Học viện chính trị Hành chính quốc gia Hồ chí Minh
Nguyễn mậu trung
Thu hút vốn đầu t
cho phát triển khoa học và công nghệ
ở việt nam hiện nay
Chuyên ngành
: Kinh tế chính trị
Mã số
: 60 31 01
Luận văn thạc sĩ kinh tế
Ngời hớng dẫn khoa học: PGS.TS An Nh Hải
Hà nội 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc
lập của riêng tôi. Các số liệu, tài liệu khai thác, tập hợp,
sử dụng và kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là
trung thực. Những kết luận khoa học của Luận văn là vấn
đề mới và có tính hệ thống, chưa có tài liệu nội dung
tương tự được công bố trong công trình nghiên cứu nào./.
2.2. Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu t cho phát triển khoa học
và công nghệ
45
45
69
Chơng 3: Phơng hớng và giải pháp tăng cờng thu hút
vốn đầu t cho khoa học và công nghệ
3.1. Bối cảnh phát triển khoa học và công nghệ nớc ta và phơng hớng tăng cờng thu hút vốn đầu t cho hoạt động này
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cờng thu hút vốn đầu t
cho phát triển khoa học và công nghệ nớc ta trong thời
gian tới
Kết luận và kiến nghị
danh mục các công trình của tác giả
DANH Mục Tài Liệu THAM Khảo
91
91
99
116
119
120
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn
BOT
Đầu t trực tiếp nớc ngoài
Tổng sản phẩm trong nớc (Groos Domestic Product)
Tổng sản phẩm quốc dân (Groos National Product)
Khoa học và công nghệ
Vốn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ
Viện trợ phát triển chính thức
Quỹ sáng tạo KH & CN Việt Nam
Danh mục các bảng biểu
Trang
Bảng 1.1: Phân bổ ngân sách nhà nớc cho ba cơ quan chủ yếu của
Nhật Bản (năm tài khóa 1996 và 1997)
Bảng 1.2: Vốn đầu t cho khoa học và số nghiên cứu viên năm 2005
Bảng 1.3: Tỷ lệ đầu t năm 2005 cho nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
35
36
ứng dụng và nghiên cứu phát triển ở Nhật Bản
Bảng 2.1: Vốn đầu t cho KH&CN từ ngân sách nhà nớc (1996-2008)
Bảng 2.2: Tăng trởng đầu t cho KH&CN từ ngân sách nhà nớc (1996-
37
71
2008)
Bảng 2.3: Tỷ lệ vốn các nguồn cho đầu t phát triển KH&CN (từ NSNN
thc hin ch trng ny, Nh nc ó dnh mt lng vn ln u
t cho phỏt trin KH&CN. Trong mt s nm gn õy, u t cho KH&CN
ó chim 2% tng chi ngõn sỏch tc l khong 0,5% GDP ca c nc. Vic
quan tõm u t núi trờn ó em li nhng kt qu khớch l. Tim lc
KH&CN ó c tng cng t vic xõy dng c quan lm vic, cỏc xng,
tri thc nghim, phũng thớ nghim n sa cha nh, tng cng mỏy múc
thit b hin i. Nh vy, iu kin lm vic v nghiờn cu khoa hc c
ci thin mt bc. Cỏn b KH&CN ó c o to, nõng cao trỡnh . ó
cú c nhng ti khoa hc v sn phm cụng ngh cú giỏ tr phc v s
nghip phát triển kinh tế xã hội của t nc.
2
Tuy nhiên, đến nay hoạt động KH&CN của nước ta còn rất hạn chế.
Trong đó, vấn đề đầu tư cho KH&CN chưa thật sự được chú trọng, nhất là
đấu tư cho các dự án khoa học có điều kiện nghiên cứu và ứng dụng, gắn kết
với nhu cầu thực tiễn của các ngành kinh tế quốc dân, nâng cao năng lực công
nghệ nội sinh còn nhiều bất cập. KH&CN nên vẫn chưa thực sự gắn kết với
nhu cầu và hoạt động của các ngành kinh tế, xã hội, chậm đưa vào ứng dụng
những kết quả đã nghiên cứu được, trình độ công nghệ còn thấp nhiều so với
các nước xung quanh. Năng lực tạo ra công nghệ mới còn rất có hạn, chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Một trong những nguyên nhân quan trọng gây ra hạn chế này là nguồn
vốn đầu tư cho hoạt động KH&CN còn rất thấp. Tỷ lệ vốn đầu tư cho
KH&CN nếu tính cả đầu tư của khu vực ngoài nhà nước mới chỉ khiêm tốn ở
mức khoảng 0,6% GDP, trong khi đó, năm 2004 con số này của các nước EU
đã là 1,95% GDP, Nhật Bản là 3,15% GDP, Trung Quốc là 1,31% GDP, Hoa
Kỳ là 2,59% GDP, Hàn Quốc là gần 5% GDP. Nếu tính mức đầu tư cho hoạt
KH&CN trên đầu người, thì Việt Nam mới đạt khoảng 5 USD (năm 2007),
trong khi của Trung Quốc là khoảng 20 USD (năm 2004) và đặc biệt là Hàn
Bộ nghiên cứu về “Chia sẻ kinh phí giữa nhà nước và cơ sở cho dự án triển
khai và đổi mới công nghệ” do Nguyễn Thanh Hà làm chủ nhiệm, nghiên cứu
tình hình và cơ chế hoạt động của hệ thống các quỹ hỗ trợ tài chính cho hoạt
động KH&CN ở Việt Nam. Hay những đề tài cấp cơ sở như: “Nâng cao hiệu
quả một số chính sách thuế và tín dụng khuyến khích các doanh nghiệp đổi
mới công nghệ” do Hoàng Văn Tuyên làm chủ nhiệm, nghiên cứu về chính
sách thuế và tín dụng cùng một số nỗ lực của Nhà nước tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất kinh
doanh, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp chính sách về tài chính đối với
doanh nghiệp; đề tài về; “Nghiên cứu xây dựng các hình thức hợp tác và cơ
chế khuyến khích hợp tác viện – doanh nghiệp phát triển sản phẩm và công
nghệ của doanh nghiệp” do Hoàng Thanh Hương làm chủ nhiệm nhằm phân
tích mối quan hệ giữa hoạt động KH&CN và hoạt động sản xuất nhằm tìm ra
4
và kiến nghị các hình thức hợp tác và cơ chế khuyến khích hợp tác cho mối
quan hệ này.
Đã có một số bài viết như: “Thị trường khoa học và công nghệ; đặc
trưng của kinh tế tri thức” của GS Vũ Đình Cự bàn về nhiệm vụ do Đại hội
IX của Đảng đặt ra là phải phát triển thị trường KH&CN ở Việt Nam nhưng
thực tế thị trường đó như thế nào, đã làm được gì và kiến nghị giải pháp thúc
đẩy phát triển; bài: “Phát triển thị trường khoa học và công nghệ Việt Nam”
của TS Hồ Ngọc Luật nhằm phân tích các yếu tố cung, cầu, môi trường pháp
lý, xã hội cho thị trường này hoạt động trôi chảy, đưa ra đánh giá bước đầu về
sự phát triển thị trường này và kiến nghị các giải pháp thúc đẩy phát triển.
Các nghiên cứu này đã có những bàn luận về nguồn vốn cho phát triển
KH&CN trong điều kiện nền kinh tế nhiều thành phần. Một số bài viết về đầu
tư phát triển KH&CN, phân tích thực trạng của hoạt động đầu tư này và kiến nghị
giải pháp thúc đẩy như: “Vốn đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ vẫn
+ Đề xuất phơng hớng và giải pháp nhằm thiết thực nhằm to ng lc
m rng vic thu hỳt vn u t cho phỏt trin KH&CN phc v c lc s
nghip cụng nghip húa, hin i húa t nc.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu: toàn bộ hoạt động thu hút vốn vn u t cho
phỏt trin KH&CN k c u t cho cỏc d ỏn nghiờn cu v trin khai KH &
CN ln u t xõy dng c c vt cht k thut cho cỏc c quan v t chc
nghiờn cu KH & CN các khu cụng nghip.
- Phạm vi nghiên cứu: về không gian, đề tài nghiên cứu trên địa bàn c
nc; về thi gian, kể từ khi có Nghị quyết Trung ơng, khúa VIII của Đảng
(năm 1996) n nay.
Do phm vi l mt ti lun vn thc s, thời hạn thực hiện đề tài
ngắn, nờn vic nghiên cứu của học viên ch gii hn trờn c s cỏc ti liu ó
cụng b, tin hnh kho sỏt thc t mt s ớt a bn phc v cho mc tiờu v
nhim v nghiờn cu. Vic kho sỏt, iu tra trên quy mụ ln về lý luận và
thc tin s c tip tc nghiờn cu cỏc cụng trình tiếp theo.
6
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp luận nghiờn cu
Luận văn đợc nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên
cứu của kinh tế chính trị Mác - Lênin, quán triệt t tởng Hồ Chí Minh và quan
điểm của Đảng cộng sản Việt Nam; đồng thời sử dụng những lý thuyết ca
kinh tế học hiện đại về vai trò của vốn đầu t trong phát triển kinh tế xã hội.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Khái quát lý luận về thu hút vn u t cho phỏt trin KH&CN phù
hợp với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam.
- Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu t cho phát
triển KH&CN nc ta 10 năm qua, đề xuất phơng hớng và giải pháp nhằm
em li kt qu trong tng lai (li nhun), k c vic u t vo mua sm ti
sn ó qua s dng; u t vo bt ng sn; u t vo cm c, th chp
hoc u t vo th trng chng khoỏn, thỡ cng c gi l vn u t.
Nhng nu xột trong ton b nn kinh t quc dõn thỡ nú li khụng thuc v
vn u t phỏt trin. Bi vỡ, nu xột trờn phm vi ton xó hi, thỡ nhng hot
ng ny khụng lm tng tng vn ca quc gia. Nú ch l s chuyn dch t
n v ny sang n v khỏc m thụi.
10
T cỏch t vn d nh vy, do tớnh cht ca lun vn l nghiờn cu
vn u t cho khoa hc v cụng ngh, nờn ni dung ca ti ch tip cn
ngun vn u t di gúc kinh t xó hi hay trờn phm vi ton b nn
kinh t quc dõn, ch khụng tip cn vn u t t gúc doanh nghip.
Trong kinh tế thị trờng, vốn đầu t do là lực nguồn tài chính nên luôn vận
động và đảm nhiệm chức năng sinh lời. Ta có thể nhìn nhận bản chất của vốn
đầu t thông qua các nội dung sau:
Một là, về hình thái biểu hiện thì vốn đầu t là hình thái giá trị. Giá trị đó
đợc ứng ra để chuyển hoá nó thành các yếu tố đầu vào cấu thành quá trình sản
xuất. Trải qua quá trình sản xuất, giá trị của vốn đợc lớn lên.
Xét về mặt cụ thể, vốn đầu t đợc tồn tại ở các dạng: tài sản hữu hình, tài
sản vô hình và tài sản tài chính. Những tài sản này tham gia trực tiếp hoặc gián
tiếp vào quá trình sản xuất, tạo ra hàng hoá và dịch vụ; đồng thời làm tăng giá
trị. Vốn là giá trị thực của tài sản hữu hình, tài sản vô hình và là tài sản tài chính
đa vào đầu t để tạo ra hàng hoá, dịch vụ nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Hai là, vốn đầu t là một loại hàng hoá đặc biệt. Tính đặc biệt của nó thể
hiện ở chỗ, vốn đầu t tạo khả năng sinh lời. Với t cách là hàng hoá đặc biệt,
quyền sở hữu vốn đầu t và quyền sử dụng vốn đầu t có thể đợc tách rời nhau.
Đặc điểm này không thể có ở các loại hàng hoá thông thờng. Chủ sở hữu vốn
đầu t sẽ nhận đợc một khoản lợi tức (giá bán hay lãi suất quyền sử dụng vốn)
Từ phân tích những nhận thức về vốn của những nhà kinh tế, có thể hiểu
vốn đầu t là toàn bộ giá trị của tất cả các yếu tố sản xuất nh tiền tệ, máy móc,
thiết bị, nhà xởng, vị trí kinh doanh, bằng phát minh sáng chế... đợc bỏ vào
đầu t sản xuất, kinh doanh nhằm đạt đợc mục tiêu lợi nhuận và làm tăng tổng
nguồn vốn quốc gia.
1.1.1.2. Các nguồn vốn đầu t
Có nhiều cách xác định nguồn vốn đầu t.
- Cách thứ nhất, xác định nguồn vốn theo hình thái của đầu t, có vốn
hữu hình và vốn vô hình. Vốn hữu hình là loại vốn đầu t có hình thái vật chất
cụ thể gồm tài sản hữu hình, tiền mặt, những giấy tờ có giá trị thanh toán. Đối
12
với mọi chủ thể sản xuất kinh doanh, vốn đầu t đợc chuyển hoá phần lớn dới
hình thái vốn hữu hình. Vốn vô hình là nguồn vốn tiền tệ đã đợc chi phí nhằm
sử dụng những tài sản vô hình để phục vụ yêu cầu của quá trình sản xuất kinh
doanh. Phần vốn này bao gồm quyền sở hữu vị trí kinh doanh, chi phí sử dụng
bí quyết công nghệ, chi phí cho việc phát minh sáng chế... Trong thực tế, tỷ
trọng vốn vô hình ngày càng chiếm phần lớn trong tổng vốn đầu t.
- Cách thứ hai, xác định theo thời gian sử dụng, nguồn vốn đầu t đợc
phân chia thành: vốn ngắn hạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn. Vốn ngắn hạn, lợng tiền đợc sử dụng để đầu t trong thời hạn 1 năm; vốn trung hạn là lợng tiền đợc sử dụng để đầu t trong thời hạn từ 1 năm đến 5 năm; và vốn dài hạn là lợng
tiền đợc sử dụng để đầu t có kỳ hạn từ 5 năm trở lên.
- Cách thứ ba, xác định theo quan hệ quản lý của chủ đầu t, có: vốn đầu
t trực tiếp và vốn đầu t gián tiếp. Vốn đầu t trực tiếp là loại vốn đợc đầu t vào
hoạt động kinh tế do nhà đầu t bỏ ra và tham gia quản lý hoạt động đầu t. Hoạt
động đầu t này có thể dới nhiều hình thức khác nhau nh hợp đồng, liên doanh,
lập công ty cổ phần. Vốn đầu t gián tiếp là loại vốn đợc đầu t vào hoạt động
kinh tế nhằm đem lại hiệu quả cho bản thân ngời có vốn cũng nh cho xã hội,
nhng ngời có vốn không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu t. Hoạt động
đầu t gián tiếp đợc biểu hiện dới nhiều hình thức khác nhau nh mua cổ phiếu,
nhân trong nền kinh tế, nếu những đối tợng vay vốn chấp hành đầy đủ những quy
chế tín dụng. Sở dĩ các tổ chức này có thể thu hút, huy động nguồn vốn bằng
tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế với khối lợng lớn, bởi vì các tổ chức này đã sử
dụng dới nhiều hình thức huy động khác nhau rất phong phú và đa dạng. Mặt
khác, thời hạn cho vay cũng rất linh hoạt (bao gồm vay ngắn hạn, trung hạn và dài
hạn), tuỳ thuộc vào nhu cầu của ngời đi vay... Bởi vậy, trong lĩnh vực đầu t phát
triển thì việc tiếp cận vốn qua tín dụng ngân hàng và các tổ chức tài chính trung
gian là một phơng thức rất quan trọng không thể thiếu đợc.
Vốn nớc ngoài là nguồn vốn tài trợ của các quốc gia, các tổ chức quốc tế
và cá nhân ngời nớc ngoài, vốn đầu t trực tiếp của các nhà sản xuất kinh doanh,
vốn tín dụng của các ngân hàng và tổ chức tài chính quốc tế. Đối với nớc ta,
14
còn có vốn do ngời Việt Nam định c ở nớc ngoài gửi về cho gia đình hoặc đầu
t cho các hoạt động sản xuất kinh doanh ở trong nớc.
Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức (Offcial Development
Assistance - ODA) là nguồn vốn do các cơ quan chính thức của chính phủ
một số nớc và các tổ chức quốc tế viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với
lãi suất thấp, thậm chí không có lãi suất. Nguồn vốn này, th ờng đợc tập
trung vào ngân sách của Chính phủ để đầu t phát triển hoặc cho vay. Hình
thức viện trợ của nguồn vốn này ngoài vốn ngoại tệ, thờng đợc đầu t dới
dạng máy móc, thiết bị, công nghệ, công trình hoặc chuyên gia, có thể liên
quan đến hỗ trợ cơ bản hay hay hỗ trợ kỹ thuật hoặc cả hai hình thức này.
Đây là nguồn vốn có quy mô tơng đối lớn, đợc sử dụng đầu t thực hiện các
công trình quốc gia nh năng lợng, giao thông, nông nghiệp, thuỷ lợi, thông
tin liên lạc... Hoặc u tiên đầu t các chơng trình y tế, dân số và kế hoạch hoá
gia đình; giáo dục đào tạo và giải quyết các vấn đề xã hội nh xoá đói giảm
nghèo, phát triển nông thôn và miền núi... Nh vậy, ODA là nguồn vốn cực
kỳ quan trọng và có ý nghĩa cho công cuộc phát triển kinh tế của các nớc
Vốn của Việt là nguồn vốn của ngời Việt Nam sinh sống và làm việc ở
nớc ngoài. Hiện nay, có trên 3 triệu ngời Việt Nam đang sinh sống và làm việc
ở nớc ngoài, hàng năm gửi về nớc khoảng 4 - 5 tỷ USD. Đây là một nguồn vốn
lớn, góp phần không nhỏ vào việc đáp ứng yêu cầu về vốn đầu t của nền kinh
tế.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nh u t l t chc, cỏ nhõn
thc hin hot ng u t theo quy nh ca phỏp lut Vit Nam, bao gm:
Doanh nghip thuc cỏc thnh phn kinh t thnh lp theo Lut doanh nghip;
Hp tỏc xó, liờn hip hp tỏc xó thnh lp theo Lut hp tỏc xó; Doanh nghip
cú vn u t nc ngoi c thnh lp trc khi Lut ny cú hiu lc; H
kinh doanh, cỏ nhõn; T chc, cỏ nhõn nc ngoi, ngi Vit Nam nh c
nc ngoi; ngi nc ngoi thng trỳ Vit Nam; v cỏc t chc khỏc
16
theo quy định của pháp luật Việt Nam. Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá
nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
- Nếu tiếp cận theo góc độ vĩ mô của nền kinh tế, thì vốn đầu tư được
gọi là vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và được cấu thành bởi ba bộ phận: vốn
đầu tư cơ bản, vốn lưu động bổ sung và vốn đầu tư phát triển khác.
Vốn đầu tư cơ bản là số vốn để tạo ra tài sản cố định, bao gồm vốn đầu
tư xây dựng cơ bản và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định. Vốn đầu tư
xây dựng cơ bản là một thuật ngữ đã được sử dụng khá quen thuộc ở nước ta
với nội dung bao hàm những chi phí bằng tiền để xây dựng mới, mở rộng, xây
dựng lại hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh
tế. Về thực chất, loại vốn này chỉ bao gồm những chi phí làm tăng thêm giá trị
tài sản cố định. Nó có hai bộ phận hợp thành: vốn đầu tư để mua sắm hoặc
xây dựng mới tài sản cố định và chi phí cho sửa chữa lớn tài sản cố định. Hai
bộ phận này bao gồm: chi phí cho việc thăm dò, khảo sát và quy hoạch xây
dựng chuẩn bị cho việc đầu tư; chi phí thiết kế công trình; chi phí xây dựng;
u t kinh doanh ch chỳ ý vo lnh vc cụng ngh. Th nhng hin nay,
khong cỏch gia KH&CN ngy cng c rỳt ngn, thm chớ rt ngn. Ranh
gii gia khoa hc v cụng ngh khú tỏch bch. Do vy, u t vo cụng
ngh hay u t vo khoa hc u mang ý ngha nh nhau. Chỳng ta phi cú
cỏch nhỡn ng i vi u t cho KH&CN v t hot ng u t ny trong
bi cnh tng th ca u t phỏt trin núi chung v do vy khng nh mi
liờn h mt thit, s ph thuc cht ch ca u t cho KH&CN vo cỏc hot
ng u t khỏc trong phỏt trin kinh t xó hi.
Vn u t cho KH&CN l mt loi u t phỏt trin. Nú l ngun vn
c b ra thc hin mc ớch u t phỏt trin KH&CN nhm tng nng
lc KH&CN ca mt n v v ca quc gia, thỳc y tng nng sut lao
ng v hiu qu kinh t. Hot KH&CN bao gm nghiờn cu khoa hc,
nghiờn cu v phỏt trin cụng ngh, dch v khoa hc v cụng ngh, hot
ng phỏt huy sỏng kin, ci tin k thut, hp lý hoỏ sn xut v cỏc hot
ng khỏc nhm phỏt trin KH&CN. õy l hot ng cú tớnh c thự. Do
18
vậy, vốn đầu tư cho KH&CN cũng mang tính đặc thù cả trong nội dung và
phương thức hoạt động cuả nó. Tính đặc thù này xuất phát từ đối tượng phục
vụ của nguồn vốn là hoạt động KH&CN. Từ cách đặt vấn đề như trên, ta có
thể khái quát những đặc điểm cơ bản của nguồn vốn đầu tư này:
Một là, đối tượng đầu tư không chỉ đơn thuần thuộc lĩnh vực sản xuất,
kinh doanh để nhà đầu tư trực tiếp thu lợi nhuận, thu được một giá trị lớn hơn
giá trị vốn đã bỏ ra, mà khoản đầu tư này còn lấy đối tượng là phục vụ cho
các hoạt động nghiên cứu, triển khai tìm kiếm, phát hiện tri thức mới và vận
dụng những tri thức đó vào việc tạo ra những phương tiện, phương pháp mới
thúc đẩy sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống xã hội. Nó không là bộ
phận đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản cố định và tài sản lưu động, mà là là bộ
phận đầu tư để tăng năng lực sản xuất và để nâng cao chất lượng của sự tăng
Do mục tiêu của một dự án KH&CN là tạo ra hoặc hoàn thiện các yếu
tố liên quan đến sự khám phá hoặc đến công nghệ (áp dụng, cải tiến, hấp thụ,
làm chủ công nghệ) và sản phẩm của dự án có khả năng chuyển giao (thương
mại hóa), nên trong quá trình thực hiện dự án, bản thân người trong cuộc sẽ
phải có những hoạt động triển khai cụ thể mà những hoạt động này có thể
nằm trong những giai đoạn khác nhau trong chu trình nghiên cứu – triển khai
– sản xuất.
Sản phẩm của dự án KH&CN có thể là tri thức mới, là công nghệ hoàn
chỉnh với đầy đủ tính năng mong muốn và có khả năng thương mại hóa. Sản
phẩm của KH&CN thực chất là tri thức, chất xám nên khó lượng định, được
thể hiện dưới dạng vật chất hữu hình như bằng phát minh sáng chế hoặc vô
hình dưới dạng ý tưởng công nghệ. Việc xác định giá trị của hàng hóa này là
điều rất khó, do lao động sáng tạo ra hàng hóa là lao động trí óc và tồn tại sự
bất đối xứng thông tin giữa bên bán và bên mua. Thực tế cho thấy, sự thành
công trong việc tạo ra tri thức, công nghệ và khả năng chuyển giao, thương
mại hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố: kinh tế, kỹ thuật, tài chính, xã hội,
v.v... Điều này có nghĩa là đầu tư vào các dự án KH&CN thường có độ mạo
hiểm và rủi ro tương đối. Những rủi ro này thường gắn với rủi ro về mặt công
nghệ và rủi ro về mặt thị trường.
Rủi ro về mặt công nghệ gắn nhiều tới các yếu tố kỹ thuật, các yếu tố
đầu vào khác của dự án (kinh tế, tài chính). Ví dụ, Edison – một nhà sáng chế
ra dây tóc bóng đèn điện, đã thất bại hàng nghìn lần thí nghiệm mới chế tạo
thành công dây tóc đèn điện, Marie Curie cũng thất bại hàng nghìn lần mới
20
phát minh ra chất phóng xạ uranium. Điều này nghĩa là nếu sử dụng tiền túi tự
đầu tư để nghiên cứu thì sự mạo hiểm có thể dẫn đến nguy hiểm. Thực tế, đã
có nhiều nhà khoa học ở các nước tư bản công nghiệp bị phá sản vì thất bại.
Rủi ro về mặt thị trường gắn nhiều tới các yếu tố liên quan tới cầu (nhu cầu và