Vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


1
G
§¹i häc Quèc gia Hµ Néi
Trêng §¹i häc Khoa häc X· héi vµ Nh©n v¨n

Trêng §¹i häc Khoa häc X· héi vµ Nh©n v¨n
*** NGUYỄN THỊ XUÂN

NGUYỄN THỊ XUÂN

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT
HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT
HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Chủ nghĩa duy vật lịch sử
Mã số : 62.22.80.05 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. GS. TS Trần Phúc Thăng
2. TS Dương Văn Duyên
Hà Nội - 2012

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*
LLSX
NNL
NXB
PTSX
QHSX
TBCN
XHCN

5
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌALỜI CAM ĐOAN

VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA NGƯỜI LAO
ĐỘNG CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

67
2.1
Những nhân tố tác động đến vai trò của nhà nước trong việc
phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp nước ta
hiện nay
67
2.2
Những thành tựu và hạn chế của nhà nước trong việc phát huy
tính tích cực của người lao động công nghiệp Việt Nam hiện
nay
95
2.3
Những vấn đề đặt ra về vai trò của nhà nước đối với việc phát
huy tính tích cực của người lao động công nghiệp Việt Nam

120
Kết luận chương 2
130
Chương 3
:

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA
NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT HUY TÍNH TÍCH
CỰC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG CÔNG NGHIỆP VIỆT
NAM



1. Tính cấp thiết của đề tài
Đường lối phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, mở cửa hội
nhập quốc tế và chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
đã giải phóng, khơi dậy và phát huy biết bao tiềm năng, trong đó có tiềm năng con
người cho phát triển đất nước. Cùng với việc chủ động, tích cực, sáng tạo của người
lao động vươn lên thích ứng với cơ chế thị trường, mở cửa, hội nhập, vai trò của
Nhà nước cũng được khẳng định và phát huy, nhất là trong việc khơi dậy và phát
huy tính tích cực của con người Việt Nam, trong đó có người lao động công nghiệp.
Chính vì vậy, công cuộc đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh đã luôn tạo ra động lực mạnh mẽ và thu được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử.
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, công nghiệp có vai trò quan
trọng trong giai đoạn thực hiện CNH, HĐH. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
10 năm 2001 - 2010 nhằm: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng
cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn
lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế,
quốc phòng, an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được
nâng cao” [28, tr.89]. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011- 2020 nêu quan
điểm “phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ
yếu và là mục tiêu của sự phát triển” [34, tr.100]. Công nghiệp hiện đại có yêu cầu
cao về tổ chức, kỉ luật, thái độ, tác phong làm việc của chủ thể trực tiếp vận hành.
Lợi thế cạnh tranh của một ngành công nghiệp là “khả năng sáng tạo và đổi mới của
ngành đó” [24, tr.408]. Theo quan niệm này, ngành nào có khả năng đổi mới và
sáng tạo lớn thì ngành đó có khả năng cạnh tranh cao. Hơn nữa, để có khả năng
cạnh tranh cao, các ngành không chỉ cần những nguồn lực phát triển có tính chất
truyền thống như nguồn đất đai sẵn có, NNL mà phải là những nguồn lực tiên tiến


đại hoá và chăm lo ngày một tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động
công nghiệp.

3

CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ và quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
tất yếu phải phát huy hơn nữa vai trò của Nhà nước, vai trò của công dân trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để đạt được mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao khả năng cạnh tranh của
các ngành công nghiệp của nước ta trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trên cơ sở tư
duy mới, cần thiết nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của Nhà nước trong
việc phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp ở nước ta để từ đó hình
thành những chủ trương, chính sách đúng, hợp lòng người góp phần tạo động lực
cho công cuộc đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế. Do vậy, tôi chọn vấn đề: “Vai trò
của Nhà nước đối với việc phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp ở
Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án Tiến sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Thời gian qua, vấn đề vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế và phát
huy tính tích cực của con người đã được rất nhiều người quan tâm, nhiều bài viết
trong và ngoài nước bàn đến. Các bài viết có thể đề cập các cơ chế, chính sách của
nhà nước trong việc tạo động lực cho người lao động như: Đảm bảo lợi ích chính
đáng cho người lao động, vai trò của đào tạo nghề, vai trò của chính sách kinh tế và
chính sách xã hội
Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1996), “Vấn đề con người trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, phân tích việc kích
thích tính tích cực của người lao động một cách hợp lý trên cơ sở kết hợp đúng đắn
các loại lợi ích, môi trường tâm lý xã hội, dân chủ, xét dưới góc độ là động lực đối
với hoạt động và sáng tạo của con người; trách nhiệm quản lý của nhà nước đối với
sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực. Hồ Văn Thông (1998), “Hệ thống chính trị ở

Tiến sĩ Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội, đề cập đến quản lý nhà nước phải làm thế nào để phát huy hiệu quả nhân tố
con người trong phát triển kinh tế. Lê Thị Hồng (2001), “Vai trò của định hướng xã
hội chủ nghĩa của nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay”,
Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, phân
tích tác động của nhà nước tới quá trình xây dựng và phát triển nền KTTT định
hướng XHCN ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao vai trò định
hướng XHCN đối với sự phát triển nền KTTT ở Việt Nam hiện nay.

5

Hoàng Chí Bảo (2003), “Chính sách xã hội - những định hướng và chuẩn
mực trong phát triển”, Thông tin chuyên đề, số 2, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh, phân tích sự thống nhất giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội
trong việc tạo động lực cho người lao động, cơ sở của động lực phát triển xã hội. Đỗ
Văn Quân (2007), “Tính năng động xã hội của người dân trong bối cảnh đổi mới
đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế”, Lý luận chính trị, số 4, cho rằng cơ chế thị
trường buộc con người phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển, con người phải luôn
vươn lên tìm kiếm những cơ may và vận hội mới trong công việc, con người phải có
tính năng động xã hội. Nguyễn Hữu Dũng (2007), “Phát triển khu công nghiệp với
vấn đề lao động - việc làm ở Việt Nam”, Lý luận chính trị, số 6, phân tích những
mặt được chủ yếu, tồn tại và những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển các
khu công nghiệp, đối với lao động các khu công nghiệp. Lưu Bình Nhưỡng (2009),
“Chiến lược phát triển nguồn nhân lực và trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực
đào tạo nghề”, Thông tin tư liệu chuyên đề, số 4, Trung tâm thông tin khoa học,
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, đề cập đến việc tập trung
đào tạo nghề là vấn đề đang đặt ra cho nhà nước những thách thức rất lớn để tạo ra
đội ngũ lao động có trình độ thực hành giỏi, trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất
kinh doanh. Phạm Ngọc Quang (2009), “Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, số 4,

vị trí giai cấp công nhân trong xã hội. Nguyễn Đăng Thành (2007), “Góp phần xây
dựng giai cấp công nhân Việt Nam từ thực trạng công nhân thành phố Hồ Chí
Minh”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, phân tích thực trạng công nhân thành phố,
tình hình thực hiện chính sách và pháp luật đối với công nhân thành phố có ảnh
hưởng gì tới tính tích cực của giai cấp công nhân, quan điểm và giải pháp phát huy
vai trò của đội ngũ công nhân thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới. Nguyễn
An Ninh (2008), “Về xu hướng công nhân hoá ở nước ta hiện nay”, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, đưa ra những nghiên cứu mới về thực trạng và sự phát triển của
giai cấp công nhân hiện nay, phân tích xu hướng công nhân hoá trong thời kỳ đổi
mới đất nước như là một tất yếu, những giải pháp nhằm chủ động tích cực hoá xu
hướng này phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước. Văn Tạo (2008), “Đổi
mới tư duy về giai cấp công nhân - kinh tế tri thức và công nhân tri thức”, NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, trình bày những quan điểm lý luận, tư tưởng về giai cấp
công nhân nói chung cũng như giai cấp công nhân Việt Nam nói riêng cho đến thế

7

kỷ XX, đưa ra những nhận thức mới về giai cấp công nhân Việt Nam với kinh tế tri
thức đầu thế kỷ XX : Người công nhân hiện đại là người lao động công nghiệp có
ba yếu tố thuộc về bản chất là lao động sáng tạo, khoa học và cách mạng. Hoàng
Chí Bảo, Nguyễn Viết Thông, Bùi Đình Bôn (Đồng chủ biên) (2010), “Một số vấn
đề phát triển lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị
trường đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế“, NXB Lao
động, Hà Nội, trong đó phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới cơ cấu giai cấp công
nhân, vai trò của Đảng, Công đoàn, trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước đối với
giai cấp công nhân. Đặng Ngọc Tùng (Chủ biên) (2010), “Xây dựng giai cấp công
nhân Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”, NXB Lao động, Hà Nội, làm rõ quan điểm,
đường lối của Đảng, hệ thống giải pháp cho việc xây dựng giai cấp công nhân trong
thập niên tới, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, xác định nội
dung xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 của Đảng và

nhân lớn mạnh là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay.
Các công trình và bài viết trên đều có những ý kiến, những lý giải về vai trò
của Nhà nước đối với việc phát huy tính tích cực của con người, về phát huy vai trò
của giai cấp công nhân, về tính tích cực xã hội của con người từ phương diện này
hay phương diện khác. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả kế thừa các giá trị khoa
học trong các đề tài đó làm cơ sở nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, chưa có một
công trình chuyên biệt nào trình bày tập trung có hệ thống vấn đề vai trò của Nhà
nước đối với việc phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp ở Việt
Nam hiện nay. Luận án này là một nỗ lực nhằm góp phần khắc phục khoảng trống
đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
Mục đích của luận án
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước Việt Nam trong việc
phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp những năm đổi mới, luận án
đề xuất một số quan điểm và giải pháp để nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc
phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp đối với quá trình phát triển
đất nước theo định hướng XHCN.
Nhiệm vụ của luận án

9

- Làm rõ khái niệm người lao động công nghiệp Việt Nam, tính tích cực của
người lao động công nghiệp Việt Nam, vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy
tính tích cực của người lao động công nghiệp Việt Nam.
- Phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy tính tích
cực của người lao động công nghiệp ở Việt Nam trong những năm đổi mới và
những vấn đề đặt ra.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu để nâng cao vai trò của Nhà
nước trong việc phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp Việt Nam
hiện nay.

việc phát huy tính tích cực của người lao động công nghiệp Việt Nam, tạo cơ sở lý
luận để Nhà nước nâng cao vai trò của mình trong việc phát huy tính tích cực của
người lao động công nghiệp Việt Nam hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận của luận án
Luận án góp phần nghiên cứu vai trò của Nhà nước đối với việc phát huy
tính tích cực của người lao động công nghiệp ở Việt Nam trong những năm đổi mới
và những vấn đề đặt ra, qua đó đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu để
nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc phát huy tính tích cực của người lao động
công nghiệp Việt Nam hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong quá
trình giảng dạy nghiên cứu vấn đề vai trò của Nhà nước trong việc phát triển kinh tế
và phát huy vai trò của nhân tố con người trong sự nghiệp CNH, HĐH.
8. Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận án gồm 3
chương 7 tiết. Chương 1

11
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI VIỆC
PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG CÔNG
NGHIỆP

1.1. NGƯỜI LAO ĐỘNG CÔNG NGHIỆP VÀ TÍNH TÍCH CỰC CỦA
NGƯỜI LAO ĐỘNG CÔNG NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm người lao động công nghiệp Việt Nam
Quan điểm mác xít về người lao động công nghiệp

trong lịch sử, nhưng giai cấp công nhân hiện đại chỉ xuất hiện ở thời kỳ TBCN.
Công nhân công nghiệp hiện đại chủ yếu là công nhân công nghiệp cơ khí như trong
tác phẩm “Tình cảnh của giai cấp lao động ở Anh” của Ph. Ăngghen, ngày nay đã
có nhiều biến đổi lớn. Số lượng công nhân và lao động trong nhiều ngành công
nghiệp truyền thống giảm đi, số lượng công nhân và lao động trong nhiều ngành
công nghiệp hiện đại, mũi nhọn, trong các ngành dịch vụ lại tăng lên. CNTB hiện
đại phát triển mạnh mẽ, hệ thống doanh nghiệp mở rộng, xuất hiện đội ngũ làm thuê
lớn. Lực lượng lao động công nghiệp được mở rộng tăng lên cả về số lượng và chất
lượng. Với những quốc gia có trình độ phát triển cao, lực lượng lao động công
nghiệp đã chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động xã hội như: Nhật Bản 72%, Pháp
90%, Mĩ 91%, Anh 92% [88, tr.14]. Nhu cầu khách quan của nền sản xuất xã hội
hóa, của quá trình công nghiệp hóa là những nhân tố chủ đạo thúc đẩy và tạo ra đội
ngũ lao động công nghiệp. Vị thế của người lao động trong doanh nghiệp là khác
nhau, quan hệ giữa người lao động và giới chủ trở nên phức tạp và đặc biệt khi kinh
tế tri thức hình thành thì cả lao động trực tiếp và lao động quản lý đều có thay đổi.
Ở nước ta hiện nay đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội, cơ
cấu lao động trong nông nghiệp từ 57,1% (năm 2005) giảm xuống 48,2% (năm
2010); trong công nghiệp và xây dựng từ 18,2% (năm 2005) tăng lên 22,4% (năm
2010) và dịch vụ từ 24,7% (năm 2005) tăng lên 29,4% (năm 2010). Để giảm tỷ lệ
lao động nông nghiệp xuống dưới 50%, tăng tỷ lệ lao động công nghiệp, xây dựng
và dịch vụ lên hơn 50% vào năm 2010 [34, tr.152] thì tất yếu phải thúc đẩy quá
trình CNH, HĐH.
Vậy là khi sản xuất công nghiệp ra đời, một lực lượng lao động mới đã hình
thành, người lao động công nghiệp. Người lao động công nghiệp luôn là đối tượng
nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau từ khi CNTB ra đời cho đến nay.
Theo nghĩa truyền thống, người lao động công nghiệp được hiểu là giai cấp công

13
nhân và lao động trong lĩnh vực sản xuất trực tiếp. Ý kiến khác cho rằng người lao
động công nghiệp là người lao động nói chung trong quá trình công nghiệp hoá.

chính, kỹ sư chính; chuyên viên, kinh tế viên, kỹ sư; cán sự, kỹ thuật viên, tư vấn
pháp luật cho doanh nghiệp. Những đối tượng này sẽ ngày càng nhiều trong xã hội
công nghiệp.
Thứ tư là: Viên chức quản lý doanh nghiệp (giám đốc, phó giám đốc, kế toán
trưởng), quản lý nhân sự, quản lý kỹ thuật, quản lý chất lượng sản phẩm, quản lý
môi trường sản xuất được hưởng lương theo quy định của nhà nước hoặc theo ký
kết hợp đồng.
Có thể chia đội ngũ này thành lao động trực tiếp (thành phần thứ nhất, thứ hai
và thứ ba) và lao động quản lý (thành phần còn lại).
Để làm rõ khái niệm người lao động công nghiệp Việt Nam, cần nghiên cứu
khái niệm và cơ cấu của giai cấp công nhân Việt Nam.
Trả lời cho câu hỏi giai cấp công nhân Việt Nam bao gồm những ai, đang
tham gia vào lĩnh vực nào, hiện cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Nhóm ý kiến thứ
nhất cho rằng, giai cấp công nhân Việt Nam chỉ bao gồm bộ phận lao động trực tiếp
trong công nghiệp (cũng có thể cả bộ phận lao động trực tiếp trong sản xuất và dịch
vụ có tính chất công nghiệp). Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng, giai cấp công nhân Việt
Nam bao gồm tất cả những người làm công hưởng lương. Nhóm ý kiến thứ ba cho
rằng, giai cấp công nhân Việt Nam bao gồm những người lao động chân tay và trí
óc làm công hưởng lương trong các loại hình doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và
dịch vụ công nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp.
Trên thực tế, nhóm ý kiến thứ ba nhận được nhiều sự đồng tình hơn cả và nó cũng
phù hợp với thực trạng và xu hướng phát triển của giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay.
Văn kiện hội nghị lần thứ sáu BCHTW khoá X có viết: “Giai cấp công nhân
Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao
động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh
doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất
công nghiệp”[33, tr.23].
Từ quan niệm trên về giai cấp công nhân Việt Nam trên cho thấy, giai cấp
công nhân hiện nay bao gồm những người lao động chân tay, trí óc trong lĩnh vực

khoa học và công nghệ hiện đại), không chỉ tham gia sản xuất và dịch vụ sản xuất
vật chất với năng suất rất cao mà còn sáng tạo khoa học - nghệ thuật góp phần to lớn

16
vào sự nghiệp phát triển xã hội nói chung. Đây cũng là lực lượng quan trọng của đội
ngũ lao động công nghiệp.
Khái niệm giai cấp công nhân như trên nói chung phù hợp với những quan
điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với
những đặc điểm của thời đại và của đội ngũ công nhân nước ta trong điều kiện đẩy
mạnh CNH, HĐH đất nước, phát triển KTTT định hướng XHCN, hội nhập kinh tế
quốc tế, vận dụng và phát triển kinh tế tri thức. Với khái niệm này, đã sơ bộ xác
định được bước đầu số lượng công nhân nước ta là khoảng 9,5 triệu người [33,
tr.24].
Việc phân định thành phần giai cấp và tầng lớp xã hội chủ yếu gắn với tính
chất công việc đang làm của mỗi người. Do vậy, giữa thành phần giai cấp, tầng lớp
xã hội xuất thân của mỗi người, có thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với tính
chất công việc đang làm. Đã là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam thì về nguyên
tắc đều mang bản chất giai cấp công nhân, là thành viên của đội tiền phong của giai
cấp công nhân, đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và của dân tộc,
phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc. Tuy nhiên tuỳ
thuộc công việc đang làm hiện tại của mỗi người, mà họ có thể là công nhân, nông
dân, công chức, quân nhân, công an hoặc chủ doanh nghiệp…
Với sự phát triển KTTT, bản thân giai cấp công nhân có thể phân thành các
bộ phận khác nhau:
Người lao động trong các DNNN, bộ phận lao động này được Nhà nước
chăm lo phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, nhất là về văn hoá, khoa học, kỹ
thuật đến nay đang bị phân hoá dữ dội.
Thứ nhất là phân hoá về cơ cấu ngành nghề
Chủ trương giảm mạnh các DNNN, nhất là DNNN do địa phương quản lý,
những doanh nghiệp này đã xuất hiện rất nhiều thời kỳ bao cấp từ huyện, tỉnh, đến

Ngoài việc thu hút vốn đầu tư, đẩy mạnh công nghiệp hóa, Nhà nước còn chăm lo
đào tạo tay nghề cho công nhân, trong đó có tái đào tạo những công nhân thất
nghiệp nhưng còn khả năng lao động…
Trong cuốn sách “Đổi mới tư duy về giai cấp công nhân - kinh tế tri thức và
công nhân tri thức” của G.S.Văn Tạo có viết: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một

18
lực lượng xã hội to lớn bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công
hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc
sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp, trong đó công nhân công
nghiệp hiện đại, công nhân tri thức (knowledge workers) làm nòng cốt; là giai cấp
lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản Việt
Nam; đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, đi đầu trong sự nghiệp xây dựng
chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”, đưa đất nước tiến nhanh lên kinh tế tri thức; là nòng cốt trong liên minh
công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; hiện đang phát
triển nhanh về số lượng, nâng cao không ngừng về chất lượng, đa dạng về cơ cấu
ngành nghề; có những đóng góp tích cực vào phong trào công nhân quốc tế và vào
tiến bộ xã hội của toàn thể nhân loại”[105, tr.106].
Như vậy giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn có các
đặc điểm:
Họ gồm những người lao động chân tay hoặc lao động trí óc trong lĩnh vực
sản xuất công nghiệp. Do sự phát triển của LLSX, một bộ phận trí thức đã gia nhập
giai cấp công nhân. Đó là những nhà nghiên cứu, sáng chế, áp dụng khoa học, kỹ
thuật vào sản xuất, cán bộ trực tiếp quản lý lao động hoặc tham gia vào quá trình
sản xuất công nghiệp, sản xuất và tái sản xuất ra của cải vật chất, thực hiện chức
năng của người công nhân lành nghề trong sản xuất. Và thêm nữa, cả những người
lao động trong các ngành dịch vụ công nghiệp mà lao động của họ có tính chất công
nghiệp. Bộ phận trí thức này gắn trực tiếp với quy trình sản xuất công nghiệp, tạo ra
của cải vật chất cho xã hội. Trí thức trong những ngành xã hội - nhân văn, y tế, giáo

Giai cấp công nhân nước ta hiện nay bao gồm nhiều bộ phận. Họ không chỉ
là những người lao động sản xuất và dịch vụ công nghiệp thuộc các DNNN mà còn
là những người công nhân thuộc khu vực kinh tế tư nhân, các công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty, tổng công ty, những tập đoàn kinh tế hợp tác liên doanh với nước
ngoài, những doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, có mặt ở mọi thành phần
kinh tế, mọi ngành kinh tế, mọi lĩnh vực kinh tế, có công nhân nông nghiệp (bao
gồm cả lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ hải sản), công nhân công nghiệp, dịch vụ. Họ
cũng đang có mặt ở mọi miền đất nước.

20
Cùng với đẩy mạnh CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức, số lượng trí
thức trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất công nghiệp và dịch vụ công nghiệp
ngày một nhiều. Họ đã và đang trở thành đội ngũ công nhân trí tuệ và góp phần
nâng cao chất lượng, tính tiên tiến và hiện đại của giai cấp công nghiệp Việt Nam.
Cùng với bộ phận công nhân công nghiệp, họ đang trở thành nòng cốt, tinh hoa của
giai cấp công nghiệp Việt Nam hiện nay.
Những viên chức và người lao động tham gia vào guồng máy sản xuất, quản
lý sản xuất công nghiệp và dịch vụ mang tính công nghiệp cần được xếp vào hàng
ngũ giai cấp công nhân.
Những người lao động dịch vụ thuộc các ngành và các thành phần kinh tế
hiện đang chiếm một tỷ lệ khoảng 1/3 trong tổng số công nhân lao động; đông nhất
là ở các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ… Trong hàng ngũ này, những
người nào gắn với quy trình sản xuất công nghiệp hiện đại đều có thể là những
người trong hàng ngũ giai cấp công nhân.
Giai cấp công nhân nước ta đang trong quá trình phát triển, chưa định hình rõ,
nên có sự đan xen, chuyển dịch giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội trong quá trình
phát triển, chưa thể phân định thật rạch ròi, do đó các khái niệm trên mới chỉ là
tương đối. Trên cơ sở cách hiểu này phải tiếp tục tìm tòi, tổng kết, nghiên cứu, bổ
sung để hoàn chỉnh dần.
Theo sự phân tích trên thì người lao động công nghiệp và giai cấp công nhân

học - công nghệ. Do vậy phải chú trọng đến các yếu tố khoa học, công nghệ, chuyển
giao công nghệ, sức lao động và sản phẩm lao động của họ trong cơ chế thị trường và
kinh tế nhiều thành phần.
Một là, người lao động với tư cách là yếu tố hàng đầu, năng động và quyết
định sự phát triển của LLSX, trong đó người lao động công nghiệp là bộ phận quan
trọng nhất.
Trong các yếu tố cấu thành của LLSX (người lao động, đối tượng lao động và
tư liệu lao động), con người là chủ thể sáng tạo và là chủ thể sử dụng mọi yếu tố của
tư liệu sản xuất. Chỉ có yếu tố con người với trí tuệ phát triển mới có năng lực tự
sinh, tự phát triển và hoàn thiện mình với tư cách là một bộ phận của LLSX. Con
người phát triển LLSX đến đâu thì cũng đồng thời tự nâng cao năng lực sản xuất
của mình đến đó. Trong điều kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay, với xu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status