MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đấu tranh chống tội phạm nói chung, đặc biệt là các tội phạm về ma
tuý nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước và các ngành Công an, Bộ đội Biên
phòng và Hải quan quan tâm chỉ đạo nhằm hạn chế đến mức thấp nhất hậu
quả tác hại do các loại tội phạm này gây ra cho xã hội. Đây là một trong
những loại tội phạm hình sự nguy hiểm xâm phạm chế độ độc quyền quản lý
của Nhà nước ta về các chất ma tuý; xâm phạm trật tự an toàn xã hội; xâm
phạm sức khoẻ và sự phát triển giống nòi của dân tộc Những năm gần đây,
tội phạm về ma tuý nói chung, tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma tuý nói riêng đang có diễn biến phức tạp, xu hướng gia tăng cả về số vụ,
số lượng và đặc biệt là phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội. Đối tượng
tham gia hoạt động liều lĩnh, tinh vi xảo quyệt; đa số các vụ đều hình thành
các đường dây hoặc băng, ổ, nhóm; luôn thay đổi địa bàn hoạt động; khi bị
phát hiện và truy bắt chúng luôn tìm cách che dấu hành vi phạm tội của bản
thân và cho đồng bọn, gây khó khăn cho quá trình điều tra làm rõ của các lực
lượng chức năng. Đặc biệt đây là loại tội phạm sẽ gây những hậu quả rất lớn
về kinh tế - xã hội, an ninh trật tự, sức khỏe cộng đồng và lây nhiễm
HIV/AIDS, ảnh hưởng đến nhiều mặt trong đời sống xã hội.
Là một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức cao nhất của khung
hình phạt là tử hình. Vì vậy, những đối tượng hoạt động tội phạm này luôn ý
thức được tính nghiêm minh của pháp luật trong xử lý hành vi phạm tội, nên
quá trình hoạt động chúng luôn tìm mọi cách đối phó với các lực lượng chức
năng. Trong đó, thay đổi địa bàn hoạt động và lợi dụng những địa bàn phức
tạp để hoạt động là một trong những phương thức thủ đoạn phổ biến. Khi bị
lực lượng chức năng ngăn chặn mạnh mẽ và quyết liệt ở những địa bàn trọng
điểm, những thành phố, thị xã thì chúng lại chuyển ra hoạt động ở các vùng
1
sâu, vùng xa, vùng rừng núi Đặc biệt là các vùng biên giới giữa Việt Nam
và các nước khác trong khu vực, là những địa bàn giáp danh, đối tượng có
nhiều điều kiện để vận chuyển, mua bán, trao đổi và khi bị phát hiện chúng có
án tổng thể kiểm soát ma tuý qua biên giới đến năm 2010” đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 187/2005/QĐ-TTg ngày 22/7/2005.
Từ lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Đấu tranh phòng, chống tội phạm
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý của các lực lượng Công an, Bộ
đội Biên phòng và Hải quan trên tuyến biên giới Thanh Hoá - Hủa Phăn
(nước CHDCND Lào)”, để nghiên cứu và viết luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý đang là vấn đề nóng bỏng,
bức xúc trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Để góp phần nâng cao hiệu
quả của cuộc đấu tranh này, ở nước ta trong những năm gần đây đã có nhiều
công trình nghiên cứu khoa học, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ luật
học đi vào nghiên cứu công tác phát hiện, điều tra các tội phạm về ma tuý; áp
dụng pháp luật và thực hiện pháp luật về phòng, chống ma tuý như:
- “Phát hiện và điều tra tội phạm tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma tuý của lực lượng Cảnh sát nhân dân”(2000), Luận án Tiến sĩ
luật học của Trần Văn Luyện, Học viện Cảnh sát nhân dân.
- TS. Trần Văn Luyện - PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm (2001), Phát hiện
và điều tra các tội phạm về ma tuý”, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội;
- “Thực trạng và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công
tác điều tra khám phá các vụ án tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất
ma tuý trên địa bàn tỉnh Sơn La của lực lượng Cảnh sát nhân dân”(2003), Luận
văn Thạc sĩ Luật học của Nguyễn Văn Điền, Học viện Cảnh sát nhân dân;
- “Tổ chức phát hiện và điều tra khám phá tội phạm buôn bán, vận
chuyển chất ma tuý của lực lượng Cảnh sát Kinh tế - Công an thành phố Hồ
3
Chí Minh”(2003), Luận văn Thạc sĩ Luật học của Dương Văn Quang, Học
viện Cảnh sát nhân dân;
- “Thực trạng và một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
công tác điều tra những vụ án sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái
phép chất ma tuý của PC 16 - Công an thành phố Hồ Chí Minh”(2003), Luận
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ sau:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung và hình thức đấu tranh phòng,
chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phépc hất ma tuý trên tuyến biên giới;
- Làm rõ vai trò và sự phối hợp giữa các lực lượng Công an, Bộ đội
Biên phòng và Hải quan; các yếu tố đảm bảo đấu tranh phòng, chống tội
phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới.
- Đánh giá thực trạng tình hình tội phạm và đấu tranh phòng, chống tội
phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới Thanh
Hóa - Hủa Phăn hiện nay;
- Phân tích đánh giá kết quả, tồn tại hạn chế và nguyên nhân của sự
phối hợp giữa các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và Hải quan;
- Dự báo tình hình;
- Quan điểm đấu tranh phòng, chống tội phạm vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma tuý của các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và Hải
quan trên tuyến biên giới Thanh Hóa - Hủa Phăn;
- Đề xuất các giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa các lực lượng
Công an, Bộ đội Biên phòng và Hải quan trong đấu tranh phòng, chống tội
phạm vận chuyển, buôn bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới Thanh
Hóa - Hủa Phăn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự phối hợp giữa lực lượng Công
an, Bộ đội Biên phòng và Hải quan trong đấu tranh phòng, chống tội phạm
5
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới Thanh Hóa -
Hủa Phăn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về thực hiện quy chế phối hợp trong đấu tranh
phòng, chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý trên địa
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phần làm phong phú thêm lý luận pháp chế XHCN nói
chung và lý luận đấu tranh phòng, chống tội phạm ma tuý nói riêng.
- Luận văn dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng dạy, nghiên cứu về
đấu tranh phòng, chống tội phạm ma tuý nói chung và đấu tranh phòng, chống
tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới
Thanh Hóa - Hủa Phăn nói riêng.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được cấu trúc thành 3 chương, 9 tiết.
7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM
VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
TRÊN TUYẾN BIÊN GIỚI
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG, HÌNH THỨC ĐẤU TRANH
PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM VẬN CHUYỂN, MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA
TUÝ TRÊN TUYẾN BIÊN GIỚI
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm tội phạm
Tội phạm hình sự từ rất lâu đã trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội
loài người, là tâm điểm chú ý của mỗi quốc gia, mỗi khu vực đồng thời là vấn
đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Do vậy đấu tranh chống tội
phạm hình sự đã, đang và sẽ trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi
quốc gia.
Đối với Việt Nam ngay từ khi Cách mạng tháng Tám thành công
(8/1945) Đảng và Nhà nước ta đã coi cuộc đấu tranh chống tội phạm hình sự
là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH.
Chính vì vậy, việc nhận thức đúng đắn, đầy đủ bản chất của tội phạm hình sự
nói chung, những hành vi phạm tội cụ thể nói riêng, có ý nghĩa quan trọng
giúp cho quá trình áp dụng các biện pháp đấu tranh, phòng ngừa tội phạm
- Tội phạm, theo Luật Hình sự Việt Nam, phải là hành vi của con người.
Những gì mới là tư tưởng, chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì không thể
là tội phạm. Chỉ qua hành vi của mình, con người mới có thể gây ra thiệt hại, gây
ra sự nguy hiểm cho xã hội và những gì trong ý nghĩ, trong tư tưởng của con
người cũng chỉ có thể được xác định qua chính những biểu hiện bên ngoài mà
trước hết là qua chính hành vi của họ. Trong Luật Hình sự Việt Nam, sự xác
nhận tội phạm chỉ có thể là hành vi được coi là một trong những nguyên tắc cơ
bản. Đó là “nguyên tắc hành vi”. Như vậy, hành vi được coi là tội phạm được
9
phân biệt với hành vi không phải là tội phạm qua bốn dấu hiệu. Đó là: Tính nguy
hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính chịu hình phạt.
Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết
định những dấu hiệu khác của tội phạm. Hành vi nào đó sở dĩ bị quy định trong
luật hình sự là tội phạm và phải chịu TNHS vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội.
Nguy hiểm cho xã hội, về khách quan có nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây thiệt
hại đáng kể cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là những quan
hệ xã hội có tính tương đối quan trọng hoặc quan trọng và khi bị xâm hại có thể
gây ra những thiệt hại hoặc những ảnh hưởng đáng kể cho điều kiện tồn tại và
phát triển của chế độ XHCN. Những hành vi bị coi là tội phạm phải là những
hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội đã được luật xác định. Tính nguy
hiểm cho xã hội của tội phạm không những là căn cứ để phân biệt hành vi phạm
tội với những hành vi vi phạm khác mà còn là cơ sở để đánh giá mức độ nghiêm
trọng nhiều hay ít của hành vi phạm tội và qua đó giúp cho việc cá thể hóa
TNHS được chính xác.
Tính có lỗi được nêu trong định nghĩa về tội phạm là dấu hiệu độc lập với
tính nguy hiểm cho xã hội nhưng không phải để tách tính có lỗi ra khỏi tính nguy
hiểm cho xã hội mà để nhấn mạnh tính chất quan trọng của tính có lỗi. Lỗi là
thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình
và đối với hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý. Người bị
coi là có lỗi khi người đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi
1.1.2. Khái niệm phòng, chống tội phạm; đặc điểm đấu tranh
phòng, chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý trên
tuyến biên giới
- Khái niệm phòng, chống tội phạm: Trong xã hội, nếu thừa nhận tội
phạm là hiện tượng tiêu cực của xã hội thì cuộc đấu tranh chống tội phạm
được coi là một điều tất yếu khách quan không thể thiếu được của mọi chế độ
11
xã hội. Vấn đề ở chỗ, tại sao trong xã hội loài người lại tồn tại những hiện
tượng tiêu cực xã hội, đặc biệt là tội phạm; làm thế nào để loại trừ chúng ra
khỏi đời sống xã hội. Giải quyết vấn đề này liên quan đến nhiều biện pháp
khác nhau. Nhưng trước tiên, cần nhận thức được rằng, tội phạm là một hiện
tượng xã hội, được sinh ra và tồn tại bởi xã hội mà gải quyết vấn đề tội phạm
cũng phải mang tính xã hội.
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, tội phạm xuất hiện
khi xã hội phân chia thành giai cấp và hình thành nhà nước. Cho nên trong bất
kỳ nhà nước nào (tư bản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa) đều phải tiến hành
đấu tranh chống tội phạm. Nhà nước XHCN, nếu so sánh với nhà nước tư
bản, có nhiều tính ưu viết hơn, nhưng nhà nước XHCN, một mặt, vẫn đang
tồn tại với tư cách là một nhà nước đúng nghĩa của nó. Mặt khác, trong quá
trình xây dựng một nhà nước kiểu mẫu, tiên tiến nhất so với các kiểu nhà
nước trước đây, nhà nước XHCN cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót,
khuyết điểm, mà chính những yếu tố này, trong một chừng mực nhất định, là
nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tội phạm trong xã hội. Vì vậy, đấu tranh
phòng, chống tội phạm trong nhà nước XHCN nói chung, Nhà nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam nói riêng đang được coi là một nhiệm vụ quan trọng
của quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phòng, chống tội phạm có hai nội dung cơ bản:
Thứ nhất, phòng ngừa tội phạm là bằng mọi biện pháp ngăn chặn
không để cho tội phạm xảy ra; không để một thành viên của xã hội phải chịu
hình phạt của pháp luật; xã hội không phải gánh chịu hậu quả của tội phạm;
nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân trong hoạt
động phòng, chống tội phạm.
Như vậy, phòng, chống tội phạm là việc áp dụng các biện pháp đồng
bộ (biện pháp kinh tế, quản lý, tổ chức, pháp luật…) với sự tham gia của toàn
13
xã hội (cơ quan Nhà nước, tổ chức và công dân) vào việc ngăn ngừa không
để cho tội phạm xảy ra, cũng như phát hiện nhanh chóng, chính xác, xử lý
công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội phục vụ yêu cầu của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phòng, chống tội phạm về ma tuý là một bộ phận quan trọng trong cuộc
đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Đấu tranh
phòng, chống tội phạm về ma tuý là một bộ phận trong công tác phòng, chống
tội phạm nói chung. Mặc dù tội phạm ma tuý chỉ chiếm khoảng 10% trong
tổng số tội phạm các loại, nhưng do ma tuý và tội phạm ma tuý đã gây ra
nhiều hậu quả nặng nề cho xã hội cho nên đấu tranh phòng, chống tội phạm
về ma tuý có vai trò rất quan trọng và là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
của công tác bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
1.1.2.1. Đặc điểm pháp lý về tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma tuý trên tuyến biên giới
Để đấu tranh phòng, chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma tuý đạt kết quả đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu về đặc điểm pháp lý
của tội phạm này một cách cụ thể theo đúng quy định của pháp luật hình sự.
Ngoài các dấu hiệu đặc trưng về nhóm các tội phạm về ma tuý, tội phạm này
có các dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau:
- Khách thể của tội phạm:
Khách thể của tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma tuý
nói chung và mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma tuý trên các tuyến
biên giới nói riêng là vi phạm chính sách độc quyền quản lý và kiểm soát của
Nhà nước đối với các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; đó là mối
quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ.
nhằm bán trái phép cho người khác; vận chuyển chất ma tuý để bán trái phép
cho người khác; xin chất ma tuý nhằm bán trái phép cho người khác; dùng chất
15
ma tuý để trao đổi, thanh toán… trái phép; tàng trữ chất ma tuý nhằm bán trái
phép; dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao đổi, thanh hoán… lấy chất ma
tuý để bán lại trái phép cho người khác. Nếu người nào đó có hành vi chào bán
trái phép chất ma tuý, thảo thuận mua bán về giá cả, địa điểm, thời gian để tiến
hành việc mua bán nhưng chưa thực hiện được việc mua bán thì cấu thành tội
phạm này ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội. Cũng những hành bi mua, bán trái phép
chất ma tuý như trên nhưng trên các tuyến biên giới thì phải thể hiện sự mua bán
qua đường biên giới giữa Việt Nam với nước khác giáp biên giới hoặc việc mua
bán diễn ra ở khu vực biên giới được xác định theo địa giới hành chính.
Như vậy, mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi mua, bán trái
phép chất ma tuý trên tuyến biên giới có thể là công dân Việt Nam xuất cảnh
hợp pháp hay bất hợp pháp ra nước ngoài, mua trái phép chất ma tuý từ nước
ngoài, vận chuyển trái phép vào Việt Nam, nhằm mục đích bán cho người
khác hoặc công dân nước ngoài không có quốc tịch Việt Nam, vận chuyển trái
phép chất ma tuý từ nước ngoài vào Việt Nam để trao đổi, thanh toán hay bán
cho người khác hoặc cũng có thể dùng tài sản (không phải là tiền) đem trao
đổi, thanh toán lấy chất ma tuý từ nước ngoài vận chuyển trái phép vào Việt
Nam để bán cho người khác.
- Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý trực
tiếp. Người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý, thấy trước được hậu quả của hành vi
do mình gây ra và mong muốn cho hậu quả xảy ra.
- Chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có đủ
năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định.
1.1.2.2. Đặc điểm đấu tranh phòng, chống tội phạm vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới
- Đặc điểm về đối tượng đấu tranh: Tùy theo chức năng, nhiệm vụ của
17
Nhóm đối tượng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; nhóm đối tượng cơ hội,
lợi dụng điều kiện tự nhiên, nghề nghiệp hoặc vị trí công tác để hoạt động
phạm tội; nhóm đối tượng bị lôi kéo vào con đường phạm tội và nhóm những
người nhu Việt kiều, người nước ngoài đến Việt Nam du lịch, đầu tư, tìm đối
tác liên doanh lợi dụng để mua bán ma tuý trái phép hoặc vận chuyển thuê
cho bọn buôn bán ma tuý chuyên nghiệp để lấy tiền. Trong các nhóm đối
tượng nêu trên thì nhóm đối tượng vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý
có tính chất chuyên nghiệp là loại đối tượng nguy hiểm nhất, để giảm cung về
ma tuý đòi hỏi các lực lượng có chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm
về ma tuý cần tập trung đánh mạnh vào loại đối tượng này.
- Tuyến và địa bàn trọng điểm: Một trong những đặc điểm của tội phạm
về ma tuý là thường hoạt động theo những tuyến nhất định. Do đó, trong quá
trình đấu tranh đòi hỏi các lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và Hải
quan phải xác định được tuyến hoạt động của chúng, đặc biệt là xác định
được tuyến trọng điểm. Tuyến hoạt động của tội phạm về ma tuý được xác
định là hướng vận động chính của các đối tượng phạm tội, là đường giao dịch,
chuyên chở các chất ma tuý trái phép và cũng là hướng đối tượng thường xây
dựng cơ sở liên lạc, những điểm sinh hoạt, thanh toán, cất giấu các chất ma
tuý hoặc phương tiện, dụng cụ liên quan đến hoạt động phạm tội. Tuyến được
hình thành trên cơ sở mạng lưới giao thông kết hợp với nguồn ma tuý trái
phép kết nối với các sân bay, bến cảng, cửa khẩu. Tuyến hoạt động của tội
phạm ma tuý trong nước thường chịu ảnh hưởng của hoạt động tội phạm ma
tuý quốc tế.
Đồng thời với việc xác định tuyến trọng điểm là việc xác định địa bàn
trọng điểm về hoạt động của tội phạm ma tuý. Địa bàn trọng điểm là nơi tập
trung các đầu mối hoạt động, tập trung các đối tượng hoạt động phạm tội, là
nơi đối tượng thường tập kết các chất ma tuý, tiền chất, phương tiện, công cụ
dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép các chất ma tuý và các hoạt
18
Nhật Bản, Mỹ, Canada).
Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý nói chung và tội
phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý nói riêng, yêu cầu của các
lực lượng có chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma tuý, tùy theo
địa bàn công tác và sự phân cấp quản lý, dựa trên các tài liệu thông tin nghiệp
vụ, diễn biến của tình hình tội phạm về ma tuý để xác định địa bàn trọng
điểm. Trên cơ sở đó để triển khai các biện pháp nghiệp vụ tập trung lực
lượng, phương tiện, biện pháp để chủ động đấug tranh phòng, chống tội phạm
về ma tuý nhưng đồng thời cần phát hiện ra các địa bàn tuyến trọng điểm mới
nhằm chủ động đưa ra các biện pháp đấu tranh kịp thời không để dẫn đến
phức tạp.
Nhà nước độc quyền và thống nhất quản lý chất ma tuý là loại chất gây
nghiện nguy hiểm với những quy định rất nghiêm ngặt. Vi phạm các quy định
về chế độ quản lý các chất ma tuý không chỉ gây khó khăn cho việc kiểm soát
chất ma tuý của Nhà nước mà còn góp phần tạo ra một lớp người nghiện, qua
đó đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát
triển lành mạnh của nòi giống cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời
sống xã hội. Do tác hại lâu dài và nhiều mặt của các vi phạm các quy định về
chế độ quản lý chất ma tuý như vậy nên mọi hành vi vi phạm, ở bất kỳ khâu
nào của quá trình quản lý chất ma tuý đều bị quy định là tội phạm. Từ quy
định của Chương XVII Bộ luật Hình sự có thể định nghĩa: Tội phạm về ma
tuý là hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma tuý của Nhà nước.
Với cách tiếp cận như vậy, có thể hiểu tội phạm vận chuyển, mua bán
trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới như sau: Tội phạm vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới là những hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có đủ năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm đến chính sách
20
độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý và luôn lấy biên giới
làm nơi tập kết, tổ chức lực lượng, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý
trái phép các chất ma tuý qua biên giới ở các điều luật này. Tại Kỳ họp thứ
6 (từ ngày 18/11 đến 21/12/1999) Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt
Nam đã thông qua Bộ luật Hình sự năm 1999 và có hiệu lực từ ngày
01/07/2000. Theo đó, các tội phạm về ma tuý được quy định tại Chương
XVIII phần các tội phạm. Riêng tội phạm mua bán, vận chuyển trái phép
các chất ma tuý được quy định tại Điều 194, trong đó có xác định hành vi
mua bán, vận chuyển qua biên giới là một trong những hành vi cấu thành
tội phạm.
Theo điều luật trên, tội phạm hoàn thành khi thực hiện một trong bốn
hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt trái phép các chất ma tuý.
Hành vi vận chuyển và mua bán trái phép các chất ma tuý qua biên giới
được quy định trong điều luật là tình tiết định khung tăng nặng. Cả hai hành
vi đó đều xâm phạm đến chế độ quản lý và kiểm soát của Nhà nước đối với
các chất ma tuý. Do đó, để thực hiện tốt công tác đấu tranh đối với loại tội
phạm này, cần phân biệt rõ hành vi vận chuyển trái phép các chất ma tuý qua
biên giới, và hành vi mua bán trái phép các chất ma tuý qua biên giới. Ngoài
ra, phải nắm được các đặc điểm pháp lý của tội này để có điều kiện xem xét
đối với từng trường hợp cụ thể cho đúng quy định của pháp luật phục vụ công
tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi.
1.1.3. Nội dung đấu tranh phòng, chống tội phạm vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma tuý trên tuyến biên giới
Sau khi tiến hành các biện pháp phát hiện tội phạm, hoạt động đấu
tranh khám phá tội phạm cũng là một nhiệm vụ quan trọng, cơ bản để phát
hiện tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội phục vụ cho việc đưa ra
truy tố trước pháp luật được đúng đắn, chính xác, khách quan.
22
Hoạt động đấu tranh chống tội phạm là hoạt động của những cơ quan
điều tra và những cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra theo quy định của pháp luật; được tiến hành theo trình tự, thủ
tục tố tụng hình sự nhằm chứng minh sự thật của vụ án, làm rõ tội phạm và
vị thuộc lực lượng Công an thực hiện (CSĐT tội phạm về ma tuý) quy định
tại Chỉ thị số 13/2004/CT-BCA và Thông tư số 12/2004/TT-BCA của Bộ
Công an. Riêng đối với lực lượng Hải quan, tổ chức các hoạt động điều tra
phải tuân thủ quy định tại Nghị định số 107/2002/NĐ-CP ngày 23/12/2002
của Chính phủ quy định phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; quan hệ phối
hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên
giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan; Quyết định số
65/2004/QĐ-TTg ngày 19/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy
chế hoạt động của lực lượng Hải quan chuyên trách phòng, chống buôn lậu,
vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; Thông tư số 102/2005/TT-BTC
ngày 21/11/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Quy chế hoạt động
của lực lượng Hải quan chuyên trách phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái
phép hàng hóa qua biên giới ban hành kèm theo Quyết định số 65/2004/QĐ-
TTg ngày 19/4/2004 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 1882/QĐ-
TCHQ ngày 29/11/2005 của Tổng cục Hải quan về việc ban hành quy định về
các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan.
Như vậy, hoạt động điều tra được tổ chức tiến hành từ khi khởi tố vụ
án, khởi tố bị can, hỏi cung, khám xét đến khi kết thúc điều tra, hoàn chỉnh
hồ sơ chuyển Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền để truy tố bị can trước
pháp luật theo đúng quy định và tội danh đã được làm rõ trong quá trình điều tra.
Đấu tranh chống tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý
trên tuyến biên giới do có những đặc thù riêng về đối tượng, địa bàn cũng như
chiến thuật, phương pháp điều tra… Do đó, trong đấu tranh chống tội phạm
24
này các lực lượng đấu tranh chống tội phạm về ma tuý ngoài việc thực hiện
các biện pháp điều tra theo tố tụng thì các biện pháp nghiệp vụ trinh sát được
tiến hành để hỗ trợ các biện pháp điều tra tố tụng luôn được khai thác sử dụng
và có ý nghĩa quan trọng nhằm khám phá toàn bộ vụ án. Các hoạt động điều
tra mang tính đặc trưng trong điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma tuý trên tuyến biên giới được tiến hành bao gồm: