc quản lý là một sự cần thiết
để tránh tình trạng thiếu đất sản xuất, không đảm bảo được thu nhập cho nông
dân.
d. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp
giấy chứng nhận (GCN) quyền sử dụng đất.
Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đều là những công cụ để quản lý chặt chẽ hơn
về đất đai thông qua việc xây dựng và thiết lập một hệ thống thông tin đầy đủ
về đất đai. Đồng thời bảo vệ quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng
đất.
Trước hết đăng ký quyền sử dụng đất là cơ sở để hình thành nên hồ sơ
địa chính. Từ đây những thông tin về đất đai được hình thành và là căn cứ để
Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất đai trong phạm vi lãnh thổ đảm bảo
2
5