LUẬN VĂN: Thu hút vốn đầu tư để phát triển khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quang Nam - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Thu hút vốn đầu tư để phát triển khu kinh
tế mở Chu Lai, tỉnh Quang Nam


việc xây dựng thành công khu kinh tế mở đầu tiên ở nước ta khó có thể thực hiện được.
Làm thế nào để thu hút được ngày càng nhiều vốn đầu tư, nguồn vốn ấy ở đâu? bao nhiêu?
đang là nỗi trăn trở của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Quảng Nam và của ban Quản lý
KKTM Chu Lai.
Vì vậy, đề tài " Thu hút vốn đầu tư để phát triển khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh
Quang Nam " được chọn có ý nghĩa về mặt lý luận, đặc biệt là đối với việc phát triển
KKTM Chu Lai tỉnh Quảng Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế xã hội nói chung và để phát
triển các ngành, các khu công nghiệp, khu chế xuất nói riêng được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Song Khu kinh tế mở - mô hình kinh tế đầu tiên của Việt Nam được triển khai
trên địa bàn Chu Lai thuộc tỉnh Quảng Nam, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên
cứu với tư cách là một luận văn hoặc luận án. Do vậy đề tài luận văn này không trùng lặp
với bất kỳ một công trình nào khác
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Làm rõ các luận cứ khoa học về vốn đầu tư, nhu cầu, khả năng đáp ứng và các nhân tố
ảnh hưởng đến thu hút các nguồn vốn đầu tư vào khu kinh tế mở.
- Tìm hiểu một số kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư phát triển khu kinh tế mở của
Trung Quốc.
- Đánh giá, phân tích tình hình thu hút vốn đầu tư taị khu KTM Chu Lai Tỉnh
Quảng Nam.
- Đề xuất những giải pháp, cơ chế, chính sách phù hợp với điều kiện của khu KTM
Chu Lai nhằm thu hút với tốc độ cao hơn vốn đầu tư vào khu KTM Chu Lai trong thời
gian đến.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nguồn vốn trong và ngoài nước có thể thu hút
được để đầu tư phát triển khu kinh tế mở Chu Lai tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

Khu kinh tế mở (KKTM) Chu Lai là khu vực có ranh giới địa lý xác định thuộc
lãnh thổ và chủ quyền quốc gia nhưng có không gian kinh tế riêng biệt, có môi trường
đầu tư kinh doanh thuận lợi nhất theo các quy định hiện hành, bao gồm hạ tầng kỹ
thuật-hạ tầng xã hội và cơ chế chính sách quản lý thuận lợi cho hoạt động kinh doanh,
phù hợp với cơ chế thị trường nhằm khuyến khích đầu tư và khuyến khích xuất khẩu
[21, tr.2]. So với khu công nghiệp và khu chế xuất KKTM có điểm giống nhau là được
áp dụng những chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư, các thủ tục hải quan thuế khoá được
nới lỏng và giảm nhẹ, cơ chế quản lý thông thoáng,quyền tự quyết của các doanh
nghiệp được tôn trọng và phát huy ở mức độ cao. Những quy định này có khác biệt với
quy định chung và được Nhà nước cho phép áp dụng riêng.
Điểm khác nhau ở chỗ, KKTM có nội dung hoạt động kinh tế rộng, đa dạng hơn,
hay còn gọi là mô hình khu trong khu, gồm khu thương mại tự do, khu chế xuất, khu công
nghiệp, khu du lịch, khu đô thị có cả dân cư sinh sống… Một mô hình kinh tế-xã hội tổng
hợp.
+ KKTM là nơi áp dụng các thể chế, cơ chế chính sách mới, tạo môi trường đầu tư,
kinh doanh bình đẳng, phù hợp với thông lệ quốc tế cho các loại hình kinh doanh của các
tổ chức kinh tế trong và ngoài nước, qua đó có thêm kinh nghiệm cho hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực.
- áp dụng các mô hình, động lực mới cho sự phát triển kinh tế, khắc phục những
vướng mắc trong cơ chế và chính sách hiện hành trong khi chưa có điều kiện thực hiện
trong phạm vi cả nước.
- Phát triển sản xuất,tạo ra những sản phẩm có chất lượng và khả năng cạnh tranh
cao, đẩy mạnh xuất khẩu và mở rộng ra thị trường thế giới.
- Tạo việc làm, thúc đẩy việc đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Khai thác các lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý kinh tế và chính trị trong
giao thương, dịch vụ quốc tế và trong nước để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội cho toàn
bộ khu vực miền Trung thu hẹp khoảng cách phát triển giữa khu vực này với các vùng
khác trong cả nước.
+ Tổ chức hoạt động KKTM Chu Lai:

Quan hệ trao đổi hàng hoá giữa khu phi thuế quan và khu thuế quan trong KKTM
Chu Lai và nội địa được coi như trao đổi giữa nước ngoài với Việt Nam, phải tuân theo các
quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu.
Các cá nhân và tổ chức kinh tế trong khu thuế quan và nội địa chỉ được nhập và
xuất từ khu thuế quan và vào khu thuế quan những hàng hóa, dịch vụ mà pháp luật Việt
Nam không cấm
Hàng hoá nhập từ khu phi thuế quan vào khu thuế quan và nội địa hoặc hàng hoá
xuất từ nội địa và khu thuế quan vào khu phi thuế quan phải chịu thuế xuất nhập khẩu và
chịu sự giám sát của hải quan cửa khẩu.
Nguyên liệu, vật tư hàng hoá do doanh nghiệp trong khu phi thuế quan nhập từ thị
trường nước ngoài nhưng không sử dụng hết và các thứ phẩm còn lại có giá trị thương mại
được phép bán tại thị trường nội địa sau khi hoàn tất thủ tục hải quan [21, tr.7-8].
Các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu và vận chuyển hàng quá cảnh thực hiện
theo các quy định chung.
+ Cơ chế chính sách đối với khu KTM Chu Lai
Cơ chế chính sách có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư phát triển khu
kinh tế mở Chu Lai, cơ chế thông thoáng với các ưu đãi vượt trội cho phép các nhà đầu tư
tìm thấy các lợi ích kinh tế nhiều hơn so với đầu tư vào các khu kinh tế khác. Vì vậy, cơ
chế ưu đãi đầu tư vào Chu Lai được ưu đãi trên các mức độ và lĩnh vực sau:
- Về chính sách thuế:
* Tất cả các dự án đầu tư vào khu kinh tế mở Chu Lai được hưởng các ưu đãi tối đa
áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của
luật đầu tư và các ưu đãi khác theo điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập.

Trường hợp về cùng một vấn đề mà các văn bản quy phạm pháp luật quy định các mức ưu
đãi khác nhau thì áp dụng mức ưu đãi cao nhất.
* Hàng hoá, dịch vụ sản xuất, tiêu thụ trong khu phi thuế quan và hàng hoá dịch vụ
nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan không chịu thuế giá trị gia tăng.
* Hàng hoá dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được sản xuất, tiêu thụ
trong khu phi thuế quan hoặc được nhập khẩu từ nước ngoài vào khu phi thuế quan không

của Nhà nước.
Thí điểm đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án trong đó có quyền sử dụng đất
trong việc giao đất cho thuê đất trong khu KTM Chu Lai đối với các nhà đầu tư.
Ban quản lý KKTM Chu Lai là cơ quan thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, xác
định giá giao, cho thuê đất,miễn giảm tiền thuê đất, giao đất trên cơ sở khung giá và chế độ
miễn giảm đươc UBND tỉnh Quảng Nam quy định.
- Về thủ tục đầu tư.
Thủ tục đầu tư tại KKTM thực hiện theo mô hình “một cửa tại chỗ” thuận lợi cho
nhà đầu tư. Nhà đầu tư đầu tư vào Chu Lai chỉ đến một cửa duy nhất là BQLKKTM tại
đây nhà đầu tư được hướng dẫn mọi thủ tục và giải quyết trong thời gian nhanh nhất.
Đối với các thủ tục thành lập doanh nghiệp, cấp phép đầu tư, ưu đãi đầu tư thuộc thẩm
quyền của ban thì có thể giải quyết trong ngày, trường hợp không thuộc thẩm quyền thì
được hướng dẫn chu đáo và trợ giúp chi tiết như các thủ tục về đăng ký mã số thuế, cấp
quyền sử dụng đất,
Cách làm này đã giúp rút ngắn thời gian làm thủ tục cho nhà đầu tư, tránh phiền hà
nhũng nhiễu và tiêu cực trong bộ máy công quyền làm cho nhà đầu tư yên tâm khi đến với
Chu Lai.
Để làm được điều đó các bộ ngành Trung ương đã uỷ quyền và phân cấp mạnh cho
BQL thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn như sau: Bộ Kế hoạch và Đầu tư uỷ quyền cấp
giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư trong nước và cấp giấy phép đầu tư nước ngoài. Bộ Thương
mại uỷ quyền quản lý hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài, cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá formD. Bộ Xây dựng uỷ
quyền phê duyệt quy hoạch chi tiết các khu chức năng trong khu KTM Chu Lai. UBND
Tỉnh Quảng Nam uỷ quyền thực hiện một số quyền hạn và nhiệm vụ cuả mình cho

BQLKKTM Chu Lai về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, trên địa bàn kinh tế mở. Bộ Tài
chính đã ban hành thông tư hướng dẫn chế độ tài chính áp dụng cho KKTM Chu Lai.
KKTM Chu Lai được phát triển bằng các nguồn vốn sau đây:
+ Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ xây dựng cấc công trình kết cấu hạ tầng quan
trọng cấp thiết cho sự vận hành của KKTM Chu Lai.

duyệt, tổ chức phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch tổng thể, quy hoạch
chi tiết và điều lệ hoạt động. Xây dựng danh mục các dự án đầu tư và kế hoạch đầu tư xây
dựng cơ bản hàng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện.
- Cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận ưu
đãi đầu tư, chứng chỉ xuất xứ hàng hoá tại KKTM Chu Lai và các chứng chỉ khác theo uỷ
quyền cuả cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Giao hoặc cho các nhà đầu tư thuê đất, mặt nước để thực hiện dự án đầu tư.
- Xây dựng khung giá và lệ phí trình cơ quan thẩm quyền xem xét ban hành để triển
khai thực hiện tại khu kinh tế mở Chu Lai.
- Làm đầu mối giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành, triển khai
và thực hiện các dự án đầu tư tại khu KTM Chu Lai.
- Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan trong việc đảm
bảo mọi hoạt động trong KKTM phù hợp với quy chế này và điều lệ hoạt động của KKTM
Chu Lai.
- Thực hiện nhiệm vụ quản lý và sử dụng các nguồn thu ngân sách được đầu tư trở lại
trên địa bàn KKTM Chu Lai theo đúng quy định, quản lý các dự án xây dựng bằng nguồn vốn
đầu tư từ ngân sách nhà nước tại khu KTM Chu Lai.
- Tổ chức, triển khai, gíơi thiệu, đàm phán,xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước.
Vai trò khu KTM Chu Lai đối với sự phát triển của tỉnh Quảng Nam:
- Một số định hướng lớn và mục tiêu phát triển tỉnh Quảng Nam đến năm 2010 và
tầm nhìn đến năm 2015:
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ 19 xác định một số mục tiêu
và chỉ tiêu chủ yếu giai đoạn 2006-2010 như sau:

+ Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 14%/năm. Đến năm 2010, GDP bình quân
đầu người đạt 900USD.
+ Gía trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân hằng năm 28%, các ngành dịch vụ
tăng bình quân hằng năm 18%, đến năm 2010 tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ chiếm trên
82% GDP.
+ Tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm đạt 1.150 triệu USD, tăng bình quân trên

1.2. Nhu cầu vốn để xây dựng và phát triển khu kinh tế mở Chu Lai
Khác với các yếu tố tài nguyên và lao động, các lọai tài sản như máy móc, thiết bị,
nhà xưởng và các loại nguyên vật liệu, bán thành phẩm dùng cho sản xuất, mặc dù cũng là
yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất song bản thân chúng lại là kết quả đầu ra của các quá
trình sản xuất trước đó. Nói cách khác, đó là những tài sản được sản xuất ra nhằm để tiếp
tục sản xuất ra các loại hàng hoá khác được gọi là tài sản sản xuất.
Để có được tài sản sản xuất đó, cần phải tiến hành các hoạt động đầu tư. Đối với
các loại tài sản như nguyên liệu, bán thành phẩm thì hoạt động đầu tư đơn giản chỉ là
việc bỏ tiền ra để mua sắm chúng. Để tạo ra các sản phẩm như máy móc thiết bị dây
chuyền sản xuất hay cả một nhà máy thì hoạt động đầu tư là một quá trình lâu dài và
phức tạp hơn. Toàn bộ số tiền và giá trị các tài sản được đưa vào đầu tư để tạo ra các tài
sản sản xuất được gọi là vốn sản xuất.
Trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, sau nhiều năm tích luỹ, toàn bộ vốn cho nền
kinh tế là rất lớn và rất đa dạng.
Theo mục đích sử dụng, không chỉ có vốn sản xuất trực tiếp phục vụ cho việc sản
xuất ra các sản phẩm và dịch vụ hàng hoá, mà còn bao gồm khối lượng đáng kể và phong
phú các hệ thống kết cấu hạ tầng, các công trình công cộng khác phục vụ cho nhu cầu phát
triển kinh tế xã hội của đất nước.
Theo hình thức tồn tại cụ thể của vốn, không chỉ có vốn tồn tại dưới dạng vật thể
(máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, công trình kiến trúc) mà còn bao gồm các loại vốn
phi vật thể. Đó là kết quả của các hoạt động đầu tư cần thiết cho hoạt động của nền
kinh tế nhưng sản phẩm của nó không tồn tại dưới dạng vật thể mà tồn tại dưới dạng
phát minh sáng chế, các giải pháp hữu ích hay đơn thuần chỉ là những khoản đầu tư
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Ngoài ra, vốn còn tồn tại dưới dạng các tài sản tài chính (tiền, các lọai cổ phiếu trái
phiếu,các loại công nợ khác). Tiền là tài sản tài chính, cần thiết đảm bảo cho các hoạt động
kinh tế diễn ra một cách bình thường, liên tục. Còn các loại cổ phiếu, trái phiếu các loại
công nợ khác là phương thức để chuyển tiết kiêm thành đầu tư. Tuy nhiên loại vốn này chỉ
được xem xét dưới góc độ doanh nghiệp.

tiết kiệm khu vực dân cư giữ vị trí rất quan trọng trong hệ thống tài chính. Nếu tiết kiệm
ngân sách không đáp ứng nhu cầu chi đầu tư thì buộc nhà nước phải tìm đến nguồn vốn
của khu vực này để thoả mãn băng cách phát hành trái phiếu Chính phủ.
+ Các nguồn vốn ngoài nước:
So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là mang lại ngoại tệ
cho nền kinh tế. Tuy vậy, nguồn vốn này luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi
cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ sự tháo chạy đầu tư, sự gia
tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước… Như vậy, vấn đề huy động vốn nước ngoài
đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách huy động vốn của các nền kinh tế đang
chuyển đổi, đó là: Một mặt phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu
vốn cho công nghiệp hoá; mặt khác phải giám sát chặt chẽ việc sử dụng vốn nước ngoài để
ngăn chặn khủng hoảng. Để vượt qua những thách thức đó, đòi hỏi nhà nứơc phải sử dụng
tốt các công cụ tài chính trong việc ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường
đầu tư thuận lợi cho sự vận động vốn nước ngoài, điều chỉnh và lựa chọn các hình thức thu
hút vốn sao cho có lợi cho nền kinh tế.
Vốn nước ngoài có thể thu hút được dưới các hình thức sau:
- Tài trợ phát triển chính thức (ODA): Đây là nguồn vốn thuộc chương trình hợp tác
phát triển do Chính phủ các nước ngoài hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các tổ
chức liên Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ. Nguồn vốn ODA bao gồm viện trợ
không hoàn lại, các khoản cho vay ưu đãi,
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Đây là nguòn vốn do các nhà đầu tư nước
ngoài đem vốn vào một nước để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo ra những doanh nghiệp. FDI
trong những thập kỷ qua đã tăng rất nhanh, tốc độ tăng trung bình của toàn thế giới là 24%
thời kỳ 1986-1990 và 32% vào đầu thập kỷ 90. Điều này minh chứng rằng, FDI đã và đang
trở thành hình thức huy vốn đầu tư nước ngoài phổ biến ở nhiều nước đang phát triển khi

mà các luồng dịch chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu tư ở nước ngoài để
gia tăng khai thác về lợi thế so sánh [18, tr.15-16].
Mục đích của việc xây dựng các khu kinh tế tự do hay khu kinh tế mở là nhằm thu
hút các nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội tại một khu vực hay một địa bàn

tr.10]
+ Khả năng của tỉnh Quảng Nam về vốn đầu tư cho khu kinh tế mở Chu Lai.
Tỉnh Quảng Nam được tái lập từ năm 1997, đến nay vẫn còn là một trong những
tỉnh nghèo, thu nhập bình quân đầu người dưới mức bình quân chung của cả nước, GDP
bình quân đầu người năm 2005 đạt hơn 400USD, kế hoạch đến năm 2010 là 900USD đạt
mức bình quân chung cả nước [8, tr. 43]. Thu ngân sách chưa đảm bảo chi thừơng xuyên,
hàng năm phải nhờ trợ cấp ngân sách của TW và nằm trong khu vực phát triển đầy khó
khăn, cho nên nguồn lực tài chính của Quảng Nam sẽ không đảm bảo để phát triển chính
mình mà chủ yếu phải dựa vào bên ngoài bao gồm các nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách TW,
các nguồn có tính chất ngân sách, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Các loại vốn đầu tư cần thu hút để xây dựng khu kinh tế mở bao gồm:
+ Vốn bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng và xây dựng các khu tái định cư.
Bồi thường thiệt hại, giải phóng mặt bằng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ý
nghĩa quyết định trong việc tạo ra mặt bằng phục vụ cho nhu cầu đầu tư xây dựng các công
trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội, cũng như các dự án đầu tư phát triển kinh tế của các nhà
đầu tư trong khu kinh tế mở.
Vốn này có đặc điểm là phải dùng tiền mặt với số lượng lớn, thanh toán một lần và
không được chiếm dụng dây dưa, không sinh lợi trực tiếp, khó huy động.
Nguồn vốn này được đầu tư cho các công việc cụ thể như: chi tiền bồi thường thiệt
hại về đất đai, nhà cửa, công trình kiến trúc của nhân dân, tổ chức khi có công trình, đất
đai bị thu hồi trong các khu kinh tế. Đồng thời, nguồn vốn này còn dùng để xây dựng các
khu tái định cư, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho nhân dân trong vùng bị giải toả, xây
dựng các công trình hạ tầng đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong khu dân cư
mới.
Với tổng diện tích quy hoạch xây dựng khu kinh tế mở Chu Lai trên 30.000ha trong
đó hơn 50% đất đai phải bồi thường thiệt hại cho nhân dân, hàng chục ngàn hộ dân phải di
dời giải toả trắng đến nơi ở mới, đòi hỏi phải có việc làm ổn định và ổn định đời sống,

hàng loạt các khu dân cư mới mang tính chất đô thị ra đời, các khu dân cư nông thôn, các
làng chài mới phải được hình thành để thay thế cho các làng cũ bị giải toả, các công trình

biến khu vực Chu Lai thành nơi phát triển sôi động, tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm hàng
hoá có giá trị xuất khẩu cao. Suy cho cùng việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng hoàn thiện
và đồng bộ, việc xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi đặc thù, việc thiết lập một bộ máy
hành chính năng động, hoạt động có hiệu quả, việc tạo ra một môi trường đầu tư, hấp dẫn
đều nhằm mục tiêu thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội.
Vốn đầu tư thu hút ngày càng nhiều, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng
cao điều đó càng đánh giá sự thành công của các khu kinh tế.
Với mục tiêu phát triển khu kinh tế theo mô hình khu trong khu, với nhiều khu chức
năng như: khu công nghiệp, khu đô thị, khu du lịch, khu thương mại tự do, các trung tâm
đào tạo,các khu vui chơi giải trí đặc biệt. Vì vậy, nhu cầu thu hút vốn đầu tư trong khu
kinh tế là rất lớn cho giai đoạn trước mắt và lâu dài. Vốn đầu tư trong lĩnh vực này là vốn
đầu tư sinh lợi trực tiếp, thường được đầu tư từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước, họ có
thể là các cá nhân hay tổ chức hay pháp nhân khác hình thành theo quy định của pháp luật
hiện hành.
Ngoài ra, trong khu kinh tế mở còn có nhu cầu vốn để xây dựng các khu đô thị theo
quy hoạch,vừa đáp ứng nhu cầu phát triển đô thị, vừa đáp ứng nhu cầu phát triển các khu
dân cư nguồn vốn này được huy động chủ yếu thông qua các chủ đầu tư kinh doanh đô thị,
hoặc là huy động từ các loại trái phiếu như trái phiếu công trình đô thị.
Tóm lại, nhu cầu vốn đầu tư xây dựng và phát triển khu kinh tế mở Chu Lai tỉnh
Quảng Nam là rất lớn nó bao gồm nhiều chủng loại khác nhau,ứng với mỗi loại vốn khác
nhau thì có các nguồn thu hút đầu tư cũng khác nhau phù hợp với tính chất và đặc điểm
của vốn. Vì vậy, tìm kiếm khả năng thu hút vốn đầu tư và thực hiện các nhiệm vụ và giải
pháp nhằm thu hút vốn đầu tư xây dựng khu kinh tế mở Chu Lai là nhiệm vụ có ý nghĩa
cấp bách chiến lược cần phải được khẩn trương triển khai thực hiện
1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn đầu tư vào khu kinh tế mở Chu
Lai
Thu hút vốn đầu tư nói chung, thu hút vốn đầu tư vào KKTM Chu Lai nói riêng chịu
tác động bởi nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, cụ thể như sau:
1.3.1. Môi trường chính trị xã hội


Cùng với phương thức vận hành của chúng,môi trường pháp lý hòan thiện phù hợp
với thông lệ quốc tế, một mặt tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm trong
hoạt động, mặt khác đó cũng chính là căn cứ và công cụ hữu hiệu để nhà nước kiểm soát
các hoạt động đầu tư nước ngoài.
Chính từ các vấn đề có tính nguyên tắc nêu trên yêu cầu đỏi hỏi phải phát triển hệ
thông thông tin, dịch vụ tư vấn pháp lý nhanh chóng và chuẩn xác, trung thực giúp cho
hoạt động đầu tư và quản lý đầu tư nước ngoài vừa đúng hướng vừa chặt chẽ đồng thời tạo
thuận lợi cho các nhà đầu tư.
Cùng với cơ chế chính sách ưu đãi, thông thoáng cần phải có thủ tục hành chính
đơn giản, dễ thực hiện, ít khâu trung gian và thời gian thực hiện ngắn. Để có được một thủ
tục như vậy, ngoài việc có một hệ thống văn bản pháp luật khoa học quy định rõ ràng rành
mạch trách nhiệm của các chủ thể, cần xây dựng một quy trình làm việc khoa học với một
đội ngũ cán bộ công chức viên chức có trình độ chuyên môn cao, một tinh thần trách
nhiệm tận tuỵ và có chế độ khen thưởng và kỷ luật nghiêm minh.Thủ tục hành chính gọn
nhẹ cho phép giải quyết mọi công việc nhanh chóng vừa tiết kiệm thời gian vừa tránh được
lãng phí và tạo được niềm tin cho nhà đầu tư, điều đó cũng nói lên trình độ tổ chức và
quản lý quốc gia hoặc địa bàn của các cấp chính quyền từ TW đến địa phương.
ở các nước phát triển môi trường pháp luật hoàn thiện,nền hành chính được cải cách
và đội ngũ công chức được chuyên nghiệp hoá cao nên thủ tục hành chính tương thích với
trình độ phát triển của nền kinh tế. Trong khi đó ở các nước đang phát triển, pháp luật chưa
đồng bộ, chất lượng chưa cao, nhiều lĩnh vực chưa có quy định, thậm chí còn có sự chồng
chéo nhau. Đội ngũ cán bộ công chức chưa được đào tạo bài bản. Đặc biệt tinh thần trách
nhiệm và tệ nạn tham nhũng đang còn phổ biến và nghiêm trọng đang là một thách thức
trong tiến trình phát triển của đất nước nói chung và thu hút vốn đầu tư nước ngoài nói
riêng. Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính thực hiện mô hình “một cửa tại chỗ" nhằm rút
ngắn thời gian giải quyết công việc, là một trong những tiêu chí đánh giá môi trường đầu
tư của các quốc gia và từng địa phương.
Có thể nói rằng cơ chế chính sách và thủ tục nói riêng, môi trường pháp lý nói
chung là điều kiện có tính chất cốt lõi để thu hút các nhà đầu tư.



1.3.4. Nguồn nhân lực
Lịch sử loài người đã chứng minh vai trò quyết định của lao động với sự phát triển
kinh tế xã hội. Ngày nay khoa học công nghệ phát triển cao, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế
xã hội, nhưng cũng không thể thay thế được vai trò của con người. Hơn nữa, nguồn lực lao
động còn là nhân tố sáng tạo ra công nghệ, thiết bị và sử dụng chúng trong quá trình phát
triển kinh tế. Quá trình đó, có thể nhấn mạnh vai trò của nguồn lực lao động ở những khía
cạnh sau:
+ Lao động là nhân tố quyết định cho việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực khác. Khi phân tích các bộ phận cấu thành nguồn lực phát triển kinh tế, hầu hết
các quốc gia đều khẳng định các nguồn lực chủ yếu là lao động, tài nguyên thiên nhiên,vốn
và khoa học công nghệ. Nhưng cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định rằng, nguồn lao
động là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử dụng, phát triển các nguồn lực còn lại. Không
dựa trên nền tảng phát triển cao của nguồn lao động về thể chất, trình độ văn hoá, kỹ thuật,
kinh nghiệm quản lý, lòng nhiệt tình thì không thể sử dụng hợp lý các nguồn lực trên.
Thậm chí thiếu nguồn lực lao dộng chất lượng cao có thể làm lãng phí, cạn kiệt và huỷ
hoại các nguồn lực khác.
+ Lao động là một bộ phận của các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Chi phí
lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực trong hàng hoá dịch vụ. Như
vậy, chi phí nguồn lực lao động trở thành mhân tố cấu thành mức tăng trưởng của nền kinh
tế.
Hơn nữa, là một bộ phận dân số, nguồn lao động tham gia tiêu dùng các sản phẩm
và dịch vụ xã hội. Như vậy, với tư cách là một bộ phận dân số thực hiện quá trình tiêu
dùng, nguồn lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế.
Nguồn lao động không chỉ có ý nghĩa đối với sự phát triển nền kinh tế của một quốc
gia, mà còn là điều kiện bắt buộc trong quá trình phát triển các khu kinh tế. Để xây dựng
và phát triển khu kinh tế, nguồn lao động tại chỗ đáp ứng đủ về số lượng, đảm bảo yêu cầu
về chất lượng là vô cùng quan trọng là tiêu chí hàng đầu sau khi nhà đầu tư quyết định đầu
tư vào đó. Bởi lẽ, ngoài việc phải đáp ứng nguồn nhân lực một cách thông thường để vận
hành hoạt động của các nhà máy công ty trong khu kinh tế, vấn đề đặt ra hiện nay là phải

nhiều các khu kinh tế với các chức năng kinh doanh tổng hợp như các mô hình các đặc khu

kinh tế, các khu kinh tế mở, các khu kinh tế tự do thì yếu tố sân bay đã trở thành tiêu chí
không thể thiếu trong sự phát triển của các khu kinh tế.
- Đồng thời hệ thống đường bộ nối liền giữa các vùng trong một quốc gia hoặc nối
liền giữa các quốc gia cũng là nhân tố cần thiết cho sự phát triển. Hệ thống đường bộ bao
gồm đường sắt và đường bộ nội vùng và liên vùng.
- Một điều kiện không kém phần quan trọng nơi xây dựng khu kinh tế phải gần với
các trung tâm đô thị phát triển hoặc đầu mối thương mại để vừa là cơ sở hậu cần cho sự
phát triển về các mặt: tiêu thụ hàng hoá, cung cấp nguyên, nhiên vật liệu, nguồn lao động
và các hạ tầng kinh tế - xã hội khác. Tất nhiên ở những vị trí địa kinh tế thuận lợi như vậy
thì bao giờ đi liền với nó cũng có những khu vực kinh tế phát triển kèm theo.
Thực tế xây dựng các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc cho thấy việc chọn địa điểm
cho các đặc khu có tính chất quan trọng đầu tiên. Đặc khu kinh tế Thẩm Quyến có ưu thế
đặc biệt về cảng biển và sân bay quốc tế, hệ thống giao thông, đặc biệt Thẩm Quyến chỉ
cách Kowloon thuộc trung tâm kinh tế tầm cỡ thế giới của Hồng Kông có 32km, cách
Quảng Châu - thủ phủ tỉnh phát triển hàng đầu Trung Quốc là Quảng Đông chỉ có 145km,
các đặc khu kinh tế khác như Sán Đầu, Hạ Môn, Chu Hải, Hải Nam cũng có các đặc điểm
tương tự.
Tóm lại, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên thiên nhiên
phong phú, là yếu tố tác động đến việc sinh lợi nhuận lớn nên thường được quan tâm khảo
sát, chọn lựa kỹ càng trước khi quyết định đầu tư. Vị trí đầu tư lý tưởng là vị trí đáp ứng
được nhiều nhất các yếu tố nêu trên hoặc ít nhất cũng là các yếu tố cơ bản về: giao thông,
thị trường và mặt bằng bố trí sản xuất.
1.3.6. Chiến lược xúc tiến đầu tư
Xúc tiến đầu tư là hoạt động quảng bá hình ảnh một quốc gia, một địa phương hay
một khu kinh tế, để mọi đối tác quan tâm đến vấn đề đầu tư có điều kiện tìm hiểu kỹ về cơ
chế chính sách ưu đãi đầu tư, về nhu cầu đầu tư, về điều kiện kết cấu hạ tầng, về nguồn
nhân lực về thị trường tiêu thụ và các vấn đề có liên quan khác. Đó là những nội dung mà
các nhà đầu tư nghiên cứu làm cơ sở cho viêc quyết định đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status