VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG DIỆU THÚY
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI LÀM, TÀNG TRỮ,
VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH TIỀN GIẢ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
MÃ SỐ :
62380105
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM VĂN TỈNH
Hà Nội - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu tham khảo và công
trình nghiên cứu của các tác giả khác về những vấn đề có liên quan đều được chỉ
dẫn nguồn cụ thể. Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong luận án là trung
thực và không có sự sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã công bố.
TÁC GIẢ
HOÀNG DIỆU THÚY
2.1 Phần hiện của tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
tiền giả ở nước ta hiện nay
25
2.2 Phần ẩn của tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả
51
Kết luận Chương 2
57
Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành tiền giả
60
3.1 Cơ sở lý luận của nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
phạm về tiền giả
60
3.2 Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm về tiền giả
63
Kết luận Chương 3
145
TÀI LIỆU THAM KHẢO
146
PHẦN PHỤ LỤC
156
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
STT
Viết đầy đủ
Viết tắt
1.
An ninh Quốc gia
ANQG
2.
Bị cáo
BC
8.
Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐCSVN
9.
Giáo sư. Tiến sỹ
GS.TS
10.
Hình sự sơ thẩm
HSST
11.
Kho bạc Nhà nước
KBNN
12.
Ngân hàng Nhà nước
NHNN
18.
Tòa án nhân dân Tối cao
TANDTC
19.
Trách nhiệm hình sự
TNHS
20.
Viện kiểm sát nhân dân
VKSND
21.
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục
số
2.1
2.7
2.8
2.9
2.10
2.11
2.12
2.13
2.14
2.15
2.16
2.17
hành chính lãnh thổ - Cơ số ngược
Cơ cấu theo mức độ của THTP về tiền giả từ năm 2005 2014 tính toán trên cơ sở diện tích của các địa danh
157
157
158
160
Cơ cấu của THTP về tiền giả xét theo cấp độ nguy hiểm từ
năm 2005-2014
162
Cơ cấu của THTP về tiền giả xét theo thủ đoạn thực hiện
tội phạm
Cơ cấu của THTP về tiền giả xét theo hình phạt
2.18
Số liệu vụ, bị cáo bị xét xử HSST tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả từ năm 2000 - 2014
170
171
2.19
Kết quả trưng cầu ý kiến về nguồn gốc tiền giả
2.20
2.21
2.22
Kết quả trưng cầu ý kiến về địa bàn lưu hành tiền giả
Kết quả trưng cầu ý kiến về thủ đoạn lưu hành tiền giả
Kết quả trưng cầu ý kiến về trình độ văn hóa của chủ thể
171
171
phạm tội về tiền giả
172
2.23
173
174
175
176
177
178
179
180
Phiếu trưng cầu ý kiến
Kết quả trưng cầu ý kiến về giải pháp phòng ngừa tội
phạm về tiền giả
181
Các vụ án xét xử Hình sự phúc thẩm của Tòa Phúc thẩm
tại Hà Nội (thuộc TANDTC)
182
Các vụ án xét xử Hình sự Sơ thẩm của TAND các tỉnh
thành trong cả nước
184
5.2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
ban hành nhiều văn bản pháp lý phục vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm về tiền giả,
trong đó đấu tranh chống tội phạm về tiền giả bằng pháp luật hình sự được đặc biệt
quan tâm. Minh chứng là Điều luật về tội phạm này, ban đầu (1985) được xếp vào
nhóm Các tội xâm phạm ANQG. Đến BLHS 1999 và BLHS 1999 sửa đổi, bổ sung
năm 2009 (gọi tắt là BLHS 2009), tội phạm về tiền giả được bố trí hợp lý vào nhóm
Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. Sự thay đổi này cho thấy cơ quan lập pháp
Việt Nam quan tâm điều chỉnh pháp luật đối với tội phạm về tiền giả cho phù hợp với
thực tế khách quan và xu thế chung của các nước trên thế giới. Tuy nhiên, đến nay,
quá trình áp dụng pháp luật tiếp tục bộc lộ những bất cập, thậm chí kể cả đối với một
số điều luật điều chỉnh tội phạm này trong các bộ luật mới được ban hành trong năm
2015 (hiệu lực từ tháng 7/2016) cũng cần có sự điều chỉnh cho phù hợp hơn với tình
hình thực tiễn.
Về phương diện thực tiễn, tội phạm về tiền giả ở nước ta vẫn xẩy ra hàng năm,
tuy không nhiều, song cũng ở mức ba con số. Để tăng cường bảo vệ tiền Việt Nam,
Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 130/2003/QĐ-TTg ngày 30/6/2003 về “Bảo vệ
tiền Việt Nam”, giao BCA chịu trách nhiệm chính, toàn diện trong công tác đấu tranh
với nạn tiền giả, bảo vệ tiền Việt Nam. Tiếp đó, tại Quyết định số 03/QĐ-TTg ngày
02/01/2009, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Nâng cao hiệu quả công tác đấu
tranh phòng, chống tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, séc giả,
ngân phiếu giả, công trái giả và các giấy tờ có giá khác”(gọi tắt là Đề án 03 của
Chính phủ). Tuy nhiên, hằng năm, hệ thống ngân hàng và kho bạc trên cả nước vẫn
thu hồi hàng chục ngàn tờ tiền giả. Tiền polymer mệnh giá từ 10.000đ đến 500.000đ
đã thay thế tiền cotton từ năm 2003 – 2006, nhưng đến nay, mỗi năm vẫn thu được
nhiều tờ tiền cotton giả. Điều này phản ánh rằng, phần ẩn của tình hình tội phạm về
tiền giả là đáng kể và đấu tranh với tội phạm nói chung và với tội phạm về tiền giả nói
riêng, không thể chỉ bằng phương thức chống, tức là đấu tranh bằng pháp luật hình sự,
mà còn phải chú ý tới một phương thức khác. Đó là phòng ngừa tội phạm trên cơ sở
chỉ dẫn của tội phạm học, mở ra nhiều khả năng ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm.
Về phương diện khoa học, có nhiều công trình ở các cấp độ sách chuyên khảo,
luận án, luận văn, khoa luận... nghiên cứu dưới các góc độ kỹ thuật hình sự, điều tra tội
chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt Nam hiện nay;
3
- Dự báo về tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả và đề xuất
hoàn thiện hệ thống giải pháp phòng ngừa có hiệu quả với tội phạm này ở Việt Nam
trong thời gian tới.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Là quy luật của sự phạm tội làm, tàng trữ, lưu hành tiền giả.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Về lĩnh vực nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong phạm vi tội phạm học, thuộc
chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm.
* Về Điều luật: Đề tài đề cập đến Điều 180 BLHS 2009 nhưng chỉ với đối
tượng tác động là tiền giả tiền NHNN Việt Nam.
* Về tài liệu nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dựa trên dữ liệu gồm số liệu
thống kê xét xử HSST các vụ án làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả theo mẫu
1A của TANDTC từ năm 2005 – 2014, 250 bản án xét xử HSST và hình sự phúc thẩm
của TAND các cấp và 300 bản Kết luận điều tra của Công an các quận, huyện, tỉnh,
thành phố trong cả nước.
* Về thời gian: Luận án nghiên cứu THTP về tiền giả trong 10 năm (từ 2005 –
2014).
* Về địa bàn nghiên cứu: toàn lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận và hướng tiếp cận nghiên cứu
- Phương pháp luận nghiên cứu:
Luận án vận dụng phương pháp luận của khoa học tội phạm học mác - xít và thu
hút tri thức của các ngành khoa học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Điều tra hình
sự cũng như các lĩnh vực khoa học về tâm lý học, nhân quyền học, xã hội học… để
tượng trong đời sống xã hội bằng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: thống kê số lượng các vụ làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả và số lượng bị cáo tính theo các năm từ 2005 – 2014 của
từng địa phương trong cả nước. Thông qua đó để đánh giá các đặc điểm định tính và
5
định lượng của tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt Nam
hiện nay.
- Phương pháp phân tích được sử dụng khi rút ra đánh giá, bình luận từ việc
tính toán các cơ cấu cơ bản và cơ cấu chuyên biệt của tình hình tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt Nam từ năm 2005 – 2014; đánh giá lý do ẩn của tội
phạm về tiền giả; phân tích nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội làm, tàng trữ,
vận chuyển, lưu hành tiền giả...
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng rút ra nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả cũng như các kết luận tổng quan,
đề xuất, kiến nghị.
- Phương pháp điều tra xã hội học thực hiện qua phiếu trưng cầu ý kiến
chuyên gia. Sở dĩ chọn mẫu đặc biệt là các chuyên gia vì tiền giả và các vấn đề liên
quan chưa thực sự được biết đến rộng rãi, các nội dung trưng cầu đòi hỏi người trả
lời phải có trình độ và kiến thức chuyên môn nhất định. Nguồn dữ liệu sơ cấp là
156 phiếu trưng cầu ý kiến gồm 10 câu hỏi đối với lãnh đạo chỉ huy, điều tra viên,
trinh sát viên, cán bộ ngân hàng của các đơn vị có chức năng trực tiếp đấu tranh
phòng, chống tiền giả (gọi tắt là phiếu trưng cầu ý kiến chuyên gia). Ngoài ra, đối
với các vấn đề phức tạp như: xác định thời gian ẩn, lý do ẩn, độ ẩn, dự báo THTP
về tiền giả… quá trình xử lý số liệu, chúng tôi tiếp tục chọn lựa các phiếu trả lời
của lãnh đạo, chỉ huy án tiền giả (gọi tắt là phiếu trưng cầu ý kiến lãnh đạo) để
tổng hợp đưa ra các kết luận có tính khoa học và thuyết phục nhất.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để so sánh THTP về tiền giả ở các giai
pháp tác động vào “Nhân” nhằm loại trừ tội phạm và các giải pháp tác động vào “Quả”
nhằm ngăn chặn tội phạm để hoàn thiện hệ thống giải pháp phòng ngừa THTP về tiền
giả trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận: Luận án sẽ là công trình chuyên khảo nghiên cứu về phòng ngừa tội
phạm về tiền giả, có giá trị về lý luận và thực tiễn cho các nhà nghiên cứu, sinh viên,
cán bộ thuộc các cơ quan bảo vệ pháp luật tham khảo khi nghiên cứu về tội làm, tàng
trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả nói riêng và phòng ngừa tội phạm cụ thể nói chung.
7
Ngoài ra, với cách tiếp cận nguyên nhân và điều kiện của THTP thông qua
nghiên cứu cơ chế hành vi phạm tội luận án sẽ góp phần làm phong phú tri thức Tội
phạm học ở Việt Nam.
Về thực tiễn: Luận án có thể là kênh tham khảo có giá trị để Quốc hội, các Bộ,
Ban ngành xem xét, sửa đổi, bổ sung các quy định về tội làm, tàng trữ, vận chuyển,
lưu hành tiền giả và xây dựng hệ thống giải pháp phòng ngừa nhóm tội này trong thời
gian tới.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
phần nội dung được cấu trúc thành 4 Chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả.
Chương 2: Tình hình tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả ở Việt
Nam hiện nay.
Chương 3: Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả.
Chương 4: Dự báo tình hình tội phạm về tiền giả và hoàn thiện hệ thống các
giải pháp phòng ngừa tội phạm về tiền giả ở Việt Nam
nhân và điều kiện phạm tội; Nhà nước phải chú trọng quản lý các quan hệ xã hội mới
và có nhiều hình thức để tăng cường giám sát của xã hội.
9
- “Tính nhân quả trong tội phạm học” (1968) của Kudrjavcev V.N Prichinnost v kriminologii. Tính nhân quả trong tội phạm học thể hiện ở chỗ: “Thứ
nhất: Luôn luôn có nhiều kết quả xảy ra; Thứ hai: Cùng do một nguyên nhân nhưng
trong những điều kiện cụ thể thì có những hậu quả khác nhau” [81, tr 181]. Tác giả
giải thích nguyên nhân của tình trạng phạm tội do môi trường xã hội và đặc điểm, tính
chất của nhân thân người phạm tội đóng vai trò quyết định. Theo tác giả, môi trường
sống chia thành các mô hình: môi trường gia đình, môi trường nhà trường, môi trường
lao động sản xuất và môi trường sinh hoạt. Những khiếm khuyết trong các môi trường
trên không phải nguyên nhân trực tiếp của tội phạm nhưng “những nguyên nhân ấy tác
động đến sự phát sinh tội phạm thông qua nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố thuộc
về tâm lý – xã hội” [81, tr 180]. Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, xóa bỏ các
nguyên nhân của THTP là nhiệm vụ cơ bản nhưng phải đi đôi với thủ tiêu các điều
kiện thúc đẩy tội phạm phát triển. Về chiến lược phòng ngừa tội phạm cần giải quyết
các vấn đề xã hội và kinh tế. Song về trước mắt, cần loại trừ ngay lập tức các nhược
điểm, thiếu sót trong bốn môi trường nói trên; tạo mọi điều kiện phát huy yếu tố tích
cực của môi trường sống và áp dụng các biện pháp pháp lý để tác động đến tội phạm.
- “Nguyên nhân của việc vi phạm pháp luật” (1976) của Prichiny
Pravonarushenii. Nguyên nhân được nghiên cứu dựa trên quan điểm duy vật mác-xít.
Quan hệ nhân quả là mối quan hệ khách quan giữa hai hiện tượng. Hiện tượng thứ nhất
là nguyên nhân, trong những điều kiện nhất định sẽ làm phát sinh ra hiện tượng thứ hai
là kết quả. Để tìm ra nguyên nhân cần phải làm rõ mối quan hệ giữa điều kiện và
nguyên nhân, điều kiện và hậu quả, mối quan hệ giữa hậu quả và nguyên nhân [81, tr
192].
Công trình chia quá trình hình thành một hành vi vi phạm pháp luật làm ba giai
đoạn: Giai đoạn hình thành tư tưởng, ý định, khuynh hướng chống đối xã hội; giai
cưỡng bách... đã làm cho cuộc sống của giai cấp vô sản vô cùng điêu đứng. Sự bức
xúc và quẫn bách làm cho công nhân Anh dính vào tệ nghiện rượu, sự bê tha, tội lỗi,
càn quấy trật tự xã hội hiện tại...
Biểu hiện rõ rệt nhất, cực đoan nhất của sự coi thường trật tự xã hội là việc
phạm tội. Nếu những nguyên nhân làm bại hoại đạo đức của công nhân, tác
động mạnh hơn, tập trung hơn lúc thường thì người công nhân ắt sẽ phạm tội ác
cũng như nước đun đến 80o C chắc chắn sẽ chuyển từ thể lỏng sang thể khí. Do
11
cách đối xử thô bạo làm ngu muội con người của giai cấp tư sản, người công
nhân cũng trở thành một vật không có ý chí của mình như là nước và tất yếu
cũng phải chịu sự chi phối của những quy luật tự nhiên y như vậy tới một lúc
nào đó anh ta sẽ mất mọi tự do hành động. Vì vậy, số tội phạm ở Anh tăng lên
đồng thời với số người vô sản và dân tộc Anh trở thành dân tộc có nhiều tội
phạm nhất thế giới [16, tr 491].
Ph. Ang-ghen cũng khẳng định rằng, việc xóa bỏ tình trạng phạm tội chỉ có thể
thực hiện được sau khi đã thủ tiêu chế độ bóc lột.
- “Cơ sở lý luận của phòng ngừa tội phạm”, 1977 của Zvitbul’V.K., Klochkov
V.V., Min’ Kovskij G.M. Tác giả vận dụng các luận điểm có tính chất nguyên tắc
trong phòng ngừa tội phạm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin. Tinh thần phòng ngừa được
thể hiện rất sâu sắc trong “Những cuộc tranh luận về luật cấm trộm củi rừng” của C.
Mác. “Nhà lập pháp khôn ngoan ngăn ngừa sự phạm tội để khỏi phải trừng phạt nó.
Nhưng nhà lập pháp sẽ làm việc này không phải bằng cách hạn chế phạm vi của quyền
mà bằng cách trong mỗi nguyện vọng của quyền, thủ tiêu mặt tiêu cực của nó sau khi
đã đem lại cho quyền một phạm vi hoạt động tích cực” [17, tr 190]. Sau đó, V.I. Lê nin
đã phát triển vấn đề phòng ngừa tội phạm một cách toàn diện và chỉ ra rằng, để phòng
ngừa được tội phạm phải xác định được các nguyên nhân và biện pháp để giải quyết
các nguyên nhân đó. Trong hệ thống biện pháp phòng ngừa tội phạm, thống kê và
Anh từng sản xuất tiền giả để phá hoại cách mạng Pháp, Đức Quốc Xã ép các chuyên
gia làm tiền đang bị giam giữ làm giả đồng Bảng Anh... Bởi vậy, đấu tranh phòng,
chống tội phạm về tiền giả không chỉ là mục tiêu ưu tiên của các cơ quan chức năng
của mỗi quốc gia mà còn giành được sự quan tâm đặc biệt của các học giả. Sau đây,
chúng tôi xin trình bày một số công trình nghiên cứu có tính chất đại diện về tiền giả
của các học giả trên thế giới như sau:
- A Model of Money Counterfeits (Một mô hình Giả tiền) của tác giả Yvan
Lengwiler đăng trên Tạp chí Kinh tế Zeitschrift fur National6konomie số 2 Vol. 65
(1997), xuất bản bởi Springer – Verlag.
Bài viết phân tích vấn đề tiền giả trên cơ sở giả định một trò chơi lý thuyết,
trong đó có sự tương tác giữa NHTW và đối tượng làm tiền giả dựa trên lý thuyết về
chi phí và lợi nhuận.
13
Về phía NHTW, họ phải lựa chọn một phương án tối ưu nhất trong việc thiết kế
các đồng tiền. Theo đó, việc sản xuất và đưa tiền ra lưu thông sẽ mất một khoản chi
phí nhất định, chi phí này càng cao nếu tiền được thiết kế an toàn với nhiều chi tiết khó
làm giả và in ấn với công nghệ cao. Nếu chi phí sản xuất cao, tiền sẽ khó bị làm giả và
ngược lại, những loại tiền được sản xuất với chi phí thấp hơn sẽ dễ bị làm giả. Với
nguyên tắc giảm thiểu tổng chi phí sản xuất tiền và giảm thiểu số lượng tiền giả, đồng
nghĩa với việc giảm thiểu chi phí, mất mát mà xã hội phải gánh chịu (người tiêu dùng
tiền giả bị tịch thu), phía NHTW phải đối mặt với một “thoả hiệp” nội tại. Tùy thuộc
vào giá trị tham số (đặc biệt là mệnh giá của tiền), NHTW hoặc chọn phương án an
toàn là không có tiền giả hoặc phương án không an toàn là có nhiều tiền giả trong hệ
thống. Trên thực tế, tuỳ từng thời kỳ và từng loại tiền, mệnh giá tiền mà các quốc gia
sẽ lựa chọn sản xuất tiền hợp pháp của họ với mức độ bảo mật khác nhau. Ví dụ: đồng
đô la Mỹ thay đổi rất ít trong vài thập kỷ qua và được coi là dễ dàng giả mạo, đồng
tiền của Thụy Sĩ gần đây đã được NHTW nước này đặt một loạt các yếu tố được coi là
within
the
European
Union:
Implications for Policy Cooperation (Chống Euro giả trong Liên minh châu Âu:
Những ảnh hưởng về hợp tác chính sách) của tham luận của GS.TS. Peter Loedel và
GS.TS. John D. Occhipinti tại hội thảo “Biennial Conference Baltimore” lần thứ 13
(ngày 9 – 11/5/2013).
Bài viết phân tích “cuộc chiến” của Liên minh Châu Âu (EU) đối với đồng euro
giả, nhấn mạnh đến góc độ hợp tác nghiên cứu và thực thi các chính sách chống tiền
giả trong khuôn khổ EU.
Phần thứ nhất các tác giả đánh giá về thực trạng của đồng Euro giả. Đồng
Euro được giới thiệu vào ngày 1/1/2002 trong bối cảnh nhiều lo ngại về vấn đề làm
giả khi phát hành rộng rãi. Thời kỳ đầu, sự lo ngại này giảm đáng kể do đồng Euro
được phát hành có chất lượng tốt và khó làm giả hơn so với dự kiến. Tuy nhiên, từ
năm 2004 số lượng đồng Euro giả được phát hiện đã tăng lên. Mặc dù có giảm vào
cuối năm 2005 nhưng tổng số thiệt hại do đồng Euro giả ở Châu Âu gây ra ước tính
lên đến 500 triệu Euro.
Phần thứ hai, bài viết xem xét các thể chế, quy định pháp luật và cơ chế bảo vệ
đồng Euro. Theo đó, NHTW Châu Âu (ECB) có sự phối hợp tích cực của Trung tâm
Phân tích tiền giả của mỗi quốc gia thành viên trong đấu tranh với tội phạm về tiền giả
của Europol. Ngoài ra, mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan chính sách cũng như sự
hợp tác và chia sẻ thông tin giữa NHTW, Europol, Eurojust, Văn phòng chống gian
lận của Ủy ban Châu Âu (Olaf) và các quốc gia thành viên đóng vai trò quan trọng
trong cuộc chiến chống Euro giả.
dưới góc độ kỹ thuật, công cụ và các công nghệ làm tiền giả, một số mô hình giả định
trong phòng, chống tiền giả... mà ít có các công trình nghiên cứu tội phạm về tiền giả
dưới nhãn quan tội phạm học được công bố công khai.
16
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1. Các công trình tạo nền móng cho lý luận Tội phạm học ở Việt Nam:
Các công trình tạo nền móng cho lý luận Tội phạm học không chỉ chứa đựng lý
luận Tội phạm học về các vấn đề cơ bản mà Đề tài luận án phải giải quyết mà còn có
những chỉ dẫn xác định phương pháp luận nghiên cứu đề tài, từ tổng quan đến chi tiết,
cụ thể: “Tội phạm học, Luật Hình sự, Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam”, Nxb Chính trị
quốc gia, năm 1994; “Tội phạm học Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
Viện Nhà nước và Pháp luật, Nxb CAND, năm 2000; “Tội phạm học hiện đại và
phòng ngừa tội phạm”, GS.TS. Nguyễn Xuân Yêm, Nxb CAND, năm 2001; “Một số
vấn đề lý luận về tình hình tội phạm ở Việt Nam”, TS. Phạm Văn Tỉnh, Nxb CAND,
2007; Giáo trình “Tội phạm học”, GS.TS. Võ Khánh Vinh, Nxb CAND, tái bản năm
2011, 2013; Giáo trình “Tội phạm học”, Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND, 2004, 2012;
Giáo trình “Tội phạm học”, Học viện Cảnh sát nhân dân, Nxb CAND, 2002. Ngoài ra
cần kể tới các nghiên cứu [57] [58] [113] [114] [115]....
1.2.2. Nhóm các công trình nghiên cứu về tiền giả dưới góc độ kỹ thuật hình
sự như: Luận văn “Phương pháp điều tra các vụ án làm, tàng trữ, lưu hành tiền Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam giả”, Châu Nam Long (1996); Luận án “Điều tra vụ án làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Thực
trạng và giải pháp”, Châu Nam Long (2002); Đề tài khoa học cấp Bộ: “Hệ thống hóa
các đặc điểm và một số thông số kỹ thuật, thủ đoạn làm các loại tiền giả tiền Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam trên máy vi tính để phục vụ công tác quản lý, giám định và
định hướng cho công tác điều tra”, Châu Nam Long (1999); “Công tác phòng ngừa,
đấu tranh chống hoạt động làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả tiền Ngân
một số công trình điển hình và rút ra nhận xét chung ở phần 1.3.
1.2.4. Nhóm các công trình điển hình nghiên cứu về đấu tranh phòng, chống
tội phạm về tiền giả dưới góc độ Tội phạm học.
Nguyễn Xuân Yêm (2001), “Phòng ngừa các tội phạm làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả”, sách chuyên khảo “Tội
phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm”, Nxb Công an nhân dân; Nguyễn Xuân
18