Đấu tranh phòng, chống tội làm nhục người khác ở nước ta hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THUỲ TRANG
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI LÀM NHỤC
NGƯỜI KHÁC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT MỤC LỤC
Trang

Mở đầu

6

Chương
1:
TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
7
1.1
Khái lược sự hình thành và phát triển những quy định về tội
làm nhục người khác trong luật hình sự Việt Nam.

1.1.1
Tội làm nhục người khác trong thời kỳ phong kiến và Pháp
thuộc.
7
1.1.2
Tội làm nhục người khác trong thời kỳ từ khi Cách mạng tháng
Tám năm 1945 thành công cho đến trước khi Bộ luật hình sự
năm 1985 ra đời.
9

So sánh tội làm nhục người khác với một số tội phạm khác có
liên quan.
24 1.2.3.1
So sánh tội làm nhục người khác với các tội: Tội làm nhục
người chỉ huy hoặc cấp trên; tội làm nhục cấp dưới và tội làm
nhục đồng đội.
24
1.2.3.2
So sánh tội làm nhục người khác với tội bức tử.
26
1.2.3.3
So sánh tội làm nhục người khác với tội hành hạ người khác.
26
1.2.3.4
So sánh tội làm nhục người khác với tội vu khống.
27
1.2.4
ý nghĩa của việc quy định tội làm nhục người khác trong Bộ luật
Hình sự 1999.
28
1.3
Những quy định về tội làm nhục người khác trong pháp luật
hình sự một số nước trên thế giới.
31

Chương 2:
Tình hình, nguyên nhân, điều kiện của

Nguyên nhân về các cơ quan bảo vệ pháp luật.
77
2.3
Dự báo tình hình tội làm nhục người khác trong thời gian
tới ở nước ta.
79

Chương
3:
Một số giải pháp đấu tranh phòng, chống tội làm nhục
người khác
83 3.1
Xây dựng các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội làm
nhục người khác
83
3.1.1
Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống các giải pháp đấu
tranh phòng, chống tội làm nhục người khác.
83
3.1.2
Những yêu cầu, quan điểm và nguyên tắc xây dựng hệ thống các
giải pháp đấu tranh phòng, chống tội làm nhục người khác.
84
3.2
Các giải pháp đấu tranh phòng, chống tội làm nhục người
khác.
88


112

Tài liệu tham khảo

115 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCA
Bộ Công an
BLHS
Bộ luật hình sự
BQP
Bộ Quốc phòng
CP
Chính phủ
HSPT
Hình sự phúc thẩm
NXB
Nhà xuất bản
PGS. TSKH
Phó giáo sư - Tiến sĩ khoa học
SL
Sắc luật
TH.S

Việt Nam quy định: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”.
Trong những năm qua, sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng và
lãnh đạo đã thu được những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người
nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng, Đảng và
Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nhà
nước Việt Nam khẳng định con người là trung tâm của các chính sách kinh
tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho
sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người. Nhà nước
Việt Nam không chỉ khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người
nói chung, nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng, mà còn làm hết
sức mình để bảo đảm thực hiện trên thực tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực và thành tựu đã đạt được,
trong thời gian qua, cũng đã nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó có
nhiều vấn đề mới phát sinh có liên quan đến công tác đấu tranh phòng, 2
chống tội phạm. Tình hình tội phạm còn diễn biến phức tạp trên tất cả các
lĩnh vực, trong đó tình hình tội làm nhục người khác, xúc phạm nhân
phẩm, danh dự của người khác đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội,
được dư luận rất quan tâm, theo dõi. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội
làm nhục người khác đã đặt ra nhiều vấn đề vướng mắc đòi hỏi khoa học
luật hình sự phải nghiên cứu, giải quyết như khái niệm, những dấu hiệu
pháp lý hình sự đặc trưng của tội làm nhục người khác, nguyên nhân, điều

luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần các tội phạm) của TS Phùng
Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, LS. Th.S. Phạm Thanh Bình. TS. Nguyễn
Đức Mai, Th.S Nguyễn Sĩ Đại, Th.S Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Phần các tội
phạm, tập I (Bình luận chuyên sâu) của Th.S Đinh Văn Quế, Nxb thành
phố Hồ Chí Minh, 2002…
Các công trình nói trên đã đề cập tội làm nhục người khác dưới góc
độ pháp lý hình sự nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện và có hệ thống về tội làm nhục người khác dưới hai góc độ: pháp lý
hình sự và tội phạm học.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận
văn
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh
phòng, chống tội làm nhục người khác, đề xuất những giải pháp mang tính
hệ thống, đồng bộ để nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm này.
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết
các nhiệm vụ sau: 4
- Làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của
tội làm nhục người khác; phân tích những quy định của pháp luật hình sự
một số nước trên thế giới về tội phạm này.
- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng tình hình tội làm nhục
người khác, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm này; dự báo tình tội
làm nhục người khác trong những thời gian tới.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh

- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận chung về tội làm nhục người
khác; những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội phạm này trong
pháp luật hình sự hiện hành.
- Phân tích, đánh giá những quy định về tội làm nhục người khác
trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới nhằm rút ra những giá trị
hợp lý về lập pháp hình sự, để vận dụng có chọn lọc, bổ sung cho những
luận cứ và giải pháp được đề xuất trong luận văn.
- Đánh giá thực đúng thực trạng tình hình tội làm nhục người khác ở
Việt Nam, phân tích, làm rõ nguyên nhân, điều kiện của thực trạng đó.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu
quả đấu tranh phòng, chống tội làm nhục người khác.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những đề xuất được nêu trong luận văn, có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,
chống tội làm nhục người khác ở nước ta. Thông qua công trình nghiên
cứu này, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc đấu 6
tranh phòng, chống tội phạm làm nhục người khác là loại tội phạm có tính
nhạy cảm rất cao hiện nay.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ
làm công tác nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa
học luật hình sự, tội phạm học nói riêng và các cán bộ thực tiễn đang công
tác tại các cơ quan bảo vệ pháp luật
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 114 trang. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, mục.
Chương 1
TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC

tháng Tám năm 1945 thành công cho đến trước khi Bộ luật hình sự
năm 1985 ra đời
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, do tình hình kháng chiến
diễn ra hết sức khẩn trương việc đấu tranh chống tội làm nhục người
khác chưa được đặt ra. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, đối với việc bảo vệ
tính mạng, sức khỏe, nhân phầm, danh dự của con người, pháp luật hình sự
chủ yếu đề cập các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe như giết người, gây
thương tích, làm chết người trong Thông tư số 442-TTg ngày19-11-1955
của Thủ tướng Chính phủ, mà chưa có văn bản pháp luật hình sự nào quy
định về các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm nói chung, về tội làm nhục
người khác nói riêng. Sau khi miền Nam được giải phóng, trong khi chờ
đợi thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước, Nhà nước Cộng hòa miền Nam
Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03-SL/76 ngày 15-3-1976 có quy định
về các tội xâm phạm đến thân thể và nhân phẩm của công dân một cách
đầy đủ hơn so với Thông tư số 442-TTg ngày19-11-1955 của Thủ tướng 8
Chính phủ, trên cơ sở quy định này, các Tòa án đã vận dụng xử lý một số
trường hợp phạm tội làm nhục người khác.
1.1.3. Tội làm nhục người khác thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật
hình sự năm 1985 đến nay
Bộ luật hình sự năm 1985 quy định tội làm nhục người khác tại
Điều 116, tội làm nhục người chỉ huy hoặc cấp trên tại Điều 253, tội làm
nhục cấp dưới tại Điều 254, tội làm nhục đồng đội tại Điều 255. Việc Bộ
luật hình sự năm 1985 lần đầu tiên chính thức ghi nhận về mặt pháp lý tội
làm nhục người khác, tội làm nhục người chỉ huy hoặc cấp trên, tội làm
nhục cấp dưới, tội làm nhục đồng đội, đánh dấu sự trưởng thành về kỹ
thuật lập pháp hình sự của nước ta trong lĩnh vực bảo vệ nhân phẩm, danh
dự của con người

nhân phẩm, danh dự của người khác.
1.2.2. Những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng và hình phạt
được áp dụng đối với tội làm nhục người khác
Trên cơ sở phân tích những quy định của Bộ luật hình sự năm 1999,
tác giả đã làm rõ những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội làm
nhục người khác, đó là các dấu hiệu về khách thể, chủ thể, mặt chủ quan,
mặt khách quan. Tác giả cũng đã phân tích hình phạt được áp dụng đối với
tội làm nhục người khác.
1.2.3. So sánh tội làm nhục người khác với một số tội phạm khác
có liên quan
Tác giả đã phân biệt tội làm nhục người khác với các tội: tội làm
nhục người chỉ huy hoặc cấp trên, tội làm nhục cấp dưới và tội làm nhục
đồng đội thông qua dấu hiệu khách thể, chủ thể của tội phạm. Đồng thời,
phân biệt tội làm nhục người khác vói tội bức tử, tội hành hạ người khác.
Đặc biệt, tội làm nhục người khác được phân biệt với tội vu khống ở những 10
điểm sau: thứ nhất, hành vi cấu thành tội vu khống không đa dạng như tội
làm nhục người khác. Ngoài ra, tội vu khống có một loại hành vi đặc trưng
khác, đó là "bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan nhà
nước có thẩm quyền", thứ hai, mục đích tội vu khống hướng tới bao gồm:
xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người khác, mục đích của tội làm nhục người khác chỉ nhằm xúc phạm
danh dự, nhân phẩm. Như vậy, hành vi bịa đặt, loan truyền tin tức thất thiệt
nhằm gây thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm là dấu hiệu có trong cả hai cấu
thành tội phạm tội làm nhục người khác và tội vu khống. Tuy nhiên, thông
thường hành vi cấu thành tội vu khống thường kèm theo mục đích nhằm
bôi nhọ danh dự và gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người
khác trước các cơ quan, tổ chức hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Vương quốc Thụy Điển, trong pháp luật hình sự Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào, hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người
đã chết cũng bị coi là tội phạm và người thực hiện hành vi đó phải chịu
hình phạt. Đây là điểm khác biệt so với quy định tương ứng trong pháp luật
hình sự của nước ta.
Ngoài ra, trong pháp luật hình sự hiện hành của Cộng hòa dân chủ
nhân dân Lào, hành vi xúc phạm danh dự của người khác và hành vi vu
khống người khác được quy định chung trong một điều luật quy định về tội
xúc phạm danh dự của người khác. Đây cũng là điểm khác biệt so với quy
định tương ứng trong pháp luật hình sự của nước ta.
Chương 2
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN CỦA
TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC 12
Trong chương này, tác giả tập trung nghiên cứu, làm rõ tình hình,
nguyên nhân và điều kiện của tội làm nhục người khác và dự báo tình hình
tội làm nhục người khác trong thời gian tới ở nước ta.
2.1 TÌNH HÌNH TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC Ở VIỆT
NAM TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2005
2.1.1. Thực trạng và động thái của tình hình tội làm nhục người
khác
Theo số liệu thống kê của Toà án nhân dân tối cao, từ năm 1997 đến
năm 2005, số vụ án xét xử về tội làm nhục người khác có xu hướng giảm
nhưng không đáng kể, cụ thể năm 1997: 115 vụ với 177 bị cáo ; năm 1998:
162 vụ với 241 bị cáo; năm 1999: 144 vụ với 228 bị cáo, năm 2000: 106 vụ
với 164 bị cáo; năm 2001: 86 vụ với 125 bị cáo; năm 2002: 89 vụ với 133
bị cáo; năm 2003: 96 vụ với 149 bị cáo; năm 2004: 56 vụ với 84 bị cáo;
năm 2005: 61 vụ với 78 bị cáo.

rút ra: thứ nhất, các bị cáo là công chức, đảng viên chiếm một tỷ lệ rất
thấp; thứ hai, các bị cáo phạm tội là dân tộc ít người chiếm tỷ lệ không
cao, năm 2001, 2002 không có bị cáo là dân tộc ít người, năm 1997, 2004,
2005 mỗi năm chỉ có 1 bị cáo, năm 2003 có 4 bị cáo, năm 2000 có 7 bị
cáo, năm 1998 có 11 bị cáo và năm nhiều nhất là 1999 có 47 bị cáo; thứ
ba, các bị cáo phạm tội làm nhục người khác phần lớn là nam giới, năm
1997 số bị cáo là nam giới: 124 người, chiếm 70% trên tổng số bị cáo, năm
1998 tăng lên 196 người, chiếm tỷ lệ 81% trên tổng số bị cáo, năm 1999 là
173 người, chiếm 76% trên tổng số bị cáo. Năm 2000 tỷ lệ nam giới giảm
xuống còn 46% (76 trên tổng số 164 bị cáo); thứ tư, về độ tuổi của số bị
cáo phạm tội làm nhục người khác tuy có dao động qua các năm, nhưng
nhìn chung trong độ tuổi từ 18 đến 30, số bị cáo phạm tội có xu hướng
giảm, phần lớn bị cáo phạm tội trong độ tuổi từ 30 trở lên. 14
2.2. NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI LÀM NHỤC
NGƯỜI KHÁC
Tội làm nhục người khác thực chất là một hiện tượng xã hội tiêu
cực. Vì vậy, muốn xác định nguyên nhân, điều kiện phạm tội phải tìm hiểu
nó từ chính các quá trình xã hội. Nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện của
tội làm nhục người khác trong thời gian qua ở nước ta, có thể thấy, tội làm
nhục người khác là hành vi tuy không gây tổn hại về mặt sức khoẻ, tính
mạng nhưng ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần của người bị
hại, thậm chí nó còn gây ra những hậu quả thương tâm, nhẹ thì bị mất niềm
tin, mất danh dự, nặng có thể gây ra những rối loạn về tâm thần, khiến
người bị hại có những hành vi tiêu cực. Chính vì vậy, việc tìm ra nguyên
nhân, điều kiện của tội phạm này sẽ góp phần tích cực vào việc đấu tranh
phòng chống tội phạm.
Trên thực tế, bất kỳ hành vi phạm tội nào cũng bắt nguồn từ một

sẽ có xu hướng tăng lên. Tỷ lệ phạm tội ở nông thôn và khu vực miền núi
vẫn ở mức cao hơn so với khu vực thành thị, tuy nhiên, các tội phạm làm
nhục người khác ở khu vực thành thị có tính tinh vi và khó phát hiện hơn.
Về nhân thân những người phạm tội làm nhục người khác, những
người phạm tội thuộc tầng lớp trí thức sẽ có xu hướng tăng lên, họ có thể
nhằm tới những người mà họ cho là cản trở con đường công danh hoặc
những người là đối thủ cạnh tranh của mình. Trong thời gian tới, tỷ lệ
phạm tội là nữ giới sẽ có xu hướng tăng lên, điều này cũng biểu hiện rõ nét
trên biểu đồ về tình hình tội phạm nữ trong những năm gần đây. Việc làm
nhục người khác của nữ giới so với nam trên thực tế không hề chênh lệch,
nhưng do hành vi làm nhục người khác của nam giới có mức độ nghiêm
trọng cao hơn nên phần lớn bị xử lý về mặt hình sự. Tuy nhiên, những năm
tới đây, để bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về danh dự, nhân phẩm của
con người, Đảng và Nhà nước sẽ có những chế tài nghiêm khắc hơn đối 16
với những hành vi trên, do vậy, những hành vi làm nhục người khác sẽ bị
xử lý về hình sự một cách nghiêm khắc và cương quyết hơn.
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG
TỘI LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC
Trong chương này, tác giả nghiên cứu về vấn đề xây dựng các giải
pháp đấu tranh phòng chống tội làm nhục người khác, trong đó làm rõ cơ
sở khoa học của việc xây dựng hệ thống các giải pháp đấu tranh phòng,
chống tội làm nhục người khác, những quan điểm của Đảng và Nhà nước
cần quán triệt trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội làm
nhục người khác và các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng,
chống loại tội phạm này trong thời gian tới.
3.1. XÂY DỰNG CÁC GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG,

sống xã hội; Thứ tư, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận
pháp lý hình sự về tội làm nhục người khác.
Để cuộc đấu tranh phòng, chống tội làm nhục người khác đạt hiệu
quả cao, cần phải xuất phát từ các quan điểm chỉ đạo sau:
Một là, phải coi đây là cuộc đấu tranh của toàn Đảng, toàn dân, của
các cấp, các ngành đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng.
Phải phát động cho được phong trào quần chúng rộng rãi, thường xuyên
tham gia đấu tranh, phòng, chống tội làm nhục người khác, đồng thời phát
huy được vai trò tham mưu, nòng cốt của các lực lượng Công an, Tư pháp,
sự tham gia tích cực của các tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng.
Hai là, phải coi công tác giáo dục đạo đức, lối sống mới, đồng thời
đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền
con người, sự tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm của con người. 18
Ba là, cần phải kiên quyết xử lý hành chính và dân sự các trường hợp
xâm hại đến danh dự, nhân phẩm của con người, kịp thời răn đe, giáo dục
người vi phạm để ngăn ngừa họ tiếp tục vi phạm và có thể trở thành người
phạm tội.
Bốn là, phải trên cơ sở giải quyết đúng đắn những mâu thuẫn nảy
sinh trong xã hội, xây dựng gia đình, nhà trường, xã hội lành mạnh, mọi
người tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước và của từng địa phương.
3.3. CÁC GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI
LÀM NHỤC NGƯỜI KHÁC
3.3.1. Giải pháp về pháp luật
Tác giả đã phân tích những bất cập của các quy định về hành vi làm
nhục người khác, tội làm nhục người khác, để trên cơ sở đó đề xuất sửa đổi,
bổ sung Điều 121 Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

động cũng là một nội dung quan trọng của giáo dục đạo đức.
Cùng với việc giáo dục giá trị truyền thống, việc giáo dục các quy
tắc ứng xử, các chuẩn mực đạo đức, hình thành văn hóa giao tiếp là một
nội dung không thể thiếu của giáo dục đạo đức trong điều kiện đổi mới
hiện nay. Việc giáo dục quy tắc ứng xử, các chuẩn mực đạo đức phải hình
thành và củng cố trong con người một niềm tin sâu sắc vào những giá trị
đích thực và bền vững.
3.3.3. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
quyền con người và tội làm nhục người khác
Tác giả cho rằng, phải coi công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật về quyền con người nói chung và tội làm nhục người khác nói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status