Tình hình hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước và một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay - Pdf 87

Lời nói đầu
Trong quá tình hội nhập Kinh tế quốc tế, vấn đề nâng cao hiệu quả và khả
năng cạnh trạnh của doanh ngiệp nhà nước ( DNNN) được đặt ra hết sức cấp
bách. Đảng ta cũng chỉ rõ “ Chính sách tài chính quốc gia hướng vào việc tạo
ra vốn và sử dụng vốn có hiệu quả trong toàn xã hội, tăng nhanh sản phẩm xã
hội và thu nhập quốc dân”. Trong đó vấn đề sử dụng vốn có hiệu quả là một
trong những vấn đề được Chính Phủ, xã hội và các Doanh nghiệp đặc biệt
quan tâm. Đại hội §ảng toàn quốc lần thứ VI đánh dấu một bước ngoặc đổi
với chính sách và cơ chế kinh tế nói chung, thị trường và Sản xuất kinh doanh
nói riêng. Các DNNN được quyền tự chủ hơn trong hoạt động sản xuất kinh
doanh, nhưng cùng với nó, DNNN phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên
thị trường. Các DNNN đều phải chịu trách nhiệm trước đồng vốn mình bỏ ra,
làm sao cho có lãi để hòng mong sự tồn tại và phát triển được. Chế độ này
không còn như chế độ bao cấp ngày xưa, nếu làm ăn thua lỗ sẽ do Nhà nước
gánh hết. Vì vậy DN luôn tìm mọi giải pháp sao cho sử dụng vốn có hiệu quả
nhất. Vốn là một yếu tố cần thiết và quan trọng để tiến hành sản xuất kinh
doanh, đồng thời nó cũng là tiền đề để các doanh nghiệp tồn tại, phát tiển và
đứng vững trong cơ chế thị trường.
Tuy nhiên, hiện nay DNNN cũng đang đứng trước khó khăn bất lợi về vốn,
bộ máy chậm thích ứng với sự biến đổi của thị trường, lắm tầng nấc, trung
gian, nhiều sự ràng buộc lẫn nhau, phần lớn cán bộ rất thụ động.
Mặt khác, DNNN là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc gia, giữ
vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Nhà nước. Có ý nghĩa quyết định đến sự
nghiệp Công nghiệp hoá, hiện Đại hoá đất nước và trong quá trình hội nhập.
Vậy huy động vốn ở đâu- sử dụng vốn đầu tư như thế nào cho hiệu quả
không chỉ là câu hỏi cho các DNNN mà con cho hầu hết các doanh nghiệp
đang hoạt động trong nền kinh tế thị trường. Do đó, đi tìm lời giải về vốn và
nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư cho khu vực DNNN là vấn đề mang
tính thời sự và thiết thực.
Qua nghiên cứu em quyết định chọn đề tài “ Tình hình hoạt động của các
DNNN và một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu

giá của DN. Như vậy, David Begg đã bổ sung vốn tài chính vào định nghĩa
vốn của Samuelson.
2
Nhìn chung, thực chất vốn chính là biểu hiện bằng tiền, là giá trị bằng
tiền, là giá trị cuả tài sản mà doanh nghiệp đang nắm giữ. Trong nền kinh tế
thị trường, vốn được quan niệm là toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và trong các
quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp. Vốn là một đầu vào của quá
trình sản xuất kinh doanh, các tác giả đã thống nhất vốn với tài sản của DN.
Vốn và tài sản là hai mặt hiện vật và giá trị của một bộ phận nguồn gốc sản
xuất mà DN huy động vào quá trình sản xuất vµ kinh doanh.
2. Đặc trưng cơ bản của vốn:
- Vốn phaỉ Đại diện cho một lượng tài sản nhất định , có nghĩa là vốn
được biểu hiện bằng giá tị của tài sản hữu hình và vô hình của doanh
nghiệp.
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanh
nghiệp
- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định, có như
vậy mới có thể phát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
- Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định, không thể có đồng vốn
vô chủ và không ai quản lý.
- Vốn được quan niệm như một hàng hoá đặc biệt, có thể mua bán
quyến sử dụng vốn trên thị trường.
3. Phân loại vốn:
Hiện nay, có rất nhiều cách phân loại vốn theo các giác độ tiếp cận
khác nhau.
a. Theo nguồn hình thành, vốn doanh nghiệp chia làm hai loại là vốn chủ
sở hữu và vốn vay:
- Vốn chủ sở hữu là nguồn vốn của các chủ sở hữu, nguồn đóng góp
của các nhà đầu tư. Vốn này không phải là khoản nợ và doanh nghiệp
không cần phải cam kết thanh toán. Nguồn vốn này cho biết được

cố định có hình thái vật chất và không có hình thái vật chất. Vì thế,
vốn cố định quyết định quy mô của tài sản CĐ, đặc điểm vận động
của tài sản cố định lại quyết định đạec điểm tuần hoàn và chu chuyển
của vốn CĐ. Giá trị của tài sản cố định được khấu hao dần vào quá
trình sản xuất.
4
- Vốn lưu động là những tài sản ngắn hạn thường xuyên luân chuyển
trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nó chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao
động khác. Vì vậy, giá trị của nó được dịch chuyển một lần vào giá trị
sản phẩm tiêu thụ. Đặc điểm này quyết định sự vận động của vốn lưu
động hay hình thái vốn lưu động.

d. Căn cứ vào cơ cấu vốn, vốn trong SXKD của DN được chia thành vốn
sản xuất và vốn đầu tư.
- Vốn sản xuất là toàn bộ giá trị tư liệu sản xuất được DN sử dụng hợp
lý và có kế hoạch vào việc sản xuất những sản phẩm theo kế hoạch.
Vốn này được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, tuỳ từng loại hình
của DN. Vốn sản xuất bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao
động. Đây là hai yếu tố cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh trong bất kỳ đơn vị kinh tế nào. Đối tượng lao động
tạo nên thực thể sản phẩm còn tư liệu lao động là phượng tiện để
chuyển hoá đối tượng lao động thành thực thể sản phẩm . Giữa chúng
có mốI quan hệ khăng khít không thể tách rờI trong quá trình sản
xuất.
- Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh
doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các
nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình sản xuất xã hội,
nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực mới. Quá trình sử
dụng vốn đầu tư xét về mặt bản chất chính là quá trình thực hiện sự

doanh cuả DN đó. Hiệu quả SXKD được đánh giá trên hai giác độ là hiệu quả
kinh tế và hiệu quả xã hội. Trong phạm vi của DN, người ta chủ yếu quan tâm
đến hiệu quả kinh tế. Đây là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
các nguồn lực của các DN để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh
doanh với chi phí thấp nhất. Hiệu quả là một khái niệm được sử dụng khá
rộng rãi trong ngôn ngữ hiện Đại. Đặc biệt, trong khoa học kinh tế, khái niệm
này có mọt vị trí rất quan trọng. Tuy nhiên, không phải khi nµo nó cũng được
hiểu một cách rõ ràng, thống nhất.
Trong “ Kinh tế học “ của P.A. Samuenlson và W.D>Nordhaus, dướI
góc độ toàn bộ nền kinh tế “ Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất
6
các nguồn lực của nền kinh tế đÓ thoả mãn nhu cầu mong muốn của con
người”.
Trong cuốn “Đại từ điển kinh tế thị trường: Hồ Vĩnh Đaß viết:” Hiệu
quả kinh tế còn gọi là “hiệu ích kinh tế , là so sánh giữa chiếm dụng và tiêu
hao trong hoạt động kinh tế ( bao gồm lao động vật hoá và lao động sống )
với thành quả có ích đạt được. Nói một cách đơn giản, đó là sự so sánh giữa
đầu vào và đầu ra, giữa chi phí và kết quả. Nó là thước đo khách quan để
đánh giá các chính sách kinh doanh, hoạt động kinh tế. Nói chung, sản phẩm
có ích cho xã hội được sản xuất ra cùng một số lượng, chất lượng thì lượng
lao động chiếm dụng và tiêu hao ít thì hiệu quả kinh tế sẽ cao, ngược lại là
kém.
Trong hoạt động kinh tế, dướI góc độ tổng thể, để sản xuất ra của cảI
vật chất cần sử dụng các nguồn lực như vốn, lao động, đất đai…Vốn ở đây
được hiểu là máy móc, thiết bị…những sản phẩm không được sử dụng cho
tiêu dùng của các hộ gia đình, mà tiếp tục đóng vai trò đầu vào, là phượng
tiện sản xuất cho quá trình sản xuất tiếp theo.
Các nguồn lực trên là khan hiếm. Do đó, nảy sinh vấn đề cần sử dụng
như thế nào để có lợi ích cao nhất từ những nguồn lực hạn chế cho trước. Đó
là vấn đề hiệu quả. Hiệu quả kinh tế là khái niệm phản ánh mức độ sử dụng

Vốn gốc, nếu biết khai thác và sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả sẽ
làm cho nguồn vốn này sẽ tăng dần và giúp cho việc giải quyết các vấn đề
trên nêu ra. Tạo điều kiện cho DN tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị
trường , mở rộng xuất khẩu, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Mỗi DN lại là một tế bào kinh tế trong tổng thể các thành phần kinh tế.
Nếu mỗi DN làm ăn có lãi, tất nhiên là phải sử dụng vốn có hiệu quả, thì sẽ
đóng góp nên một phần nhỏ của nó cho toàn nền kinh tế phát triển.
Hiệu quả kinh doanh cao nhất khi số vốn bỏ vào kinh doanh là tối thiểu
và đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là
một hình thức tiết kiệm tối đa số vốn bỏ ra và sử dụng hợp lý số vốn đó để có
thể thu được một đơn vị lợi nhuận max.
Trước đây, trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, DNNN coi nguồn
vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước đồng nghĩa với “ cho không” , nên khi sử
dụng nhiều doanh nghiệp không cần quan tâm đến hiệu quả , kinh doanh thua
lỗ đã có Nhà nước bù đắp. Điều đó gây ra tình trạng vô chủ trong quản trị và
8
sử dụng vốn dẫn đến lãng phí vốn và hiệu quả kinh donah thấp. Theo số liệu
thống kê cho thấy việc sử dụng tài sản cố định chỉ đạt 50%-60% công suất
thiết kế, phổ biến chỉ hoạt động 1 ca trên ngày, vì vậy hệ số sinh lời của đồng
vốn thấp.
Khi nước ta chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường có sự điều tiết của
nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp buộc phải
chuyển mình theo cơ chế mới, mới có thể tồn tại và phát triển được. Cạnh
tranh gay gay gắt giữa thành phần DNNN với các thành phần kinh tế khác.
BởI vậy, không chỉ DNNN mà đã là DN thì luôn phải đặt hiệu quả sử dụng
vốn lên hàng đầu.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp phaỉ đảm bảo các
điều kiện sau:
- Phải khai thác nguồn vốn một cách triệt để nghĩa là không để vốn nhàn

Vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, tình độ sử
dụng vốn của người quản trị doanh nghiệp. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Tuy nhiên chỉ itêu này có hạn chế là nó phản ánh một cách phiển diện. Do
mẫu số chỉ đề cập đến vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ, trong khi hầu hết
các doanh nghiệp , nguồn vốn huy động từ bên ngoài chiếm một tỷ lệ không
nhỏ trong tổng nguồn vốn. Do đó, nếu chỉ nhìn vào chỉ tiêu này nhiều khi
đánh giá thiếu chính xác.
Ba chỉ tiêu trên cho ta một cái nhìn tổng quát về hiệu quả sö dụng vốn
của doanh nghiệp. Ngoài ra, người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác như tỷ
suất thanh toán ngắn han, số vòng quay các khoản phải thu.. Tuy nhiên như ta
đã biết nguồn vốn của doanh nghiệp được phân làm hai loại là vốn cố
định(VC§ ) và vốn lưu động (VLĐ). Do đó, các nhà phân tích không chỉ
quan tâm đến việc đo lường hiệu quả sử dụng vốn cuả tổng nguồn vốn mà còn
chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của
doanh nghiệp đó là VCĐ và VLĐ.
6.2. Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
10
Để đánh giá hiệu quả sử dụng VCĐ người ta sử dụng những chỉ tiêu
sau:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng VCĐ= 
Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết một đông vốn cố định tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu thuần trong một năm.
Lợi nhuận
Sức sinh lợi của vốn cố định = 
Vốn cố định sử dụng bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết trung bình một đồng VCĐ tạo ra vbao nhiêu đồng
lựI nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng chứng tỏ việc sử dụng VCĐ là có hiệu

sử dụng VLĐ tăng và ngược lại.
Thời gian của một kỳ phân tích
Thời gian của một vòng luân chuyển = 
Số vòng quay của VLĐ trong kỳ
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho VLĐ quay được một vòng,
thời gian của một vòng luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển của VLĐ
càng lớn và làm rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vốn quay vòng hiệu quả hơn.
6. 4 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tài chính của hoạt động đầu tư khác:
Là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển hoạt động SXKD dịch vụ và
nâng cao đờI sống người lao động trọng dự án đầu tư trên cơ sở số vốn đầu tư
mà dự án đã sử dụng so với các kỳ khác nhau
Các kết quả thu được do thực hiện đầu tư
Etc= 
Số vốn đầu tư đã thực hiện để tạo ra kết quả trên
Etc có hiệu quả khi Etc> Etc0
- Giá trị thời gian của tiền:
12
Chính là giá trị của đồng tiền khi muốn mua một thứ ở hiện tại so với
việc cũng mua thứ đó ở thời điểm quá khứ.
Nó cũng phụ thuộc vào
-Việc giá trị gia tăng do sử dụng việc này mà ko sử dụng vào việc khác
- Vào các yếu tố ngẫu nhiên tác động, hay lạm phátv..v
+Tỷ suất sinh lời vốn đầu tư :
Đánh giá mức độ Lợi nhuận thuần thu được từ 1 đơn vị vốn đầu tư
WiPV
RRi = ---------------------------
IV
0
Trong đó WiPV là lợi nhuận thuần thu được năm i theo mặt bằng giá trị
khi hiệu quả đầu tư phát huy tác dụng

thì
- nếu IRR<r dự án sẽ lỗ tức NPV < 0
- nếu IRR =r dự án sẽ hoà vốn tức NPV=0
- nếu IRR >r dự án sẽ lãi tức NPV>0
+ Thông qua chỉ tiêu NPV lãi quy về thời điểm hiện tại
NPV=Cfi/(1+r)
n
+ Thông qua chỉ tiêu NFV lãi quy về thời điểm trong tương lai
NFV=Cfi*(1+r)
n
Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả Kinh tế xã hội
-Phụ thuộc vào mức đóng góp vào ngân sách nhà nước
-Số chỗ làm việc tăng thêm từng năm và cả đờI dự ¸n
Số làm việc tăng thêm = Số lao động thu hút thêm - Số lao động mất việc làm
II. Khái quát tình hình hoạt động và hiệu quả sử dụng vốn trong các
DNNN ở Việt Nam hiện nay:
1. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường:
Kết thúc năm 2000, nước ta đã đạt dược những thành tựu đáng phấn
khởi. mặc dù tốc độ phát triển có chậm hơn những năm trước đây, song về cơ
bản nền kinh tế- xã hội vẫn ổn định. Đóng góp vào thành tựu chung đó có vai
trò to lớn của các DN, trong đó đặc biệt nhấn mạnh là hệ thống doanh nghiệp
nhà nước.
14
Nhìn lại trong những năm đổi mới, DNNN đã không ngừng được củng
cố phát triển nhằm phát huy vai trò chủ đạo của nó trong nền kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN. Trong cuộc khủng khoảng tài chính khu vực
từ giữa năm 1997 đến năm 1998 càng cho thấy rõ vai trò của DNNN trong
nền kinh tế quốc dân. Trong đóng góp chung đó thể hiện trên hầu hết các lĩnh
vực công nghiệp và hoạt động XNK.
Trong sản xuất công nghiệp, năm 2000, DNNN đạt giá trị sản lượng

chuyển biến có lợi cho sản xuất công nghiệp và dịch vụ, từ đó tạo đà cho sản
xuất nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá.
Những năm gần ®©y, thực hiện ®æi mới DNNN, chóng ta đã sắp xếp
theo hướng hình thành những Tcty nhà nước có quy mô lớn, đáp ứng đòi hỏi
của bước phát triển mới nền kinh tế nước ta. Thực hiện quyết định 91/Ttg và
Quyết định 90/Ttg( ban hành ngày 7/3/1994), đã có 17 Tcty 91 do Thủ tướng
Chính phủ ký quyết định thành lập, phê chuÈn về tổ chức hoạt động và chỉ
định các đơn vị thành viên, trên 70 Tcty 90- theo uỷ quyền của Thủ tướng
Chính phủ các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các
tỉnh , thành phố trực truộc Trung ương ký quyết đinj thành lập. Tính chung
các Tcty 90 và 91 thu hút khoản 2 ngàn DN( xấp xỉ 30% số lượng DNNN)
thành lập lại theo Nghị định số 388 và chiếm khoảng 70% số DN do Trung
ương quản lý.
Điều đáng chú ý là việc đồng EURO ra dờI , bắt đầu tham gia vào thị
trường tiền tệ thế giới từ ngày 1/1/1999 tạo ra đối trọng với đồng USD> Đồng
EURO đi vào lưu thông, tạo thị trường rất rộng lớn cho lưu thông hàng hoá
dịch vụ, đầu tư.. cùng với nó là quá tình sát nhập thành Cty khổng lồ, có sức
cạnh tranh mạnh, chiếm thị phần lớn của hàng hoá hoặc dịch vụ..
Những DNNN quy mô nhỏ, sửa đổi DNNN theo hướng chuyển các
DNNN hoạt động kinh donah ( kể cả DN 100% vốn Nhà nước và DN đã cổ
phần hoá) thanh Cty cổ phần hoặc Cty TNHH( một thành viên) hoạt động tho
Luật chung đôids với DN công ích 100% vốn Nhà nước, xác định chức năng
chủ sở hữu Nhà nước đối với từng loại DN.Những đổi mới trên sẽ tạo nhiều
thuận lợi hơn cho DNNN tăng sức mạnh trong hoạt động và phát triển , tăng
sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, tranh thủ cơ hội trên thế
giới để thâm nhập vào thị trường mới, giữ vững và phát tiển thị trường đã có ,
thu hút đầu tư từ các khu vực khác.
16
Trong tình hình và điều kiện mới, vai trò của DNNN đối với sự phát
triển đất nước sẽ được khẳng định ở tầm cao mới. Luôn là đơn vị đi đầu trong

hậu. Sự dàn trảI của các DNNN làm hco nguồn vốn đầu tư của nhà nước
khong thể tập trung cho các ngành trọng điểm dẫn tớI sự thiếu hụt vốn thường
xuyên, hiệu quả sử dụng vốn rất thấp.
Từ năm 1990, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách như Nghị định
338/HĐBT, Quyết định 315/HĐBT, Chỉ thị 500/Ttg..nhằm sắp xếp và tổ chức
lại các DNNN. Qua nhiều lần sắp xếp, sát nhập và giải thể, đến nay còn lại
khoảng 5280 DNNN. Các DNNN đã nâng cao hơn trình độ tích tụ và tập
trung, tăng quy mô và kinh doanh có hiệu quả hơn. Tuy nhiên hiện nay
DNNN đang đứng trước thực trạng yếu kém về nhiều mặt: sức cạnh tranh còn
quá yếu kém, quy mô quá nhỏ, thiếu vốn nghiêm trọng, lãi suất kinh doanh
bình quân thấp hơn lãi suất ngân hàng, hiệu quả sút kém. Hầu hết các DNNN
đang trong tình trạng “đói vốn” trầm trọng. Theo báo các tổng kết của Bộ
thương mạI năm 1998, trên 90% số doanh nghiệp không đủ mức vốn pháp
đinh theo quy định tại Nghị định số 50/ Chính phủ ngày 28/8/1996 của Nhà
nứoc có tớI 70% doanh nghiệp đang trong tình trạng thiếu vốn. Xét chung các
DNNN hiÖn nay có tớI 60% số DNNN không đủ vốn pháp định theo quy
định . Nghiêm trọng hơn là do thiếu vốn nên các DNNN không có khả năng
đầu tư đổi mới trang thiết bị, hiện Đại hoá công nghệ, không có khả năng
cạnh tranh.
Hiện tượng ứ đọng vật tư kém phẩm chất là rất lớn trong các DNNN
hiện nay, một số DN lại trông chờ vào nhà nước, không có biện pháp xử lý
kịp thời. Tại Hồ Chí Minh, ứ đọng hàng kém phẩm chất là 2256 tỷ chiếm
10% trong tổng vốn Nhà nước. Tổng công ty 91, lượng tồn kho 4164 tỷ, Công
ty Mía I và II tồn kho 1000 tỷ, xi măng tồn kho 500 tỷ, Hàng dệt may tồn 500
tỷ.
Tỷ lệ góp vào NSNN của DNNN là lớn tuy nhiên nếu so sánh lượng
vốn NN đã cấp cho DNNN thì kết quả đó thật không đáng tự hào. Xuất khẩu
của DNNN chiếm 55,8% tổng kim nghạch, nó thể hiện tầm quan trọng trong
hoạt động kinh tế đối ngoại. Xét hiệu quả thì không được vì sản phẩm xuất
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status