LUẬN VĂN: Thu hút vốn đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ ở việt nam hiện nay doc - Pdf 15


LUẬN VĂN: Thu hút vốn đầu tư
cho phát triển khoa học và công nghệ
ở việt nam hiện nay
Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, sự phỏt triển kinh tế - xó hội của mỗi nền kinh tế đều phụ thuộc rất
lớn vào khoa học và công nghệ (KH&CN). Nhận thức được điều đó, trong những năm
qua, để thúc đẩy quá trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước

tư của khu vực ngoài nhà nước mới chỉ khiêm tốn ở mức khoảng 0,6% GDP, trong khi
đó, năm 2004 con số này của các nước EU đó là 1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP,
Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa Kỳ là 2,59% GDP, Hàn Quốc là gần 5% GDP. Nếu
tớnh mức đầu tư cho hoạt KH&CN trên đầu người, thỡ Việt Nam mới đạt khoảng 5
USD (năm 2007), trong khi của Trung Quốc là khoảng 20 USD (năm 2004) và đặc biệt
là Hàn Quốc khoảng 1.000 USD (năm 2007). Đầu tư cho KH&CN của Việt Nam vào
loại thấp nhất trong khu vực kể cả theo tỷ lệ % GDP lẫn tỷ trọng xó hội húa về vốn đầu
tư.
Mức đầu tư thấp là một nguyên nhân khiến cho nhiều đề tài không đủ điều kiện
để nghiên cứu hoàn chỉnh, có đề tài dù đó rất gần tới thành cụng những phải dừng lại,
đành phải “bỏ ngăn kéo”. Tỷ lệ các đề tài nghiên cứu của Việt Nam được áp dụng vào
thực tế cũn rất thấp, số công bố quốc tế và patent được đăng ký cũn rất ớt so với cỏc
nước trong khu vực, nghĩa là hiệu quả nghiên cứu khoa học thấp. Thực tế cho thấy, đầu
tư cho KH&CN ở nước ta vẫn nặng về bao cấp của Nhà nước. Mặc dù từ Đại hội IX
(năm 2001), Đảng ta đó có chủ trương đa dạng hóa đầu tư phát triển KH&CN, nhưng
đến nay hầu như vẫn không có sự quan tâm của các thành phần kinh tế ngoài nhà nước
vào loại đầu tư này, nhiều nguồn lực KH&CN vẫn cũn bị lóng phớ, trong khi nhu cầu
bức bỏch hiện nay là phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ thực tế trên, để góp phần vào giải pháp tạo động lực cho phát triển KH&CN,
tôi chọn đề tài: “Thu hút vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện
nay” để nghiên cứu làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu

Kể từ năm 1996, khi Đảng ta ban hành Nghị quyết Trung ương 02/HNTW (khóa
VIII) về KH&CN đến nay, ở nước ta đó cú những nghiờn cứu về vấn đề này. Trong
những nghiên cứu liên quan đến vốn đầu tư cho phát triển KH&CN đó cú những cụng
trỡnh như:
Trong các năm 2000 -2003, Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách KH&CN
đó cú những nghiờn cứu bàn luận về nguồn vốn đầu tư cho phát triển KH&CN trong
điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần. Trong đó có đề tài cấp Bộ nghiên cứu về “Chia

Nhân dân điện tử http://www.nhandan.com.vn
Nhỡn chung, cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu khoa học và bài viết hiện cụng bố chưa
phân tích phân tích một cách có hệ thống những cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút
vốn đầu tư cho KH&CN, chưa phân tích thực trạng thu hút nguồn vốn này cho phát
triển KH&CN ở Việt Nam trong những năm gần đây và kiến nghị những giải pháp cần
thiết cho những năm tiếp theo. Vỡ vậy, đề tài mà học viên lựa chọn là mới, không trùng
lặp với các công trỡnh hiện hiện đó được công bố.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống húa lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về thu hút vốn đầu tư
cho phát triển KH&CN trong điều kiện nền kinh tế thị trường, luận văn phân tích và
đánh giá thực tiễn về hoạt động này ở nước ta để đề xuất giải pháp nhằm tạo động lực
thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN Việt Nam trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về thu hút vốn đầu tư cho phát triển
KH&CN trong điều kiện của nền kinh tế thị trường.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN ở
nước ta từ khi có Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII về KH&CN (năm 1996) đến
nay.
+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm thiết thực nhằm tạo động lực mở
rộng việc thu hút vốn đầu tư cho phát triển KH&CN phục vụ đắc lực sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ hoạt động thu hút vốn vốn đầu tư cho phát triển
KH&CN kể cả đầu tư cho các dự án nghiên cứu và triển khai KH & CN lẫn đầu tư xây
dựng cơ cơ vật chất – kỹ thuật cho các cơ quan và tổ chức nghiên cứu KH & CN các
khu công nghiệp.
- Phạm vi nghiên cứu: về không gian, đề tài nghiên cứu trên địa bàn cả nước; về
thời gian, kể từ khi có Nghị quyết Trung ương, khóa VIII của Đảng (năm 1996) đến

này, trước hết phải bắt đầu từ khái niệm vốn.
Theo Từ điển kinh tế hiện đại, thỡ tư bản hay vốn (capital) là một từ dùng để chỉ
một yếu tố sản xuất do hệ thống kinh tế tạo ra. Hàng hoá tư liệu vốn là hàng hoá được
sản xuất để sử dụng như yếu tố đầu vào cho quá trỡnh sản xuất tiếp theo. Vỡ vậy, tư bản
này có thể phân biệt được với đất đai và sức lao động, những thứ không được coi là do
hệ thống kinh tế tạo ra. Do bản chất không đồng nhất của nó mà sự đo lường tư bản trở
thành nguyên nhân của nhiều cuộc tranh cói trong lý thuyết kinh tế" [36, tr 129].
Theo cấu trúc giá trị của hàng hoá trong học thuyết của C. Mỏc, thỡ: Giá trị hàng
hoá = C + V + M; trong đó C là chi phí về tư bản bất biến, V là chi phí về tư bản khả
biến, M là giá trị thặng dư.
Để tiến hành tái sản xuất nhà tư bản cần chi phí về vốn cho cả tư bản bất biến và
tư bản khả biến. Tư bản khả biến ở đây hoàn toàn không đồng nghĩa với người lao động.
Nói cách khác, lao động không phải là vốn đầu tư mà chỉ có sức lao động đó chi ra mới
là yếu tố hỡnh thành vốn đầu tư.
Có quan niệm cho rằng, vốn có nghĩa là nguồn lực cho sản xuất. Muốn tiến hành
tái sản xuất thỡ cần phải chi phí về đất đai, tài chính (vốn) và lao động; theo đó người ta
thường nói: "Lao động là vốn quý", coi "lao động như là chi phí về "vốn".
Tuy nhiên, theo tác giả luận văn thỡ không nên thuần túy đều coi "lao động" là "vốn";
mà chỉ có khả năng lao động, tức là sức lao động khi nó được sử dụng để sản xuất ra các yếu
tố đầu vào cho quỏ trỡnh tỏi sản xuất thỡ mới gọi là vốn.

Vốn là biểu hiện bằng tiền tất cả các nguồn lực đó bỏ ra để đầu tư. Chúng có thể
là của cải vật chất, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động, là các tài sản vật chất
khác.
Các phạm trù vốn, tài sản và đầu tư tồn tại đan xen nhau. Có vốn mới thực hiện
được đầu tư và kết quả của đầu tư lại tạo ra tài sản và vốn. Trong thực tế, người ta
thường gọi vốn cố định là đầu tư dài hạn và vốn lưu động là đầu tư ngắn hạn.
Đầu tư cũng là một khái niệm kinh tế. Theo nghĩa rộng, đầu tư là sự hy sinh các
nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đem lại cho nhà đầu tư các
kết quả nhất định trong tương lai, mà kết quả này thường phải lớn hơn các chi phí về

kinh doanh để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu có thu nhập trong tương lai. Nghĩa là
vốn luôn gắn với sự vận động và đảm nhiệm chức năng sinh lời.
Tóm lại, ta có thể hiểu vốn đầu tư từ hai góc độ: Dưới góc độ doanh nghiệp hoặc
các đơn vị sản xuất kinh doanh, nếu khoản đầu tư nào của nhằm đem lại kết quả trong
tương lai (lợi nhuận), kể cả việc đầu tư vào mua sắm tài sản đó qua sử dụng; đầu tư vào
bất động sản; đầu tư vào cầm cố, thế chấp hoặc đầu tư vào thị trường chứng khoán, thỡ
cũng được gọi là vốn đầu tư. Nhưng nếu xột trong toàn bộ nền kinh tế quốc dõn thỡ nú
lại khụng thuộc về vốn đầu tư phát triển. Bởi vỡ, nếu xột trờn phạm vi toàn xó hội, thỡ
những hoạt động này không làm tăng tổng vốn của quốc gia. Nó chỉ là sự chuyển dịch
từ đơn vị này sang đơn vị khác mà thôi.
Từ cách đặt vấn dề như vậy, do tính chất của luận văn là nghiên cứu vốn đầu tư
cho khoa học và công nghệ, nên nội dung của đề tài chỉ tiếp cận nguồn vốn đầu tư dưới
góc độ kinh tế xó hội hay trờn phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dõn, chứ khụng tiếp
cận vốn đầu tư từ góc độ doanh nghiệp.
Trong kinh tế thị trường, vốn đầu tư do là lực nguồn tài chính nên luôn vận động và
đảm nhiệm chức năng sinh lời. Ta có thể nhìn nhận bản chất của vốn đầu tư thông qua các
nội dung sau:
Một là, về hình thái biểu hiện thì vốn đầu tư là hình thái giá trị. Giá trị đó được
ứng ra để chuyển hoá nó thành các yếu tố đầu vào cấu thành quá trình sản xuất. Trải qua
quá trình sản xuất, giá trị của vốn được lớn lên.

Xét về mặt cụ thể, vốn đầu tư được tồn tại ở các dạng: tài sản hữu hình, tài sản vô
hình và tài sản tài chính. Những tài sản này tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình
sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ; đồng thời làm tăng giá trị. Vốn là giá trị thực của tài
sản hữu hình, tài sản vô hình và là tài sản tài chính đưa vào đầu tư để tạo ra hàng hoá,
dịch vụ nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hai là, vốn đầu tư là một loại hàng hoá đặc biệt. Tính đặc biệt của nó thể hiện ở
chỗ, vốn đầu tư tạo khả năng sinh lời. Với tư cách là hàng hoá đặc biệt, quyền sở hữu
vốn đầu tư và quyền sử dụng vốn đầu tư có thể được tách rời nhau. Đặc điểm này không
thể có ở các loại hàng hoá thông thường. Chủ sở hữu vốn đầu tư sẽ nhận được một

xưởng, vị trí kinh doanh, bằng phát minh sáng chế được bỏ vào đầu tư sản xuất, kinh
doanh nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận và làm tăng tổng nguồn vốn quốc gia.
1.1.1.2. Các nguồn vốn đầu tư
Có nhiều cách xác định nguồn vốn đầu tư.
- Cách thứ nhất, xác định nguồn vốn theo hình thái của đầu tư, có vốn hữu hình
và vốn vô hình. Vốn hữu hình là loại vốn đầu tư có hình thái vật chất cụ thể gồm tài sản
hữu hình, tiền mặt, những giấy tờ có giá trị thanh toán. Đối với mọi chủ thể sản xuất
kinh doanh, vốn đầu tư được chuyển hoá phần lớn dưới hình thái vốn hữu hình. Vốn vô
hình là nguồn vốn tiền tệ đã được chi phí nhằm sử dụng những tài sản vô hình để phục
vụ yêu cầu của quá trình sản xuất kinh doanh. Phần vốn này bao gồm quyền sở hữu vị
trí kinh doanh, chi phí sử dụng bí quyết công nghệ, chi phí cho việc phát minh sáng
chế Trong thực tế, tỷ trọng vốn vô hình ngày càng chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu
tư.
- Cách thứ hai, xác định theo thời gian sử dụng, nguồn vốn đầu tư được phân
chia thành: vốn ngắn hạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn. Vốn ngắn hạn, lượng tiền được
sử dụng để đầu tư trong thời hạn 1 năm; vốn trung hạn là lượng tiền được sử dụng để đầu
tư trong thời hạn từ 1 năm đến 5 năm; và vốn dài hạn là lượng tiền được sử dụng để đầu
tư có kỳ hạn từ 5 năm trở lên.
- Cách thứ ba, xác định theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, có: vốn đầu tư trực
tiếp và vốn đầu tư gián tiếp. Vốn đầu tư trực tiếp là loại vốn được đầu tư vào hoạt động

kinh tế do nhà đầu tư bỏ ra và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư này
có thể dưới nhiều hình thức khác nhau như hợp đồng, liên doanh, lập công ty cổ phần.
Vốn đầu tư gián tiếp là loại vốn được đầu tư vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại hiệu
quả cho bản thân người có vốn cũng như cho xã hội, nhưng người có vốn không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Hoạt động đầu tư gián tiếp được biểu hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau như mua cổ phiếu, tín phiếu, tín dụng
- Cách thứ tư, xác định theo nguồn gốc xuất xứ, có: nguồn vốn trong nước và
nguồn vốn nước ngoài. Vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn được hình thành từ tiết
kiệm trong nước bao gồm tiết kiệm từ ngân sách nhà nước, tiết kiệm của các doanh

nhân người nước ngoài, vốn đầu tư trực tiếp của các nhà sản xuất kinh doanh, vốn tín
dụng của các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế. Đối với nước ta, còn có vốn do
người Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi về cho gia đình hoặc đầu tư cho các hoạt động
sản xuất kinh doanh ở trong nước.
Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (Offcial Development Assistance -
ODA) là nguồn vốn do các cơ quan chính thức của chính phủ một số nước và các tổ
chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với lãi suất thấp, thậm chí không
có lãi suất. Nguồn vốn này, thường được tập trung vào ngân sách của Chính phủ để
đầu tư phát triển hoặc cho vay. Hình thức viện trợ của nguồn vốn này ngoài vốn
ngoại tệ, thường được đầu tư dưới dạng máy móc, thiết bị, công nghệ, công trình
hoặc chuyên gia, có thể liên quan đến hỗ trợ cơ bản hay hay hỗ trợ kỹ thuật hoặc cả
hai hình thức này. Đây là nguồn vốn có quy mô tương đối lớn, được sử dụng đầu tư
thực hiện các công trình quốc gia như năng lượng, giao thông, nông nghiệp, thuỷ lợi,
thông tin liên lạc Hoặc ưu tiên đầu tư các chương trình y tế, dân số và kế hoạch
hoá gia đình; giáo dục đào tạo và giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm
nghèo, phát triển nông thôn và miền núi Như vậy, ODA là nguồn vốn cực kỳ quan
trọng và có ý nghĩa cho công cuộc phát triển kinh tế của các nước đang phát triển.
Thông qua dự án ODA, kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội của nước tiếp nhận được
nâng lên. Nếu các nước tiếp nhận đầu tư sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA sẽ là

nhân tố tích cực để nâng cao trình độ dân trí, chất lượng lao động và thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế- xã hội.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) là
nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp vào một nước khác để tiến hành kinh doanh
nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Hình thức phổ biến của đầu tư trực tiếp là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp
đồng; doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, hợp đồng xây
dựng - kinh doanh - chuyển giao (BOT), xây dựng- chuyển giao - kinh doanh (BTO) và
xây dựng - chuyển giao (BT).
Vốn nước ngoài là nguồn ngoại lực rất quan trọng cho đầu tư phát triển ở một

- Nếu tiếp cận theo góc độ vĩ mô của nền kinh tế, thỡ vốn đầu tư được gọi là vốn
đầu tư phát triển toàn xó hội và được cấu thành bởi ba bộ phận: vốn đầu tư cơ bản, vốn
lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác.
Vốn đầu tư cơ bản là số vốn để tạo ra tài sản cố định, bao gồm vốn đầu tư xây
dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là
một thuật ngữ đó được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta với nội dung bao hàm những
chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản
xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế. Về thực chất, loại vốn này chỉ bao gồm
những chi phí làm tăng thêm giá trị tài sản cố định. Nó có hai bộ phận hợp thành: vốn
đầu tư để mua sắm hoặc xây dựng mới tài sản cố định và chi phí cho sửa chữa lớn tài
sản cố định. Hai bộ phận này bao gồm: chi phí cho việc thăm dũ, khảo sỏt và quy hoạch
xõy dựng chuẩn bị cho việc đầu tư; chi phớ thiết kế cụng trỡnh; chi phí xây dựng; chi
phí mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị và những chi phí khác thuộc nguồn vốn đầu tư
xây dựng cơ bản; chi phí cho việc sửa chữa lớn nhà cửa, vật kiến trúc và máy móc thiết
bị, sửa chữa lớn các tài sản cố định khác. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận
của vốn đầu tư cơ bản được sử dụng để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật như đó nờu
trờn.
Vốn lưu động bổ sung là những khoản đầu tư làm tăng thêm tài sản lưu động của
toàn xó hội.

Vốn đầu tư phát triển khác là các khoản đầu tư của xó hội nhằm tăng năng lực
phát triển của xó hội. Sự phỏt triển của xó hội ngoài yếu tố làm tăng tài sản cố định và
tài sản lưu động, cũn phải làm tăng nguồn lực khác như: nâng cao dân trí, hoàn thiện
môi trường xó hội, cải thiện môi trường sinh thái, hỗ trợ cho các chương trỡnh phũng
chống tệ nạn xó hội và cỏc chương trỡnh phỏt triển khỏc.
Vốn đầu tư phát triển khác cũn bao gồm cả những khoản chi phí cho KH&CN,
nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trỡnh độ nghiên cứu. Do
việc phát triển KH&CN, nghiên cứu và triển khai, đào tạo cán bộ trong xó hội hiện nay
cú mặt ở hầu hết cỏc ngành, cỏc cơ quan, đơn vị sản xuất kinh doanh. Bên cạnh những
trung tâm, đơn vị lớn có ngân sách riêng, cũn có rất nhiều cơ quan đơn vị khác phần

ra những phương tiện, phương pháp mới thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc
sống xó hội. Nó không là bộ phận đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu
động, mà là là bộ phận đầu tư để tăng năng lực sản xuất và để nâng cao chất lượng của
sự tăng trưởng. Đầu tư cho phát triển KH&CN thực chất là đầu tư cho phát triển tri
thức. Bởi vậy, đây là hỡnh thức đầu tư cú tớnh “sống cũn” trong việc nõng cao năng
suất lao động của từng doanh nghiệp cũng như thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
tế của một quốc gia.
Hai là, xột theo chu trỡnh nghiờn cứu – triển khai – sản xuất, thỡ hoạt động
KH&CN nằm trong giai đoạn trước khi đưa ra sản xuất đại trà (hỡnh 1).
Hỡnh 1.1: Phạm vi của hoạt động KH&CN trong hệ thống sản xuất Theo cách tiếp cận này, đầu ra của các dự án KH&CN (sản phẩm khoa học và
sản phẩm công nghệ) mới chỉ dừng lại ở sản phẩm loạt nhỏ, không thể bán đại trà và
mới chỉ có khả năng thương mại hóa.
Nghi
ên
cứu

Nghiên
cứu
ứng
d
ụng

Triể
n
khai
Sản
xuất

liên quan tới cầu (nhu cầu và sức mua) của thị trường.
Đầu tư cho KH&CN tiềm ẩn sự “mạo hiểm”. Ngay cả tại các nước phát triển, tỷ
lệ nghiên cứu thành công có thể áp dụng vào đời sống và sản xuất cũng chỉ khoảng trên
dưới 20%.
Tuy vậy, đi cùng với nó, một dự án khi thành công (tạo ra sản phẩm là tri thức,

công nghệ hoàn chỉnh, đáp ứng được nhu cầu thị trường), thỡ nhà đầu tư sẽ thu được lợi
nhuận lớn, thậm chí là rất lớn nếu đó là những dự án mang tính đột phá. Đây chính là
một điểm khá hấp dẫn các nhà đầu tư.
Ba là, KH&CN là yếu tố “đầu vào” rất quan trọng để biến đổi các nguồn lực sản
xuất, là thước đo trỡnh độ phát triển của mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Trong kinh
tế thị trường, do áp lực cạnh tranh và lợi nhuận, từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh
tế đều phải coi phát triển khoa học và đổi mới công nghệ sản xuất là một đũi hỏi cú tớnh
sống cũn. Bí quyết về KH&CN phải có chủ sở hữu. Việc sản xuất và mua bán loại tài
sản này tất yếu sẽ diễn ra, do đó tất yếu hỡnh thành và phát triển thị trường KH&CN.
Kinh tế thị trường càng phát triển, càng thúc đẩy phân công, chuyên môn hóa
sâu. Việc một chủ thể có được một sản phẩm KH&CN cũng không nhất thiết phải do
chính chủ đó tạo ra. Họ có thể mua trên thị trường. Do đó, tồn tại quan hệ cung – cầu về
KH&CN. Dũng chảy của vốn đầu tư cho KH&CN phải tuân theo quan hệ cung – cầu
trên thị trường. Tức là người ta chỉ đầu tư vào lĩnh vực hay dự án KH&CN nào mà xó
hội cú nhu cầu. Theo quy luật về dũng chảy của cỏc nguồn vốn đầu tư sản xuất, kinh
doanh, thỡ sức cầu là một yếu tố quyết định việc chủ kinh tế nên đầu tư vào dự án
KH&CN nào và mức độ nhiều hay ít. Bởi vỡ loại vốn đầu tư này cũng tỡm kiếm lợi
nhuận. Nú sẽ vận động từ nơi hoạt động đầu tư kém hiệu quả đến nơi hoạt động đầu tư
có hiệu quả hơn.
Trên thị trường KH&CN, sự cạnh tranh giữa các cơ sở khoa học với tư cách là
người bán (nghiờn cứu, tỡm kiếm sản phẩm tốt nhất phục vụ khỏch hàng), và cạnh tranh
giữa các chủ doanh nghiệp với tư cách là người mua (lựa chọn sản phẩm tốt nhất của
các cơ sở khoa học phục vụ mục tiêu phát triển). Điều đó có nghĩa là trong kinh tế thị
trường, đầu tư cho phát triển KH&CN không chỉ đơn thuần là công việc được Nhà nước

rất khú nhỡn thấy. Nhưng ở một nước có khoảng 10 triệu máy tính cá nhân, nếu không
có phần mềm diệt virus hiệu quả, khi bị virus tấn công trên diện rộng, chi phí sửa chữa
một máy có thể tới vài chục đô la. Nhân lên cả xó hội thỡ tổn thất là rất lớn, chưa kể
thiệt hại do cơ sở dữ liệu quản lý của cả xó hội bị phỏ hủy, trong khi việc bỏ ra vài

nghỡn đôla để đầu tư nghiên cứu phần mềm diệt virus có thể cứu được cả chục triệu cái
máy tính trên, giảm tổn thất cho xó hội hàng nghỡn tỷ đồng.
Một ví dụ khác, nghiên cứu chế tạo thành công hệ thống xylanh nõng hạ thủy lực
tải trọng lớn (400 tấn) ở cụng trỡnh thủy điện Sơn La. Hiệu quả nhỡn thấy được có thể
chỉ là mấy triệu USD tiết kiệm được so với mua của nước ngoài, nhưng hiệu quả vô
hỡnh chớnh là sản phẩm khoa học này đó giỳp rỳt ngắn thời gian thi cụng nhà mỏy,
phỏt điện trước thời hạn 2 năm, cung cấp cho đất nước hàng chục tỷ kWh điện, đem
lại lợi ích kinh tế - xó hội hàng tỷ USD. Đó là chưa kể những lợi ích khác như chúng
ta làm chủ được công nghệ chế tạo, không phụ thuộc vào nước ngoài, có thể sử dụng
cho các công trỡnh khỏc tiếp theo như thủy điện Lai Châu, tiếp tục mang lại hiệu quả
kinh tế cao.
Năm là, đầu tư cho KH&CN cũng là hoạt động đầu tư trong kinh tế thị trường để
tạo ra sản phẩm hàng hóa. Do vậy, nguồn huy động vốn cho hoạt động đầu tư này cũng
tất yếu thông qua thị trường. Các hỡnh thức tớn dụng, cổ phiếu và trỏi phiếu cũng là
kênh dẫn vốn thiết yếu cho hoạt động đầu tư này.
Tuy nhiên, do hoạt động KH&CN có độ trễ, hiệu quả hoạt động của nó là gián
tiếp hoặc vô hỡnh, nờn sự hỗ trợ về tài chớnh của Nhà nước là rất cần thiết cho các hoạt
động KH&CN, nhất là đối với các nghiên cứu cơ bản, có tính chất đột phá nhằm nâng
cao tiềm lực KH&CN quốc gia.
1.1.2. Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư cho phát triển khoa học và công
nghệ
Vốn đầu tư có tầm quan trọng đặc biệt. Nó là yếu tố vật chất trực tiếp quyết định
tốc độ tăng trưởng kinh tế, phỏt triển xó hội và bảo vệ, cải thiện mụi trường. Trên bình
diện vĩ mô tất cả các chiến lược, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội đều rất cần
đến vốn đầu tư. Đối với hoạt động KH&CN, vốn đầu tư có vai trũ là điều kiện tiên

liệu năm 2004, đầu tư cho KH&CN của EU là 1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP,
Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa Kỳ là 2,59% GDP, Hàn Quốc là gần 5% GDP. Mức
đầu tư cho hoạt động KH&CN tính trên đầu người (per capita) năm 2007 của Việt Nam

khoảng 5USD, trong khi con số đó của Trung Quốc khoảng 20 USD (năm 2004) và đặc
biệt là Hàn Quốc khoảng 1.000USD (năm 2007).
Mức đầu tư của nước ta cho KH&CN thấp như trên là sự phản ánh một thực tế
điểm xuất phát về kinh tế cũn thấp, thu nhập chưa cao, phần tiết kiệm cho đầu tư cũn ở
mức rất khiờm tốn. Nước ta đang đứng trước mâu thuẫn rất gay gắt giữa nhu cầu đầu tư
cho phỏt triển kinh tế - xó hội núi chung, KH&CN núi riờng là rất lớn, nhưng mức đáp
ứng cũn hạn hẹp.
Do thu nhập của dân cư thấp, nên nguồn thu ngân sách Nhà nước cũn ớt. Mặc dự
hàng năm Nhà nước đó cú nhiều cố gắng dành phần lớn ngõn sỏch cho phỏt triển
KH&CN, nhưng không thể đáp ứng được nhu cầu.
Cũng như các nước đang phát triển khác, nước ta đang đứng trước “vũng luẩn
quẩn” của tỡnh trang kộm phỏt triển: thu nhập thấp, dẫn đến tiết kiệm và đầu tư thấp,
dẫn đến tỷ lệ tích luỹ vốn thấp, không đủ vốn cho đầu tư; làm cho năng lực sản xuất
giảm, năng suất của nền kinh tế thấp; điều này dẫn đến kết quả là thu nhập bình quân
thấp và không thể vượt lên mức thu nhập ban đầu. Để phá vỡ vòng luẩn quẩn đó, các
nước đang phát triển phải tạo ra “một bước đột phá” vào một mắt xích nào đó, để rồi
phá vỡ các mắt xích còn lại. Khâu đột phá thường được lựa chọn là tăng nguồn vốn đầu
tư.
Việc thu hỳt cỏc nguồn vốn xó hội cả trong và ngoài nước cho phát triển
KH&CN là đũi hỏi thiết yếu trong quỏ trỡnh đẩy mạnh CNH, HĐH ở nước ta hiện nay.
1.1.2.2. Trong xu hướng toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra, chỉ có KH&CN
mới đưa Việt Nam bứt phá
Trong quan hệ kinh tế, lợi thế của một nước có thể từ điều kiện tự nhiên và vị trí
địa lý, nhưng cũng có thể được tạo ra bởi hoạt động của con người. Ngày nay, người ta
đó rỳt ra quy luật: trờn thế giới, khụng phải những nước chiếm giữ nhiều đất đai và tiền
bạc mà chính những nước chiếm giữ đỉnh cao tri thức và công nghệ mới trở thành các

1.1.2.3. Việc thu hút vốn đầu tư vào KH&CN còn là cần thiết để nuôi dưỡng
nhân tài, tạo động lực phát triển, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động

Nhõn lực trỡnh độ cao là một yếu tố quyết định tốc độ và hiệu quả phát triển
KH&CN. Ngày nay, mục tiêu phát triển trong nền kinh tế thị trường toàn cầu hóa đó
được nhiều nước quan niệm: khoa học sử dụng tiền để tạo ra tri thức, cũn cụng nghệ thỡ
sử dụng tri thức để tạo ra tiền. Để có được như vậy, cần phải có nguồn nhân lực đủ trỡnh
độ. Trong xu thế phát triển như vũ bóo của cuộc cỏch mạng KH&CN hiện nay, ngoài việc
mở rộng đào tạo mới để tăng nhanh số lượng nguồn nhân lực KH&CN, thỡ việc trang bị
thờm cỏc kiến thức về phỏp lý, tài chớnh, v.v mỗi nhà quản lý, mỗi nhà khoa học là rất
cần thiết.
Hiện tại, đa phần các nước đang phát triển vẫn là nơi tự nguyện cung cấp lực
lượng lao động và đất đai giá rẻ cũng như tạo các điều kiện thuận lợi về thuế và xuất
khẩu để thu hút đầu tư nước ngoài. Điển hỡnh nhất của tỡnh trạng "công nghiệp hóa phi
công nghệ" là các nước Đông Nam Á. Doanh nghiệp ở các nước này chỉ quan tâm việc
thu lợi nhanh bằng buôn bán bất động sản hơn là bỏ công sức để học tập công nghệ và
xây dựng nhà máy. Rừ ràng là, nếu chớnh sỏch phỏt triển chỉ nhỡn nhận đầu tư theo
phương diện tài chính hoặc số lượng người lao động có việc làm mà không coi trọng
đầu tư để học tập, nâng cao trỡnh độ khoa học và đổi mới công nghệ, đổi mới văn hóa,
thỡ cựng lắm đất nước cũng chỉ thoát nghèo và mói mói vẫn chỉ là nước đang phát triển.
Không phải khi nào chỉ số GDP cũng là thước đo của sự phát triển.
Hiện nay, tỷ lệ lao động tốt nghiệp đại học trên số dân của nước ta không bằng
một nửa tỷ lệ đó ở các nước đông dân như Trung Quốc, Ấn Độ. Các trường đại học ở
Việt Nam có một khoảng cách xa mới đạt tầm của các trường đại học ở các nước trong
khu vực, trong khi các trường đại học ở các nước này cũng cũn lõu nữa mới đạt chuẩn
các trường đại học đẳng cấp quốc tế. Khó khăn lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp
Việt Nam là chưa đủ kiến thức (chất xám) để làm chủ công nghệ, nghiên cứu và ứng
dụng KH&CN vào phát triển kinh tế. Điều này nghĩa là, nếu chúng ta thiếu một cuộc
cách mạng về phát triển con người sẽ rất khó khăn khi đón nhận những lợi ích lâu dài và
to lớn mà đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài, mang lại cho đất nước. Nói cách khác, ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status