Chức năng giám đốc của kiểm toán nhà nước đối với sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam - Pdf 10

1 Luận văn
Chức năng giám đốc của kiểm toán nhà
nước đối với sử dụng vốn ngân sách trong
đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam
2
mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng cơ bản là một lĩnh vực kinh tế tạo ra kết cấu hạ tầng có tác
động mạnh mẽ tới sản xuất và đời sống xã hội. Chính vì thế, ngay từ khi bước
vào thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm ưu tiên
về vốn, nhân lực cho đầu tư xây dựng cơ bản.
Từ khi đổi mới đến nay, do tác động của chính sách kinh tế nhiều thành
phần, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tăng lên rất nhanh. Chẳng hạn, năm
1995 tổng nguồn vốn đầu tư trong cả nước là 72.447 tỷ đồng, năm 2005 đã
tăng lên 335.000 tỷ đồng, gấp 4,6 lần so với 10 năm trước. Trong những chủ
thể tham gia đầu tư, thì nguồn vốn ngân sách nhà nước chiếm một tỷ trọng
lớn nhất và thường ở mức trên dưới 50% tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội.
Đầu tư từ ngân sách nhà nước đã có tác động thu hút và kích thích đầu tư của
các nguồn vốn khác. Nhờ đó đã tạo ra được những công trình mới, năng lực

quyết toán ngân sách và t́nh h́nh sử dụng các quỹ của Nhà nước ngoài ngân
sách. Quốc hội thiếu những căn cứ và chỗ dựa mang tính chuyên môn để
thảo luận và quyết định, nhất là trong đầu tư xây dựng cơ bản, lĩnh vực mà
nhân dân và Quốc hội rất quan tâm, chưa có câu trả lời thật rơ ràng về độ
tin cậy của quyết toán, về sự lăng phí, thất thoát dù là của một công tŕnh,
một dự án cụ thể; của một ngành, một địa phương.
Để góp phần vào việc giải quyết những bất cập trên và để thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
về "Đề cao vai trũ của cơ quan KTNN trong việc kiểm toán mọi cơ quan, tổ
chức có sử dụng ngân sách Nhà nước. Cơ quan kiểm toán báo cáo kết quả
kiểm toán cho Quốc hội, Chớnh phủ và cụng bố cụng khai kết quả kiểm toỏn
cho dõn biết '', học viên chọn đề tài: “Chức năng giám đốc của kiểm toán
4
nhà nước đối với sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản ở
Việt Nam” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Như các hoạt động kiểm toán nói chung, kiểm toán việc sử dụng vốn
đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng mới được tổ chức và triển khai ở nước ta
vào đầu những năm 90 thế kỷ XX. Tuy đến nay đã trải qua 15 năm, nhưng
việc nghiên cứu mới chỉ có các công trình liên quan đến vấn đề này. Chẳng
hạn: đề tài Những giải pháp chủ yếu khắc phục thất thoát trong đầu tư xây
dựng cơ bản”, luận văn Thạc sĩ kinh tế của Trịnh Đình Dũng tại Học viện
chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2000; “Giải pháp sử dụng vốn ngân
sách nhà nước đẩy mạnh phát triển giao thông đường bộ ở Việt Nam", luận
văn Thạc sĩ kinh tế của Nguyễn Đình Thành, Học viện chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh, năm 2006; “Tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển
kinh tế - xã hội ở Thành phố Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ kinh tế của Nguyễn

đối với việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư của nhà nước cho xây dựng cơ
bản; phân tích và đánh giá thực trạng việc thực hiện chức năng này ở nước ta
trong thời gian qua; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao
hiệu lực thực hiện chức năng này của KTNN trong thời gian tới. Qua đó, góp
phần nhận thức đầy đủ về kiểm toán nói chung, KTNN nói riêng; đồng thời
góp phần vào giải pháp từng bước hoàn thiện kiểm toán nhà nước theo yêu
cầu của công cuộc đổi mới của nước ta.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kiểm toán là hoạt động có chức năng, nhiệm vụ
và nội dung hoạt động riêng. Tuy nhiên, trong đề tài này tác giả lựa chọn tập
trung nghiên cứu chức năng giám đốc của KTNN đối với các dự án sử dụng
vốn ngân sách nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản dưới góc độ kinh tế
chính trị. Những nội dung khác có thể đưa vào sử dụng có nhiệm vụ làm rõ
chức năng của kiểm toán và làm sáng tỏ chủ đề nghiên cứu của luận văn.
6
- Phạm vi nghiên cứu: về không gian trên bình diện cả nước; về thời
gian: từ khi Chính phủ có quyết định thành lập cơ quan KTNN (7/1994),
trong đó chủ yếu từ năm 2001 tới nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở những nguyên lýí của chủ nghĩa Mác
- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối và chính sách
đổi mới của Đảng và Nhà nước về kiểm tra, kiểm toán của Nhà nước.
- Phương pháp nghiên cứu:
Để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả sử dụng các phương
pháp gồm: phương pháp điều tra, khảo sát, so sánh, phân tích, tổng hợp tình
hình thực tiễn diễn ra trong xây dựng và thực hiện chức năng kiểm toán Nhà

của các chủ thể trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội khác nhau có các quĩ tiền tệ
khác nhau được hình thành và sử dụng như: quĩ tiền tệ của các doanh nghiệp;
quĩ tiền tệ các tổ chức bảo hiểm, tín dụng; quĩ tiền tệ của Nhà nước…
Gắn với chủ thể Nhà nước, các quĩ tiền tệ mang tính đặc thù là việc tạo
lập và sử dụng chúng gắn liền với quyền lực chính trị của nhà nước và việc
thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội của nhà nước. Nói cách khác, các quĩ
tiền tệ của nhà nước là tổng số các nguồn lực tài chính đã được tập trung vào
trong tay nhà nước, thuộc quyền nắm giữ của nhà nước và được nhà nước sử
dụng cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình. Quĩ tiền tệ của
nhà nước được xem như là sự tổng hợp của các quĩ tiền tệ chung của nhà
nước và quĩ tiền tệ của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các quĩ tiền
tệ chung của nhà nước bao gồm: quĩ NSNN, một số quĩ tiền tệ thuộc ngân
hàng nhà nước trung ương (quĩ dự trữ ngoại tệ, quĩ điều hoà lưu thông tiền tệ,
quĩ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại…), các quĩ có nguồn
gốc chủ yếu từ NSNN như: quĩ dự trữ nhà nước, quĩ hộ trợ phát triển và một
số quĩ có mục tiêu khác (quĩ bình ổn giá, quĩ quốc gia giải quyết việc làm, quĩ
phủ xanh đất trống đồi núi trọc…). Các quĩ này thường được gọi là các quĩ tài
chính nhà nước ngoài NSNN.
8
Quá trình hình thành và sử dụng các quĩ tiền tệ của nhà nước kể trên
chính là quá trình nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính thông qua
các hoạt động thu, chi bằng tiền của tài chính nhà nước. Các hoạt động thu,
chi bằng tiền đó là mặt biểu hiện bề ngoài của tài chính nhà nước, còn các quĩ
tiền tệ nhà nước nắm giữ là biểu hiện nội dung vật chất của tài chính nhà
nước. Từ những phân tích trên có thể hiểu tài chính nhà nước là tổng thể các
hoạt động thu, chi bằng tiền do nhà nước tiến hành bằng cách tạo lập và sử
dụng các quĩ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ các chức năng kinh tế, xã

máy nhà nước, cũng như thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội mà nhà nước
đảm nhận. Các nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của một quốc gia trong từng
thời kỳ phát triển được quyết định bởi cơ quan quyền lực cao nhất của nhà
nước là Quốc hội. Quốc hội cũng là chủ thể duy nhất quyết định cơ cấu, nội
dung, mức độ các thu chi NSNN - quĩ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước
- tương ứng với các nhiệm vụ đã được hoạch định nhằm đảm bảo thực hiện có
kết quả nhất các nhiệm vụ đó.
Nhận thức đầy đủ đặc điểm về tính sở hữu của tài chính nhà nước có ý
nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo quyền lãnh đạo tập trung thống nhất của
nhà nước, loại trừ sự chia sẻ, phân tán quyền lực trong việc điều hành NSNN.
Nhận thức này cũng cho phép xác định quan điểm định hướng trong việc sử
dụng tài chính làm công cụ điều chỉnh và xử lý các quan hệ kinh tế, xã hội
trong hệ thống các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nảy sinh khi nhà nước
tham gia phân phối các nguồn tài chính thì lợi ích quốc gia, lợi ích toàn thể
bao giờ cũng đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác.
Ba là, chi tiêu tài chính nhà nước là việc phân phối và sử dụng các quĩ
tiền tệ (vốn) của nhà nước. Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh ở cơ sở,
tầm vi mô, chi tiêu của tài chính nhà nước không phải là những chi tiêu gắn
liền trực tiếp với các hoạt động sản xuất, kinh doanh mà là những chi tiêu gắn
liền với việc thực hiện các chức năng của nhà nước, tức là gắn liền với việc
10
đáp ứng các nhu cầu chung, nhu cầu có tính chất toàn xã hội - tầm vĩ mô. Mặc
dù hiệu quả của các khoản chi tiêu của tài chính nhà nước trên những khía
cạnh cụ thể vẫn có thể đánh giá bằng các chỉ tiêu định lượng như vay nợ, một
số vấn đề xã hội…, nhưng xét về tổng thể, hiệu quả đó thường được xem xét
trên tầm vĩ mô, nghĩa là hiệu quả của việc sử dụng các quĩ tiền tệ của nhà
nước phải được xem xét dựa trên cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành các mục

năng giám đốc. Chức năng của tài chính là biểu hiện hai mặt gắn bó chặt chẽ
với nhau, thông qua đó các chủ thể vận dụng để sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực tài chính, coi đó như một công cụ cực kỳ quan trọng nhằm phục vụ
mục đích đề ra trong từng thời kỳ hoạt động tài chính.
Chức năng phân phối của tài chính nhà nước được thực hiện thông qua
việc phân phối lần đầu và phân phối lại các nguồn tài chính trong xã hội nhằm
thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nhà nước. Trong chức năng này, chủ thể
phân phối là nhà nước với tư cách là tổ chức có quyền lực chính trị, còn đối
tượng phân phối là các nguồn tài chính đã thuộc sở hữu nhà nước hoặc đang
là thu nhập của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội mà nhà nước tham gia
điều tiết.
Chức năng giám đốc của tài chính nhà nước thể hiện ở chỗ thông qua
hoạt động này, nhà nước "giám sát", "đôn đốc", "kiểm tra", "điều chỉnh" hoạt
động tài chính của các chủ thể trong nền kinh tế quốc dân. Cơ sở của chức
năng giám đốc là sự thống nhất giữa sự vận động của các quỹ tiền tệ với quá
trình hoạt động của Nhà nước và của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế
quốc dân. Bằng việc kiểm tra, kiểm soát sự vận động của các quỹ tiền tệ, nhà
nước có thể biết được tình trạng của nền kinh tế để có giải pháp điều chỉnh.
Nội dung của kiểm tra, kiểm soát vận động của các nguồn tài chính
gồm kiểm tra việc khai thác, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính;
kiểm tra tính cân đối, tính hợp lý của việc phân bổ và kiểm tra tính tiết kiệm,
tính hiệu quả của việc sử dụng chúng.
12
Kiểm soát quá trình vận động của các nguồn tài chính được thực hiện
thông qua đồng tiền và dựa vào kế hoạch, nó được tiến hành trong suốt quá
trình kế hoạch hoá tài chính từ khi xây dựng, xét duyệt, quyết định thực hiện
kế hoạch và cả sau khi kế hoạch đã thực hiện xong. Việc kiểm tra, kiểm soát

đẩy tiến trỡnh hội nhập với cỏc nước trong khu vực và thế giới. Xu hướng
khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế đũi hỏi phải coi trọng chức năng
giám đốc của tài chính nhà nước để các thông tin tài chính trước khi công bố
cho các đối tượng sử dụng được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng, tức là phải
đảm bảo độ tin cậy về những dữ liệu thông tin đó.
Do tài chính nhà nước là bộ phận rất quan trọng trong hệ thống tài
chính của nền kinh tế quốc dân, bộ phận có vai trò chi phối, chủ đạo trong hệ
thống đó, nên việc quản lý tốt nguồn thu và chi tiêu của bộ phận này là rất cần
thiết. Theo các lý thuyết hiện đại về kinh tế thị trường, thì việc chi tiêu đúng
mục đích và có hiệu quả nguồn tài chính nhà nước có vai trò giống như đầu tư
của các doanh nghiệp đối với sự “khuếch đại” tăng trưởng tổng giá trị sản
lượng của nền kinh tế. Điều này có nghĩa là một nền kinh tế muốn phát triển
với nhịp độ cao, bền vững, tiết kiệm, hiệu quả và an toàn thỡ một trong những
giải pháp là nhất thiết coi trọng chức năng giám đốc của tài chính nhà nước.
Tài chính nhà nước phải đưa ra được các công cụ cần thiết để làm tốt chức
năng của mình. Theo kinh nghiệm các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển, thì một trong những công cụ quan trọng để thực hiện chức năng giám
đốc của tài chính nhà nước là kiểm toán nhà nước.

1.1.2. Đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước
- Đầu tư xây dựng cơ bản:
Đầu tư nói chung theo nghĩa rộng, là một hoạt động đầu tư, nó là sự hy
sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu về một kết
quả lớn hơn trong tương lai thông qua việc sử dụng các nguồn lực đã bỏ ra để
có kết quả đó. Nguồn lực đó có thể là tiền vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao
14
động và công nghệ. Những kết quả thu được là sự tăng thêm các tài sản tài

15
hại lớn, vì khối lượng vốn và khối lượng sản phẩm lớn. Hơn nữa, do thời gian
xây dựng lâu, nên XDCB còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố khác, ví dụ như
giá cả của các yếu tố để sản xuất ra nó Sản phẩm XDCB tồn tại lâu dài, nếu
tác động tự các yếu tố trên tốt, chất lượng công trình tốt, thì thành quả hoạt
động đầu tư XDCB càng phát huy tác dụng tốt trong thời gian dài và ngược lại.
Ba là, vốn cho hoạt động đầu tư XDCB lớn, do sản phẩm có khối lượng
lớn, thời gian xây dựng và tồn tại của sản phẩm dài, chi phí cho đầu tư XDCB
chiếm từ 20-25% GDP, nên nếu sử dụng không hợp lý sẽ gây ra thiệt hại lớn
cho nền kinh tế.
Bốn là, tính đơn chiếc và chu kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm nổi
bật của đầu tư XDCB. Dù thiết kế giống nhau, nhưng địa điểm khác nhau,
thời tiết, khí hậu các vùng khác nhau, nên sản phẩm không giống nhau hoàn
toàn, chi phí sản xuất cũng không giống nhau. Đặc điểm này cho thấy mỗi dự
án đầu tư cần có biện pháp quản lý thích hợp, phương pháp và trình độ quản
lý phải được thay đổi linh hoạt cho phù hợp với điều kiện cụ thể và cũng vì
tính đơn chiếc gây ra tính không ổn định của quá trình thi công xây lắp.
Đầu tư XDCB có tác động rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo
hoạt động sản xuất và đời sống xã hội không ngừng phát triển. Thực tế lịch sử
đã cho thấy bất cứ một phương thức sản xuất xã hội nào cũng đều phải có sơ
sở vật chất - kỹ thuật tương ứng. Việc đảm bảo tính tương ứng đó chính là
nhiệm vụ của đầu tư XDCB. Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động đầu tư
XDCB có vai trò:
+ Kích thích tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Tài khoản đầu tư là
một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của nền kinh tế. Theo điều tra
của một số chuyên gia thuộc Ngân hàng thế giới, đầu tư thường chiếm khoảng
24-28% tổng cầu của hầu hết các nước. Nhờ khoản đầu tư này mà sản lượng
và thu nhập của nền kinh tế được gia tăng. Đối với tổng cung, khi các khoản
ICOR
GDP GDP

 


17
Trong đó, I là vốn đầu tư; GDPI là tổng sản phẩm quốc nội do vốn đầu
tư tạo ra; ÄI là vốn đầu tư tăng thêm; ÄGDP là tổng sản phẩm quốc nội tăng
thêm.
Từ đây suy ra:
I
GDP
ICOR

 

Nếu ICOR không đổi, thì mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào sự
gia tăng vốn đầu tư.
ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, ở mức từ 5-7 do thừa vốn,
thiếu lao động, vốn thương được sử dụng nhiều để thay thế lao động dựa vào
sử dụng công nghệ hiện đại có giá trị cao. Còn ở các nước đang phát triển,
ICOR thường thấp từ 2-3 do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể sử dụng lao
động để thay thế vốn đầu tư do sử dụng công nghệ lạc hậu có giá rẻ.
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố và thay đổi
theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước.
Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi là vấn

thường chiếm tỷ lệ khoảng 10%-20% tổng vốn đầu tư xã hội); vốn từ doanh
nghiệp Nhà nước (thường lấy từ nguồn lợi nhuận, các quĩ không chia hoặc
vay của các chế định tài chính-tín dụng, thường chiếm tỷ trọng từ 10%-20%
tuỳ theo qui mô phát triển doanh nghiệp); khu vực dân doanh được lấy từ
nguồn tiết kiệm của dân cư, phần tích lũy của các doanh nghiệp dân doanh,
các hợp tác xã hoặc vay của các định chế tài chính tín dụng (đây là nguồn vốn
đáng kể nhằm huy động cho nền kinh tế, nó phụ thuộc vào thu nhập của dân
cư, của các hợp tác xã và các doanh nghiệp, đồng thời phụ thuộc rất lớn vào
chính sách khuyến khích phát triển kinh tế của nhà nước trong mỗi thời kỳ).
Nguồn vốn nước ngoài chủ yếu bao gồm ODA và FDI. ODA là nguồn
vốn viện trợ phát triển chính thức (ODA) do các chính phủ nước ngoài và các
tổ chức quốc tế cung cấp với mục tiêu giúp các nước đang phát triển, bao gồm
cả phần vốn không hoàn lại, viện trợ cho các nước đang phát triển. FDI là
19
nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đưa vào kinh doanh thu lợi nhuận,
nước tiếp nhận không phải chịu trách nhiệm hoàn trả vốn và lãi như trường
hợp đi vay. Ngoài hai nguồn vốn trên, còn có vốn đầu tư gián tiếp của nước
ngoài thông qua việc mua cổ phiếu, trái phiếu của nước chủ nhà, nhưng
không tham gia công việc quản lý, hoặc cấp tín dụng thông qua các ngân
hàng thương mại, các tổ chức tài chính, hoặc thông qua các khoản tín dụng
thương mại
Trong các nguồn vốn trên, nguồn vốn được hình thành từ ngân sách
nhà nước có vai trò quan trọng nhất, có khả năng thu hút được các nguồn
vốn khác của các thành phần kinh tế góp phần làm tăng qui mô đầu tư
XDCB của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Nguồn vốn nhà nước thường được
bố trí cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, hỗ trợ các dự án của các
doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần tham gia của nhà nước hoặc lĩnh vực

ngân sách. Theo cơ chế quản lý vốn đầu tư ở nước ta hiện nay, việc chi đầu tư
xây dựng cơ bản được thực hiện qua nhiều cấp ngân sách như: chi từ nguồn
ngân sách trung ương cho hoạt động đầu tư của các bộ, ngành, chi bổ sung có
mục tiêu từ ngân sách trung ương cho địa phương; chi từ ngân sách địa
phương cho các dự án thuộc địa phương quản lý.
Thực tế nêu trên dễ dẫn đến tình trạng xin - cho, kéo theo đó là việc
phát sinh các tiêu cực, lãng phí do đầu tư không đúng nội dung hoặc đầu tư
dàn trải.
Bốn là, nguồn vốn đầu tư mà các chủ sử dụng phải được tạm ứng,
nghiệm thu và thanh toán theo qui định của Nhà nước. Nếu các thủ tục còn rất
rườm rà, phức tạp và nhiều kẽ hở, thì không chỉ có thể gây khó khăn trong
việc thực hiện cho cả chủ đầu tư và các nhà thầu mà còn tạo nhiều điều kiện
cho việc bị lợi dụng để chiếm đoạt, biến thủ, tham ô vốn đầu tư của nhà nước.
Với những đặc điểm trên, để phát huy vai trò của nguồn vốn đầu tư
XDCB từ NSNN, một trong những đòi hỏi thiết yếu là phải sử dụng KTNN
21
như là một công cụ để thực hiện chức năng giám đốc của tài chính nhà nước.
1.2. Chức năng giám đốc của kiểm toán nhà nước đối với sử dụng vốn ngân
sách trong đầu tư xây dựng cơ bản
1.2.1. Kiểm toán nhà nước và vai trò của nó trong thực hiện chức năng
giám đốc đối sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản
1.2.1.1. Kiểm toán nhà nước
Kiểm toán là hoạt động kiểm tra kế toán trong sử dụng tài chính. Nó là
yêu cầu tất yếu của quản lý tài chính. Kiểm toán có thể được thực hiện ngay
trong các hoạt động quản lý, nhưng cũng có thể tách biệt thành hoạt động độc
lập. Mức độ độc lập hay phụ thuộc của hoạt động kiểm toán trong quản lý là
tùy thuộc vào yêu cầu quản lý và khả năng thỏa mãn mãn nhu cầu thông tin

nhà nước nhằm đối chiếu các tài khoản và quản lý các doanh nghiệp công
công được tổ chức thành lập ở nhiều nước.
Kiểm toán nhà nước là một trong những chủ thể kiểm toán độc lập
trong nền kinh tế, có nghiệp vụ, được thực hiện bởi bộ máy kiểm tra nhà nước
thuộc hệ thống bộ máy chuyên môn nhà nước. Đối tượng của KTNN là các
báo cáo quyết toán tài chính (hay tài khoản niên độ) của các tổ chức, cơ quan,
đơn vị có liên quan đến việc thu chi và sử dụng ngân sách nhà nước. Phạm vi
KTNN chủ yếu bao gồm các lĩnh vực: kiểm toán về thông tin, kiểm toán quy
tắc, kiểm toán hiệu quả và kiểm toán hiệu năng. Cơ sở thực hiện KTNN là
những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực kế toán và kiểm toán chung.
Cũng như các tổ chức kiểm toán khác, KTNN được thực hiện mọi hoạt
động kiểm tra, kiểm soát những vấn đề liên quan đến thực trạng tài sản, các
nghiệp vụ tài chính và sự phản ánh của nó trên sổ sách kế toán cùng hiệu quả
đạt được. Những loại công việc này tự nó đã gắn chặt với nhau và đây là luận
cứ cho việc tổ chức KTNN. Kiểm toán nhà nước thường tiến hành các cuộc
kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động và kiểm toán báo cáo tài chính.
Thông qua hoạt động nghiệp vụ, KTNN sẽ đưa ra những nhận xét, đánh
23
giá và xác nhận việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính kế toán ở đơn
vị sử dụng vốn nhà nước, đồng thời có quyền đưa ra ý kiến với các đơn vị
được kiểm toán để sửa chữa các sai phạm và kiến nghị với cấp có thẩm quyền
có biện pháp xử lý các tồn tại, sai phạm và ban hành, sửa đổi, hoàn thiện, bổ
sung các văn bản pháp luật.
Hệ thống kiểm toán trong nền kinh tế quốc dân bao gồm KTNN, kiểm
toán nội bộ và kiểm toán độc lập hình thành hệ thống độc lập từ mặt pháp lý
đến bộ máy tổ chức. Trong hệ thống đó, KTNN là một bộ phận do nhà nước
tổ chức, quản lý. Nhiệm vụ của nó là thực hiện việc xác minh, bày tỏ ý kiến

24 Sơ đồ 1.1 là ví dụ mô tả hệ thống kiểm toán ở Việt Nam. Nó cho biết vị
trí của KTNN trong hệ thống này.
Trong vị trí đó, KTNN là một cơ quan nhà nước thay mặt nhà nước
kiểm tra và đánh giá việc động viên, sử dụng mọi nguồn lực tài chính của Nhà
nước. Nó có nhiệm vụ cung cấp những thông tin cho nhà nước để phát huy
mặt tích cực, ngăn ngừa, khắc phục những tác động tiêu cực, thiết lập trật tự
kỷ cương trong hoạt động kinh tế - xã hội.
ở nước ta, KTNN còn là cơ quan quản lý cao nhất về hoạt động kiểm
toán trên lãnh thổ Việt Nam. Xét về năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực
kiểm toán thì KTNN vừa là cơ quan quản lý nhà nước cao nhất, vừa thực hiện
chức năng chuyên môn do nhu cầu kiểm toán tài chính công của quốc gia. Vì
thế, nó được coi là bộ phận không thể thiếu trong lĩnh vực kiểm tra tài chính
công mà không thể một bộ, ngành hay tổ chức nào có thể thay thế được.
Trong các hoạt động kiểm toán tài chính công của quốc gia của KTNN,
thì kiểm toán đối với việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước trong đầu tư
XDCB là một hoạt động quan trọng.
1.2.1.2. Vai trò của kiểm toán nhà nước trong thực hiện chức năng
giám đốc đối với sử dụng vốn ngân sách trong đầu tư xây dựng cơ bản

Trong lĩnh vực đầu tư XDCB sử dụng NSNN, KTNN có vai trũ phản biện và tư vấn
quỏ trỡnh lập dự toỏn NSNN cho đầu tư XDCB; thẩm định và đánh giá tính kinh tế, tính
hiệu quả trong một dự án đầu tư; xác định trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng NSNN

Trích đoạn Kết quả đạt được Những sai phạm trong sử dụng vốn đầu tư Nguyên nhân của những sai phạm do kiểm toán phát hiện ra Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế Dự báo hướng đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước đến năm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status