1 2
bộ giáo dục và đào tạo
Bộ t pháp
trờng đại học luật hà nội
nguyễn văn hơng
đấu tranh phòng, chống
tội mua bán phụ nữ ở việt nam
Chuyên ngành: Tội phạm học và điều tra tội phạm
Mã số: 62 38 70 01
luận án tiến sĩ luật học
3 4
Công trình đợc hoàn thành tại: Trờng Đại học Luật Hà Nội
Ngời hớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hoà
Phản biện 1: PGS.TS Trn ỡnh Nhó, U Ban quc phũng
v an ninh ca Quc Hi ..
Phản biện 2: GS.TS. Vừ Khỏnh Vinh, Vin Khoa hc xó hi
Vit Nam..
Phản biện 3: PGS.TS. Phựng Th Vc, Hc Vin An Ninh Nhõn
dõn
nạn nhân bị bán và nghi đã bị bán, phụ nữ chiếm khoảng 95%.
Tội MBPN không những xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh
dự, cuộc sống gia đình của ngời phụ nữ (nạn nhân của tội phạm) mà
còn xâm phạm chính sách, pháp luật về bảo vệ phụ nữ; xâm phạm nghiêm
trọng quyền bình đẳng của phụ nữ (thành quả xã hội mà Nhà nớc đã cố
gắng xây dựng, cả xã hội nỗ lực thực hiện trong nhiều năm qua).
Những năm gần đây, Nhà nớc Việt Nam đã có nhiều biện pháp
mạnh; các bộ, ngành, chính quyền địa phơng đã tích cực phòng ngừa
và kiên quyết đấu tranh chống tội MBPN nhng tội phạm này cha giảm
mà còn có xu hớng tăng và diễn biến ngày càng phức tạp (năm 2005 cả
nớc có 65vụ/112 bị cáo phạm tội MBPN bị xét xử; năm 2006 con số
này là 121vụ/ 237 bị cáo, còn năm 2007 có 139 vụ với 264 bị cáo bị các
toà án xét xử về tội MBPN. Năm 2005 có 23/64 tỉnh, thành phố nhng
năm 2006 đã có 31/64 tỉnh, thành phố có tội MBPN bị xét xử). Điều đó
đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu tội MBPN một cách toàn diện, đặt tội
MBPN trong tổng thể tội phạm nói chung, trong mối quan hệ tác động
qua lại chặt chẽ với các điều kiện kinh tế, xã hội của đất nớc, để từ
đó đi sâu phân tích các đặc điểm tình hình tội phạm (THTP), phân tích
rõ các nguyên nhân, điều kiện của tội MBPN và đa ra đợc các biện
pháp phòng ngừa có hiệu quả đối với tội MBPN ở Việt Nam hiện nay.
Đó cũng là lý do khiến chúng tôi lựa chọn đề tài: "Đấu tranh phòng,
chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho
Luận án tiến sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội MBPN ở Việt Nam từ trớc đến nay cha đợc các nhà khoa
học, các cán bộ nghiên cứu quan tâm nghiên cứu đúng mức. Cho đến
nay mới chỉ có một số (không nhiều) các công trình nghiên cứu về tội
MBPN hoặc có liên quan đến tội MBPN (tội MBPN là một bộ phận của
đối tợng nghiên cứu) đợc công bố. Các công trình này bao gồm:
- Đề tài khoa học cấp Bộ:
của tác giả Trần Văn Thạch (bảo vệ tại Trờng Đại học Luật Hà Nội,
năm 2002);
+ Luận văn thạc sĩ với đề tài: Đấu tranh phòng, chống tội phạm
buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam, của tác giả Nguyễn Quyết Thắng
(bảo vệ tại Trờng Đại học Luật Hà Nội, năm 2006);
Trong cả hai công trình nghiên cứu này, tội MBPN đợc đề cập với
t cách là một phần của đối tợng nghiên cứu. đối tợng và phạm vi
nghiên cứu rộng, hơn nữa, các công trình nghiên cứu này có tầm nghiên
cứu là luận văn thạc sĩ nên các phân tích, nhận định, đánh giá của các
tác giả còn ở mức rất khái quát.
- Các công trình nghiên cứu về tội MBPN dới dạng báo cáo
tham luận tại Hội thảo khoa học và các bài viết đăng trên các tạp chí
Buôn bán phụ nữ và mại dâm trẻ em ở Việt Nam, thực trạng và
giải pháp" của TS. Lê Thị Quý (tham luận Hội thảo quốc gia "Đại biểu
dân cử về chính sách xóa bỏ bạo lực với phụ nữ", năm 2002); một số
công trình nghiên cứu dới dạng bài viết đã đăng tải trên các tạp chí
nh: "Đấu tranh phòng, chống tội mua bán phụ nữ và trẻ em trong giai
đoạn hiện nay" của TS. Trơng Quang Vinh (Tạp chí Luật học, số 3,
năm 2004); "Cần từng bớc hoàn thiện pháp luật về công tác phòng,
chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em" của tác giả Lơng Thanh
Hải (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7, tháng 4/2006). Các công trình
nghiên cứu này hoặc chỉ mới phân tích rất khái quát một số đặc điểm
tình hình, nguyên nhân và nêu ra các biện pháp phòng ngừa tội MBPN
(một cách chung chung mà không dựa trên sự phân tích cụ thể về THTP,
nguyên nhân, điều kiện của tội MBPN); hoặc chỉ phân tích một số khía
cạnh liên quan đến tội MNPN mà cha có sự phân tích, đánh giá một
cách tổng thể tội MBPN ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, còn có một số tài liệu dới dạng "Sổ tay" nh: "Sổ tay
hớng dẫn điều tra vụ án buôn bán ngời" của Tổng cục Cảnh sát phối
hợp với Học viện Cảnh sát, Cục Trinh sát Bộ đội Biên phòng (năm
Luận án đợc triển khai nghiên cứu toàn diện và có hệ thống các
vấn đề liên quan đến tội MBPN dới góc độ tội phạm học.
6. Phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu của luận án
Luận án đợc thực hiện dựa trên phơng pháp luận khoa học của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Các phơng pháp đợc sử dụng để nghiên cứu luận án bao gồm:
Phơng pháp thống kê, phơng pháp phân tích, phơng pháp tổng hợp,
phơng pháp so sánh, phơng pháp mô tả bằng các biểu đồ.
7. Những điểm mới và ý nghĩa của luận án
- Đây là công trình nghiên cứu ở cấp luận án tiến sĩ về một loại tội
có tính nguy hiểm cao mà Nhà nớc, các cơ quan, tổ chức cũng nh
toàn xã hội đang nỗ lực ngăn chặn và phòng ngừa. Đó là tội MBPN ở Việt
Nam. Luận án đã tập trung phân tích THTP của tội MBPN ở Việt Nam.
Các đặc điểm của THTP của tội MBPN đợc phân tích rõ, đợc xem xét
trong khoảng thời gian dài (10 năm), đợc đánh giá một cách toàn diện
trong mối tơng quan với các điều kiện kinh tế xã hội luôn vận động,
biến đổi và rút ra những kết luận mang tính khách quan, khoa học.
- Các nguyên nhân, điều kiện của tội MBPN cũng nh cơ chế tác
động của các yếu tố nguyên nhân, điều kiện trong việc làm phát sinh
hành vi phạm tội MBPN ở Việt Nam đợc phân tích toàn diện, có hệ
thống, đợc lý giải cặn kẽ, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu đa ra những
dự báo cũng nh đa ra các biện pháp phòng ngừa tội MBPN.
- Luận án đã đa ra đợc các biện pháp phòng ngừa tội MBPN có
tính khoa học, khả thi dựa trên cơ sở phân tích rõ ràng, đầy đủ, khách
quan các đặc điểm THTP, các nguyên nhân, điều kiện của tội MBPN ở
Việt Nam.
ý nghĩa của luận án thể hiện ở chỗ: Các kết quả nghiên cứu của
luận án sẽ góp phần hoàn thiện các biện pháp phòng, chống tội phạm
nói chung, tội MBPN nói riêng ở Việt Nam hiện nay. Các kết quả
nghiên cứu của luận án có thể đợc sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
Tình hình tội phạm là một (loại) hiện tợng xã hội, vì vậy, nó luôn
luôn có những đặc điểm phản ánh các biểu hiện và bản chất của THTP.
Bản chất của THTP đợc biểu hiện thông qua các đặc điểm (có tính
chất) định lợng và định tính của THTP. Các đặc điểm đó trong tội
phạm học đợc gọi là: mức độ, cơ cấu, tính chất và động thái của tội
phạm. Vì vậy, khi nghiên cứu THTP của tội MBPN, luận án đã tập trung
phân tích rõ các đặc điểm tội phạm học của tội này là mức độ, cơ cấu,
tính chất (trong trạng thái tĩnh) và sự vận động biến đổi của tội MBPN
(trạng thái động) để làm rõ các đặc điểm về lợng, đặc điểm về chất và
xu hớng vận động của tội MBPN ở Việt Nam.
1.2. THựC TRạNG CủA TộI MUA BáN PHụ Nữ ở VIệT
NAM
1.2.1. Mức độ của tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam
Mức độ của tội phạm đợc phản ánh qua các tổng của các tội
phạm đ xảy ra cùng với tổng của những ngời phạm những tội đó trong
đơn vị không gian và đơn vị thời gian xác định. Bằng các bảng thống kê,
các biểu đồ, tác giả phân tích rõ các đặc điểm về tỉ lệ của tội MBPN so
với tội phạm nói chung và các tội xâm phạm nhân thân; phân tích hệ số
tội phạm của tội MBPN trên toàn quốc và một số địa phơng qua đó làm
rõ mức độ của tội MBPN ở Việt Nam trong 10 năm gần đây.
Mức độ nghiêm nghiêm trọng của tội MBPN còn đợc thể hiện
thông qua việc tội MBPN ngày càng lan rộng trên phạm vi toàn quốc; hệ
số tội phạm của tội MBPN có sự chênh lệch rất lớn giữa các địa phơng,
đặc biệt là địa bàn trọng điểm có tội MBPN tại các địa phơng đại diện
cho cả ba miền: Bắc, Trung, Nam; các tỉnh đồng bằng cũng nh miền núi.
Trong những năm gần đây, tội MBPN ở Việt Nam đã diễn ra với mức độ
rất nghiêm trọng. Tội MBPN chiếm tỉ lệ khá cao cả về số vụ và số bị cáo
so với tội phạm nói chung, các tội xâm phạm nhân thân. Việc phân tích
mức độ, hệ số của tội MBPN; các số liệu thống kê, các bảng, biểu đồ
(minh hoạ); kết hợp phân tích mức độ, hệ số của tội MBPN trên cả nớc
năm gần đây diễn ra rất nghiêm trọng. Tội MBPN luôn chiếm tỉ lệ khá
cao cả về số vụ và số bị cáo trong tổng số tội phạm đã xảy ra. Trong
những năm gần đây, có hàng nghìn phụ nữ Việt Nam bị đa bán ra nớc
ngoài; tội MBPN có quy mô lớn xảy ra ngày càng nhiều; ngời phạm tội
thờng dùng thủ đoạn lừa dối đối với các phụ nữ trẻ ở nông thôn, miền
núi có trình độ học vấn thấp, không có việc làm, thiếu việc làm, hoàn
cảnh khó khăn để đa họ ra nớc ngoài bán. Trong 10 năm gần đây,
gần 2.000 ngời phạm tội MBPN bị xét xử và bị áp dụng các hình phạt
rất nghiêm khắc, nhng tội MBPN ở Việt Nam vẫn diễn ra rất nghiêm
trọng và ngày càng lan rộng ra khắp các tỉnh, thành phố trên cả nớc.
Việc phân tích mức độ, cơ cấu của tội MBPN đã cho chúng ta thấy
đợc một phần tính chất nguy hiểm của tội phạm này, nhng để làm rõ hơn
tính nguy hiểm của tội MBPN, tác giả của luận án còn phân tích cụ thể các
yếu tố (thuộc về cơ cấu của tội MBPN) nhng là yếu tố phản ánh tập trung
nhất tính chất nguy hiểm của tội MBPN ở Việt Nam. Các yếu tố đó là:
- Hình thức thực hiện tội phạm
Tội MBPN đợc thực hiện dới hình thức đồng phạm chiếm tỉ lệ
cao hơn so với các loại tội khác. Đặc điểm này vừa thể hiện hình thức
của hành vi phạm tội, vừa thể hiện tính chất nguy hiểm cao của tội
MBPN ở Việt Nam.
- Nhân thân ngời phạm tội
Các đặc điểm nhân thân của ngời phạm tội MBPN nh: tái phạm,
tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần là các đặc điểm thể hiện rõ
tính chất nguy hiểm của tội MBPN, cho chúng phép chúng ta nhận thức
đầy đủ, toàn diện hơn về cơ cấu của tội MBPN, tạo tiền đề cho việc
nghiên cứu nguyên nhân, điều kiện và xác định các biện pháp phòng
ngừa có hiệu quả đối với tội MBPN ở Việt Nam.
- Động cơ và mục đích phạm tội
Đối với tội MBPN, động cơ và mục đích phạm tội không chỉ phản
ánh tính nguy hiểm của hành vi phạm tội mà nó còn phản ánh nguyên nhân
còn câu kết với ngời ngời phạm tội ở nớc ngoài hình thành các
đờng dây phạm tội, các băng nhóm, các tổ chức phạm tội xuyên quốc
gia. Diễn biến phức tạp của tội MBPN làm cho việc phòng, chống tội
MBPN ở Việt Nam ngày càng khó khăn, phức tạp hơn.
1.4. PHầN ẩN CủA TộI MUA BáN PHụ Nữ ở VIệT NAM
"Phần ẩn của tình hình tội phạm là tổng thể các hành vi phạm tội
(cùng các chủ thể của các hành vi đó) đ xảy ra trong thực tế, song
không đợc phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình
sự hoặc không có trong thống kê tội phạm".
Các số liệu thống kê (đợc nêu và phân tích trong luận án) đã cho
chúng ta thấy đợc khái quát THTP của tội MBPN nhng các số liệu đó
mới chỉ phản ánh một phần THTP của tội MBPN ở Việt Nam trong
những năm gần đây. Giống nh các tội phạm nói chung, tội MBPN có
một số lợng đáng kể các vụ phạm tội và ngời phạm tội còn "ẩn" mà
cha bị phát hiện xử lý theo pháp luật. Việc nghiên cứu phần ẩn của tội
MBPN, phân tích rõ mức độ ẩn, nguyên nhân ẩn của tội MBPN sẽ cho
phép chúng ta nhận thức đầy đủ hơn về bức tranh toàn cảnh về tội
MBPN ở Việt Nam. Vì vậy, tác giả luận án đã tập trung phân tích các
đặc điểm tội phạm ẩn của tội MBPN, đồng thời xác định các chủ thể
chịu trách nhiệm trong việc khắc phục tình trạng ẩn của tội MBPN ở
Việt Nam hiện nay.
Chơng 2
NGUYÊN NHÂN, ĐIềU KIệN
CủA TộI MUA BáN PHụ Nữ ở VIệT NAM
2.1. NHậN THứC CHUNG
Tội phạm là một hiện tợng xã hội nhng tội phạm lại là hành vi
của con ngời. Hành vi đó "đồng thời chịu sự chi phối của nhiều yếu tố
khác nhau trong đó có những yếu tố về môi trờng x hội và cũng có
vi phạm tội, đặc biệt là tội MBPN ở Việt Nam. Các yếu tố tiêu cực phát
sinh từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội nh tình trạng đói nghèo,
không có việc làm, thiếu việc làm, thu nhập thấp, kinh tế khó khăn của
một bộ phận dân c trong xã hội chính là yếu tố thúc đẩy hoặc tạo điều
kiện cho ngời phạm tội thực hiện tội MBPN (trong nhiều trờng hợp).
2.2.2 Nguyên nhân, điều kiện liên quan đến những yếu kém,
hạn chế của hoạt động giáo dục, đào tạo
Những yếu kém của hoạt động giáo dục đào tạo có ảnh hởng (xấu)
nhất định đến THTP nói chung, THTP của tội MBPN ở Việt Nam nói riêng.
Tác giả luận án đã phân tích rõ (minh chứng cụ thể) về sự tác động,
cũng nh cơ chế tác động của những yếu kém, hạn chế của hoạt động
giáo dục, đào tạo trong việc làm phát sinh những hành vi phạm tội, đặc
biệt là tội MBPN ở Việt Nam. Sự tác động của những (yếu tố) yếu kém,
hạn chế của hoạt động giáo dục, đào tạo Việt Nam nh việc phổ cập
giáo dục còn ở bậc học thấp, chất lợng giáo dục đào tạo còn thấp, cha
coi trọng đúng mức việc đào tạo nghề là một trong những nguyên
nhân, điều kiện (thậm chí là nguyên nhân của những nguyên nhân) của
tội MBPN ở Việt Nam trong những năm gần đây.
2.3. NHữNG NGUYÊN NHÂN, ĐIềU KIệN Có TíNH CHấT
ĐặC THù CủA TộI MUA BáN PHụ Nữ
2.3.1. Nguyên nhân, điều kiện liên quan đến những hạn chế của
hoạt động tuyên truyền trong cộng đồng về phòng, chống tội mua bán
phụ nữ
Trong mục này, tác giả luận án đã phân tích rõ và minh chứng cụ thể
về sự tác động, cũng nh cơ chế tác động của những yếu kém, hạn chế
của hoạt động tuyên truyền pháp luật, nhất là tuyên truyền trong cộng
đồng về phòng, chống tội MBPN cũng là yếu tố góp phần vào nguyên
nhân, điều kiện của tội MBPN ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Hoạt động tuyên truyền trong cộng đồng về phòng, chống tội MBPN
đợc triển khai còn chậm, cha sâu rộng; công cụ tuyên truyền cùng với
của những yếu kém, hạn chế trong hoạt động đấu tranh chống tội MBPN
cũng là yếu tố thúc đẩy hoặc tạo điều kiện cho ngời phạm tội thực hiện
tội MBPN. Việc phát hiện, xử lý tội MBPN còn chậm, còn hạn chế; các
quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động đấu tranh chống tội
MBPN còn có những bất cập; việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh
chống tội MBPN của Việt Nam còn chậm và cha sâu rộng đã trở thành
yếu tố kích thích, thúc đẩy làm phát sinh hành vi phạm tội hoặc tạo điều
kiện cho ngời phạm tội thực hiện tội MBPN (trong nhiều trờng hợp).
Chơng 3
Dự BáO TìNH HìNH TộI PHạM Và CáC BIệN PHáP
PHòNG, CHốNG TộI MUA BáN PHụ Nữ ở VIệT NAM
3.1. Dự BáO TìNH HìNH TộI PHạM CủA TộI MUA BáN PHụ Nữ
ở VIệT NAM
Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích cụ thể các đặc điểm THTP của tội
MBPN, phân tích rõ các nguyên nhân, điều kiện cũng nh cơ chế tác
động của các yếu tối nguyên nhân, điều kiện trong việc làm phát sinh
hành vi phạm tội MBPN ở Việt Nam, tác giả luận án đã đa ra những dự
báo về mức độ, cơ cấu, tính chất và xu hớng vận động của tội MBPN ở
Việt Nam trong những năm tới làm cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp
phòng, chống tội MBPN ở Việt Nam hiện nay và những năm tiếp theo.
3.2. CáC BIệN PHáP PHòNG, CHốNG TộI MUA BáN PHụ Nữ
ở VIệT NAM
3.2.1. Nhận thức chung
Phòng ngừa tội phạm là đối tợng nghiên cứu thứ ba và cũng là
mục đích nghiên cứu chính của tội phạm học. Việc nghiên cứu và đa ra
đợc các biện pháp phòng ngừa có hiệu quả đối với tội MBPN ở Việt
Nam hiện nay là rất cần thiết và đó mới là điều thật sự có ý nghĩa khi
nghiên cứu về toàn bộ tội phạm này. Tuy nhiên, hiện nay các tác giả
- Phát triển kinh tế - xã hội phải kết hợp giải quyết tốt các yếu tố
tiêu cực phát sinh từ quá trình đô thị hóa, công nghiệp hoá;
- Nhà nớc cần có chính sách cụ thể giải quyết các vấn đề xã hội
sinh do sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
3.2.2.2. Các biện pháp phát triển giáo dục, đào tạo và khắc phục
những yếu kém, hạn chế của hoạt động giáo dục, đào tạo
Những yếu kém, hạn chế của hoạt động giáo dục, đào tạo là một
trong những nguyên nhân sâu xa của tội MBPN ở Việt Nam. Vì vậy,
việc phát triển giáo dục, đào tạo, khắc phục những yếu kém, hạn chế của
hoạt động giáo dục đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa tội
MBPN. Tác giả đã phân tích rõ vai trò, cơ chế tác động và tác dụng của
việc phát triển giáo dục, đào tạo đối với việc phòng ngừa tội MBPN,
đồng thời đừa ra các biện pháp thúc đẩy việc phát triển giáo dục, đào tạo
qua đó phát huy tác dụng phòng ngừa tội MBPN ở Việt Nam. Cụ thể là:
- Phải tăng mức độ và đẩy nhanh việc phổ cập giáo dục lên cấp học
trung học cơ sở;
- Nâng cao chất lợng giáo dục ngay từ bậc tiểu học;
- Chú trọng giáo dục đạo đức, pháp luật - giáo dục công dân ngay từ
bậc tiểu học;
- Đẩy mạnh việc đào tạo nghề cho ngời lao động;
- Thực hiện tốt chính sách "u tiên đầu t phát triển giáo dục và
đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số";
- Tăng đầu t cho giáo dục, sử dụng hiệu quả các nguồn tài trợ và
sự đóng góp của xã hội
3.2.3. Các biện pháp phòng ngừa riêng đối với tội mua bán phụ nữ
3.2.3.1. Các biện pháp liên quan đến hoạt động tuyên truyền
trong cộng đồng về phòng, chống tội mua bán phụ nữ
Tác giả đã phân tích rõ vai trò, cơ chế tác động và tác dụng của hoạt
động tuyên truyền trong cộng đồng về phòng, chống tội MBPN ở Việt
Nam. Tác giả cũng phân tích các biện pháp với các yêu cầu cụ thể, cách
Tác giả luận án đã phân tích rõ vai trò, tầm quan trọng, tác dụng
của các biện pháp cụ thể trong việc nâng cao hiệu quả đấu tranh chống
tội MBPN qua đó góp phần phòng ngừa tội MBPN ở Việt Nam. Các
biện pháp cụ thể đợc đa ra là:
- Tích cực, chủ động phát hiện tội phạm, nhanh chóng điều tra và
xử lý nghiêm minh những hành vi phạm tội MBPN.
- Nhà nớc cần sớm ban hành Luật phòng, chống buôn bán ngời,
trong đó quy định cụ thể cơ chế phối hợp, trách nhiệm của cơ quan, tổ
chức và mọi công dân trong việc phòng, chống tội MBPN.
- Tăng cờng hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống tội MBPN.
KếT LUậN
1. Tội MBPN ở Việt Nam trong 10 năm gần đây đã diễn ra với mức
độ rất nghiêm trọng. Tỉ lệ của tội MBPN so với tội phạm nói chung và
các tội xâm phạm nhân thân, cũng nh hệ số tội phạm của tội MBPN so
với dân số luôn chiếm tỉ lệ khá cao (cả về số vụ phạm tội và số bị cáo).
Việc phân tích các đặc điểm về mức độ, hệ số của tội MBPN, nhất là phân
tích mức độ, hệ số của tội MBPN tại một số địa phơng là địa bàn trọng
điểm về tội phạm này càng cho chúng ta thấy rõ mức độ nghiêm trọng
(THTP về lợng) của tội MBPN ở Việt Nam trong những năm gần đây.
2. Việc phân tích các đặc điểm về cơ cấu của tội MBPN cho thấy
các đặc điểm có tính đặc thù của tội phạm này, đồng thời nó còn phản
ánh tính chất nguy hiểm của tội MBPN ở Việt Nam trong 10 năm gần đây.
Các đặc điểm của cơ cấu của tội MBPN về hình thức thực hiện tội phạm;
quy mô và thủ đoạn thực hiện của tội phạm; nhân thân ngời phạm tội;
động cơ và mục đích thực hiện tội phạm; các đặc điểm nạn nhân của tội
MBPN là những đặc điểm thể hiện rõ nét tính chất nguy hiểm (THTP về
chất) của tội MBPN ở Việt Nam. Thông qua các đặc điểm này, chúng ta
21 22
phòng ngừa tội phạm, dễ bị lừa dối và trở thành nạn nhân của tội MBPN.
7. Những yếu kém, hạn chế trong hoạt động quản lý của các cơ
quan có thẩm quyền trên một số lĩnh vực nh quản lý xã hội về an ninh,
trật tự, quản lý địa bàn dân c, hoạt động xuất nhập cảnh, xuất khẩu lao
động, kết hôn với ngời nớc ngoài, quản lý ngời phạm tội sau khi đã
chấp hành xong hình phạt cũng là yếu tố góp phần tạo thành các nguyên
nhân, điều kiện của tội MBPN ở Việt Nam. Những yếu kém, hạn chế trong
các hoạt động này tạo điều kiện cho ngời phạm tội dễ dàng thực hiện tội
MBPN. Khi hành vi phạm tội dễ dàng đợc thực hiện nhng lại không bị
phát hiện, xử lý thì điều này lại trở thành yếu tố khuyến khích, thúc đẩy
ngời phạm tội tiếp tục thực hiện tội phạm, thực hiện nhiều lần tội MBPN.
8. Những đặc điểm hạn chế của ngời phụ nữ (nạn nhân của tội
phạm) nh trình độ học vấn thấp, không có việc làm, thiếu việc làm,
kinh tế khó khăn, tâm lý nhẹ dạ cả tin cũng là những yếu tố góp phần
vào nguyên nhân, điều kiện của tội MBPN. Những đặc điểm hạn chế của
ngời phụ nữ làm cho họ dễ bị lợi dụng, lừa dối và trở thành nạn nhân
của tội MBPN, đồng thời là yếu tố khuyến khích, thúc đẩy hoặc tạo điều
kiện cho ngời phạm tội dễ dàng thực hiện tội MBPN.
9. Những yếu kém, hạn chế trong hoạt động đấu tranh chống tội
MBPN làm cho tội MBPN xảy ra nhng không bị phát hiện hoặc không
bị phát hiện, xử lý kịp, qua đó khuyến khích ngời phạm tội tiếp tục
thực hiện tội phạm, đồng thời tạo điều kiện cho ngời phạm tội có thể
thực hiện nhiều lần tội MBPN. Đó cũng chính là yếu tố góp phần tạo
thành nguyên nhân, điều kiện của tội MBPN ở Việt Nam.
10. Các yếu tố đã và đang góp phần tạo thành nguyên nhân, điều
kiện của tội MBPN ở Việt Nam hiện nay là những yếu tố đợc nảy sinh
trong các hoạt động xã hội hoặc đợc tạo thành từ sự tác động qua lại
lẫn nhau của các quá trình xã hội, các điều kiện xã hội và con ngời.
23 24
chậm phát triển cùng với những tác động của các yếu tố tiêu cực phát sinh
từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội và của hoạt động giáo dục, đào tạo
không chỉ là nguyên nhân, điều kiện của tội MBPN mà còn là nguyên nhân,
điều kiện của nhiều loại tội phạm khác nhau. Vì vậy, để phòng ngừa tội
phạm nói chung, tội MBPN nói riêng có hiệu quả, chúng ta cần phải tích
cực phát triển kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục, đào tạo và khắc phục
những yếu kém, hạn chế của các hoạt động này.
12. Các biện pháp đẩy mạnh việc tuyên truyền trong cộng đồng về
phòng, chống tội MBPN; tăng cờng hoạt động quản lý nhà nớc đối
với một số lĩnh vực; phòng ngừa tội mua bán phụ nữ đối với các nạn
nhân của tội phạm; nâng cao hiệu quả đấu tranh chống tội mua bán phụ
nữ ở Việt Nam là những biện pháp riêng, biện pháp có tính đặc thù đối
với việc phòng, chống tội MBPN ở Việt Nam. Các biện pháp này có tác
động trực tiếp đến các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội MBPN.
Vì vậy, thực hiện tốt các biện pháp này sẽ có tác dụng trực tiếp ngăn
chặn tội MBPN, làm mất đi các cơ hội, điều kiện để ngời phạm tội có
thể tiếp tục thực hiện tội phạm hay thực hiện nhiều lần tội MBPN.
Mỗi biện pháp trên đây tự nó đã có tác dụng trong việc phòng ngừa
tội MBPN. Tuy nhiên, các biện pháp này luôn có quan hệ chặt chẽ với
nhau, hỗ trợ lẫn nhau. Vì vậy, khi thực hiện không nên quá coi trọng
hoặc xem nhẹ một biện pháp nào mà phải thực hiện đồng bộ các biện
pháp. Các biện pháp trên đây nếu đợc thực hiện tốt sẽ góp phần phòng
ngừa có hiệu quả đối với tội MBPN ở Việt Nam hiện nay.