Hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý - Pdf 12


1
Bộ GIáO DụC & ĐO TạO Bộ công an
Học viện cảnh sát nhân dân Vũ anh sơn
hỏi cung bị can
trong điều tra tội phạm
vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma tuý CHUYÊN NGNH: Tội phạm học v điều tra tội phạm
Mã số: 60 38 70 01 LUậN áN TIếN Sĩ LUậT HọC H Nội - 2009

2
Mở đầu
1. Tính cấp thiết

hỏi cung bị can có vai trò rất quan trọng. Thông qua hỏi cung, cán bộ điều tra
có khả năng làm rõ những thành viên khác của tổ chức tội phạm để kịp thời
truy bắt, phát hiện nơi cất giấu chất ma tuý cùng các công cụ, phơng tiện
phạm tội để thu giữ, làm rõ cơ cấu tổ chức của đờng dây, tổ chức tội phạm.
Trong những năm qua, công tác hỏi cung bị can phạm tội này đã đạt đợc
nhiều kết quả, góp phần thiết thực vào việc làm rõ và triệt phá đợc nhiều
đờng dây, tổ chức tội phạm về ma tuý lớn.
Tuy nhiên, trong quá trình hỏi cung bị can các vụ án VCMBTPCMT
thờng gặp nhiều khó khăn, đó là, nếu bị bắt quả tang, bị can thờng khai
báo nhỏ giọt, che giấu hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra biết đến đâu, bị
can khai nhận đến đấy. Bị can thờng chỉ khai nhận mình là ngời lần đầu
tiên phạm tội, vì ham lợi nhuận mà phạm tội, bị can không khai mua ma tuý
của ai và bán ma tuý cho ai vì trong t tởng, họ luôn nghĩ rằng cần che dấu
cho những ngời đó, nhất là ngời đó lại là ngời thân hoặc là ân nhân của bị
can. Mặt khác, họ thờng nghĩ sau này sẽ tiếp tục liên kết để phạm tội. Do
đó, nhiều vụ án chúng ta không mở rộng hết đợc, không làm rõ đầy đủ hành
vi phạm tội của bị can. Việc sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để hỗ trợ cho
hỏi cung cha đạt hiệu quả cao vì còn nhiều khó khăn, phức tạp và bất cập.
Đối với những vụ án VCMBTPCMT mà chúng ta thiết lập chuyên án
trớc khi phá án, khi hỏi cung cũng còn gặp nhiều khó khăn. Thông thờng,
đây là những vụ án VCMBTPCMT rất phức tạp. Công tác đấu tranh chuyên
án trinh sát dù tốt cũng chỉ phát hiện đợc những mắt xích quan trọng, còn
những đối tợng khác và nhiều vấn đề khác, cần phải thông qua công tác hỏi
cung bị can mới làm rõ. Có trờng hợp, bị can tuy khai báo thành khẩn, cộng
tác tốt với Cơ quan điều tra nh
ng bị can không hiểu biết nhiều về các bị can
khác trong vụ án mà họ tham gia nên khai báo không rõ ràng. Việc khai thác
những hiểu biết của bị can để làm rõ vụ án gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi Điều

4

Từ những vấn đề nói trên, việc chọn đề tài: "Hỏi cung bị can trong
điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý, làm luận án
tiến sĩ là cần thiết và mang tính cấp thiết.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát đánh
giá thực tiễn, đa ra đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm góp phần bổ sung,
hoàn thiện lý luận về hỏi cung bị can và nâng cao hiệu quả thực tiễn hỏi cung
bị can trong điều tra tội phạm VCMBTPCMT trong tình hình hiện nay.
- Nhiệm vụ: Để đạt đợc mục đích trên, trong luận án cần giải quyết
những nhiệm vụ cơ bản sau đây:
+ Nghiên cứu các văn bản pháp luật, tài liệu lý luận có liên quan và tài
liệu, kinh nghiệm trong thực tiễn hoạt động hỏi cung bị can phạm tội
VCMBTPCMT.
+ Khảo sát, đánh giá thực trạng hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm
VCMBTPCMT trên các phơng diện: những kết quả đạt đợc, những thiếu
sót, tồn tại, vớng mắc, nguyên nhân.
+ Đa ra hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả hỏi cung bị can trong
điều tra tội phạm VCMBTPCMT.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tợng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt
động hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm VCMBTPCMT.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Trong quá trình nghiên cứu, luận án tập trung làm rõ những vấn đề
lý luận về chiến thuật hỏi cung bị can và thực tiễn hỏi cung bị can là ngời
Việt Nam trong điều tra tội phạm VCMBTPCMT; đánh giá những kết quả đạt
đợc, những khó khăn, vớng mắc và nguyên nhân của nó trong hỏi cung bị
can và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

6
+ Luận án đi sâu khảo sát thực tiễn vận dụng chiến thuật hỏi cung bị

7. Kết cấu luận án
Luận án ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chơng, 11 tiết. Nội dung cơ bản của luận án
Chơng 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận
án
(Từ trang 12 đến trang 42)
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nớc ngoài
Tội phạm VCMBTPCMT trong tình hình hiện nay, xuất hiện ở hầu
khắp các nớc trên thế giới và có tính chất quốc tế. Tính chất nguy hiểm của
loại tội phạm này quốc gia nào cũng thấy rõ, do đó việc nghiên cứu và đấu
tranh với nó đợc quan tâm. Hiện nay có sự giao lu, giúp đỡ lẫn nhau giữa
các nớc trên phơng diện lý luận và kinh nghiệm đấu tranh với tội phạm về
ma tuý. Các nớc có nhiều công trình khoa học, tài liệu giảng dạy công tác
phòng ngừa và điều tra tội phạm VCMBTPCMT, trong đó có đề cập công tác
hỏi cung bị can nhng cha có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về hỏi
cung bị can VCMBTPCMT.
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nớc
Tội phạm về ma tuý trong nớc những năm qua có chiều hớng gia
tăng, cha có dấu hiệu giảm tích cực. Trong những năm qua, có rất nhiều
cuộc hội thảo, hội nghị khoa học cấp Nhà nớc, nhiều công trình khoa học
của các nhà khoa học nghiên cứu về tội phạm này; nhiều tài liệu chuyên khảo,
nhiều giáo trình điều tra tội phạm về ma tuý. Ngoài ra còn có sách chuyên
khảo, tài liệu tham khảo của các lĩnh vực khoa học liên quan đến hoạt động
hỏi cung bị can, nhất là các tài liệu về lĩnh vực tâm lý. Tuy nhiên, cho đến

8

9

Chơng 2
Những vấn đề lý luận về hỏi cung bị can trong
điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma tuý
(Từ trang 43 đến trang 79)
2.1. Nhận thức chung về tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép
chất ma tuý
2.1.1. Khái niệm về chất ma tuý
Ma túy có những dấu hiệu căn bản là:
- Là những chất có nguồn gốc từ một số cây trong tự nhiên hoặc đợc
con ngời chế xuất bằng các phơng pháp khoa học;
- Khi đợc đa vào cơ thể con ngời thì gây kích thích, an thần, ức chế
thần kinh hoặc gây ảo giác, sử dụng nhiều lần sẽ mắc nghiện, bị lệ thuộc vào
nó, gây nguy hại cho sức khoẻ;
- Đợc pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia quy định trong những
danh mục cụ thể.
2.1.2 Tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý trong Bộ
luật hình sự Việt Nam năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1999 nớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
đợc Quốc hội thông qua ngày 21 12 1999, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7
năm 2000, trong đó quy định tội phạm về ma tuý tại chơng XVIII gồm 10
điều, từ Điều 192 đến Điều 201. Trong đó, Điều 194. Tội tàng trữ, vận
chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý. Nh vậy, Điều 194
quy định 4 hành vi độc lập nằm trong một tội danh, ngời nào vi phạm 1
trong 4 hành vi nói trên thì đều phạm tội theo Điều 194 BLHS. Quy định này
dễ làm cho ngời vi phạm nhầm tởng mức độ nghiêm trọng đối với hành vi
của họ bị tăng lên.


11
sự lãnh đạo, chỉ đạo để công tác hỏi cung bị can VCMBTPCMT đạt đợc hiệu
quả cao.
2.3. Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý là chủ thể trực tiếp, nòng
cốt tiến hành hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm vận chuyển, mua
bán trái phép chất ma tuý của lực lợng Cảnh sát nhân dân
Mục này đề cập vị trí, chức năng, nhiệm vụ của lực lợng Cảnh sát điều
tra tội phạm về ma tuý; quan hệ phối hợp để hỏi cung bị can trong điều tra tội
phạm VCMBTPCMT. Luận án khẳng định, trong lực lợng Cảnh sát nhân
dân thì Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý là chủ thể trực tiếp, nòng cốt
thực hiện hỏi cung bị can VCMBTPCMT. Vấn đề này đợc quy định trong
quyết định số 191 ngày 2/3/2005 của Bộ trởng Bộ Công an; quyết định
số1165, quyết định số 1473 ngày 1/4/2005 của Tổng cục trởng Tổng cục
Xây dựng lực lợng Công an nhân dân. Hỏi cung bị can đợc quy định trong
nhiệm vụ tiến hành điều tra các vụ án về ma tuý của lực lợng Cảnh sát điều
tra tội phạm về ma tuý các cấp từ trung ơng đến cấp huyện.
Về quan hệ phối hợp để hỗ trợ hoạt động hỏi cung bị can, luận án đề
cập chủ yếu đến mối quan hệ với lực lợng trinh sát và các lực lợng nghiệp
vụ khác. Sự phối hợp là cần thiết và tất yếu để giúp công tác điều tra nói
chung, công tác hỏi cung bị can VCMBTPCMT nói riêng đạt hiệu quả tốt.
Tóm lại, chơng 2 của luận án đề cập những vấn đề có tính lý luận đối
với công tác hỏi cung bị can VCMBTPCMT, trọng tâm là vấn đề chiến thuật
hỏi cung bị can. Đây là những nội dung về lý luận vận dụng trong thực tiễn
hỏi cung bị can VCMBTPCMT và là những căn cứ để giải quyết các nội dung
nghiên cứu trong các chơng tiếp theo của luận án.
Chơng 3
Thực trạng hỏi cung bị can trong điều tra tội
phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý
(Từ trang 79 đến trang 131)



13
thành phố có tính trọng điểm về ma tuý, lập thành bảng thống kê, có tổng số
1816 bị can của 300 vụ án VCMBTPCMT do các địa phơng nói trên điều
tra, kết quả nh sau:
- Bị can nữ chiếm tỷ lệ thấp hơn nam rất nhiều (nữ 18,17%, nam
81,8%) nhng cũng có nhiều bị can nữ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Tại
thành phố Hồ Chí Minh, trong mấy năm qua, phát hiện 6 vụ VCMBTPCMT
do nữ cầm đầu, có vụ toàn nữ. Điều này cho ta thấy rõ thêm tính phức tạp và
sức hút của loại tội phạm này.
- Bị can ở độ tuổi dới 18, chiếm tỷ lệ thấp ( 3,19%), hầu hết các em bị
lợi dụng, bị ngời lớn điều khiển. Tuy nhiên, cũng có em biết rõ hành vi
phạm tội nhng vì sa ngã nên vẫn tham gia. Đặc biệt, có em chủ động tổ chức
mua bán ma tuý.
- Bị can có độ tuổi từ 18 đến 30, chiếm tỷ lệ không cao (10,46%). Lứa
tuổi này đang giai đoạn trởng thành, cha có nhiều kinh nghiệm trong cuộc
sống cũng nh kinh nghiệm chống lại việc điều tra. Những bị can này thờng
thiếu sự hiểu biết nhng lại hay liều lĩnh vì đua đòi, vì muốn nhanh chóng
giàu có.
- Bị can VCMBTPCMT có độ tuổi trên 30, chiếm tỷ lệ cao nhất (
86,34%. Những bị can này có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, họ có kinh
nghiệm trốn tránh và chống lại việc điều tra, làm cho việc điều tra gặp nhiều
khó khăn.
- Bị can có trình độ văn hoá thấp (từ tiểu học trở xuống), chiếm tỷ lệ
phạm tội cao (42,12%), có nhiều trờng hợp vì thế mà mù quáng.
- Bị can không nghề nghiệp, làm nghề tự do (82,97%) chiếm tỷ lệ
nhiều hơn bị can có nghề nghiệp ổn định (17,03%). Đây là những ngời có
thu nhập thấp hoặc thu nhập không ổn định cho nên rất dễ bị lôi kéo vào con
đờng phạm tội.
- Bị can có tiền án, tiền sự về ma tuý tái phạm, chiếm tỷ lệ cao hơn so

trong đó thiếu 1650 Điều tra viên. Hiện tại lực lợng CSĐTTPVMT các cấp
có 2 bộ phận, một phận làm công tác trinh sát và một bộ phận làm công tác

15
điều tra. Về trình độ chuyên môn đợc đào tạo, ở Cục 80% đại học trở lên, ở
tỉnh 70% đại học, ở huyện 60% đại học.
3.2.2. Thực tiễn hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm vận chuyển,
mua bán trái phép chất ma tuý
3.2.2.1. Công tác chuẩn bị hỏi cung bị can
Trớc khi tiến hành hỏi cung bị can, các Điều tra viên đều thực hiện
việc nghiên cứu về vụ án và nghiên cứu về bị can. Sau đó là việc xây dựng kế
họach cho cuộc hỏi cung, cho toàn bộ quá trình hỏi cung đối với từng bị can.
Việc chuẩn bị phơng tiện cần thiết cho cuộc hỏi cung nh sau: Có 22%
số buổi hỏi cung bị can có chuẩn bị phơng tiện ghi âm hoặc ghi hình, 45 %
có chuẩn bị phòng hỏi cung. Hiện tại cha có phòng hỏi cung có sẵn đầy đủ
phơng tiện cần thiết phục vụ cuộc hỏi cung (phòng hỏi cung quy chuẩn).
Các Điều tra viên đã luôn có sự chuẩn bị t thế, tác phong tốt cho cuộc
hỏi cung đó là, t thế đàng hoàng, đĩnh đạc, bình tĩnh, tự tin. Kết quả khảo sát
120 Điều tra viên của một số đơn vị điều tra cho thấy: có 92% Điều tra viên
chuẩn bị tốt t thế, tác phong trớc khi hỏi cung bị can.
3.2.2.2. Tiến hành hỏi cung bị can
Khái quát thực tiễn tiến hành hỏi cung bị can VCMBTPCMT diễn ra
nh sau:
- Khai thác đặc điểm nhân thân và những vấn đề liên quan để hỏi cung
bị can trong điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý.
- Tác động tâm lý để hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm vận
chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý
- Sử dụng chứng cứ trong hỏi cung bị can vận chuyển, mua bán trái
phép chất ma tuý
- Lập biên bản hỏi cung bị can vận chuyển, mua bán trái phép chất ma

Các Điều tra viên đều nắm vững chiến thuật hỏi cung và vận dụng tốt
trong thực tiễn, đã đạt đợc những kết quả to lớn trong công tác phòng ngừa
và đấu tranh với bị can phạm tội mua bán, vận chuyển trái phép chất ma tuý
nói chung, công tác hỏi cung bị can nói riêng. Công tác chuẩn bị để hỏi cung

17
rất chu đáo, thể hiện năng lực có thật của Điều tra viên. Quá trình tiến hành
hỏi cung bị can, Điều tra viên luôn thể hiện bản lĩnh và năng lực vững vàng,
làm chủ đợc các tình huống. Chiến thuật hỏi cung đợc các Điều tra viên
xây dựng và sử dụng trong các tình huống cụ thể rất khéo léo, linh hoạt.
Chiến thuật tác động tâm lý kết hợp sử dụng chứng cứ cùng với việc khai thác
đặc điểm hình sự, đặc điểm nhân thân bị can để hỏi cung bị can đã đợc các
Điều tra viên phát huy tác dụng tốt.
Công tác lãnh đạo chỉ đạo hoạt động hỏi cung bị can trong điều tra tội
phạm VCMBTPCMT đợc quan tâm sâu sát ở các đơn vị điều tra của các cấp.
3.2.5.2. Nhợc điểm
Tác giả luận án nêu lên một số thiếu sót, nhợc điểm của Điều tra viên
trong công tác chuẩn bị, trong hỏi cung bị can, trong đó có cả sự thiếu quyết
tâm khắc phục khó khăn, sự chủ quan và cẩu thả trong công việc. Về công tác
lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm
VCMBTPCMT, có nơi, có lúc sự quan tâm của lãnh đạo cha thực sự đầy đủ
đến điều kiện làm việc, tinh thần thái độ, trách nhiệm của Điều tra viên. Điều
tra viên sa ngã, một phần vì thiếu sự kiểm soát và giám sát của lãnh đạo. Khi
Điều tra viên có biểu hiện nảy sinh vấn đề t tởng hoặc biểu hiện bất thờng
nhng lãnh đạo còn e dè, nể nang, không chấn chỉnh kịp thời và kiên quyết.
Một số trờng hợp, lãnh đạo còn chủ quan thể hiện ở việc giao toàn quyền
cho Điều tra viên trong những vụ việc ít nghiêm trọng, dẫn tới Điều tra viên
chủ quan, cẩu thả, chất lợng hỏi cung bị can không cao. Một số đồng chí
lãnh đạo khi mới chuyển từ đơn vị khác sang đơn vị điều tra tội phạm về ma
tuý, do cha quen việc, cha nắm chắc tình hình, dễ dẫn tới những thiếu sót

rõ các vụ án VCMBTPCMT, triệt phá nhiều băng nhóm, đờng dây
VCMBTPCMT có nhiều bị can tham gia, có liên quan đến nhiều địa phơng.
Qua thực trạng cũng chỉ ra những thiếu sót, tồn tại chủ quan và khách quan,
ảnh hởng không tốt đến hỏi cung bị can. Từ đó, đánh giá khái quát những
u
điểm, nhợc điểm và rút ra nguyên nhân của hỏi cung bị can VCMBTPCMT. 19
Chơng 4
Dự báo v giải pháp nâng cao hiệu quả hỏi cung bị
can trong điều tra
tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý

4.1. Dự báo
4.1.1. Cơ sở dự báo
Tình hình trong nớc, từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế
thị trờng, định hớng xã hội chủ nghĩa, mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế, tệ
nạn ma tuý không giảm mà lại có chiều hớng gia tăng. Cơ chế thị trờng
kéo theo tình trạng thiếu việc làm, việc làm không ổn định hoặc thất nghiệp
cho một bộ phận ngời lao động, đã đa đẩy họ vào tệ nạn ma tuý và tội
phạm về ma tuý. Sự hình thành các khu vực kinh tế trọng điểm, tập trung dân
c dẫn tới phát triển các loại hình sinh hoạt tập trung nh nhà hàng, vũ
trờng, câu lạc bộ các loại, sàn diễn các loại hình văn hoá v.v đây là điều
kiện tác động sử dụng ma tuý, nhất là thuốc lắc. Ngời sử dụng ma tuý là
nguyên nhân, là thị trờng cho tội phạm VCMBTPCMT.
4.1.2. Nội dung dự báo
Trong những năm tới, Việt Nam vẫn sẽ là một địa bàn tiêu thụ và trung
chuyển ma tuý của bọn tội phạm. Tội phạm VCMBTPCMT trong những năm
tới có thể sẽ manh động hơn, liều lĩnh hơn, tinh vi, xảo quyệt hơn. Trớc xu

phơng tiện quy chuẩn cho Điều tra viên, cho công tác điều tra và hỏi cung bị
can; chế độ đãi ngộ, bảo hiểm hợp lý cho Điều tra viên.
4.2.4. Giải pháp đối với một số biện pháp hỗ trợ hỏi cung bị can
trong điều tra tội phạm vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý
Luận án đề cập quy định cụ thể đối với những biện pháp liên quan đến
hỏi cung bị can vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý để thuận lợi cho
hỏi cung bị can, đó là biện pháp trng cầu giám định và giám định chuyên

21
môn, biện pháp đặc tình trại tạm giam phục vụ hỏi cung và các biện pháp
trinh sát khác
4.2.5. Giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật
Bị can VCMBTPCMT hay lật lọng, phản cung, để khắc phục tình
trạng này, cần bổ sung nội dung Điều 132 BLTTHS nh sau: Cơ quan điều tra
cần bố trí 2 Điều tra viên thực hiện việc hỏi cung bị can. Trong cuộc hỏi cung
bị can, có đủ các thành phần nh quy định thì việc sử dụng phơng tiện ghi
âm, ghi hình, niêm phong đúng quy định, có giá trị nh biên bản hỏi cung.
Đề nghị tách Điều 194 BLHS thành 4 tội danh độc lập; không quy định
hình phạt tử hình đối với các tội phạm này. Bị can VCMBTPCMT có hành vi
phạm tội tơng ứng khung hình phạt tử hình, thì bị tác động rất lớn, rất khó
thuyết phục bị can khai báo để nhận sự khoan hồng của Nhà nớc.
Giải pháp về một số thẩm quyền của Cơ quan điều tra liên quan đến
hoạt động hỏi cung bị can.
4.3. Đánh giá các giải pháp
4.3.1. ý nghĩa thực tiễn của các giải pháp
Về lý luận, các giải pháp mà luận án đề cập đó là sự kết hợp trong
chiến thuật hỏi cung bị can những vấn đề liên quan đến hỏi cung bị can nh,
tâm lý bị can, đặc điểm nhân thân bị can, tâm lý hỏi cung bị can trong các
tình huống, về chứng cứ. Những giải pháp đó làm phong phú hơn, cụ thể hơn
về lý luận hỏi cung bị can trong điều tra tội phạm VCMBTPCMT và vận dụng

tra viên khi hỏi cung bị can, cần đợc trang bị kiến thức qua đào tạo cơ bản
và những kiến thức của các ngành, các lĩnh vực liên quan. Hỏi cung bị can là
vấn đề phức tạp về diễn biến tâm lý của cả Điều tra viên và bị can. Để hỏi
cung đợc tốt, Điều tra viên phải có sự chuẩn bị chu đáo, có hiểu biết chắc
chắn về vụ án, nắm vững chứng cứ để sử dụng khi hỏi cung. Trong hỏi cung,
Điều tra viên phải nắm đợc diễn biến tâm lý của bị can để tác động và chủ
động điều chỉnh đợc trạng thái tâm lý của mình mới có đợc kết quả hỏi
cung tốt. Trong hỏi cung, Điều tra viên phải có sự tập trung t tởng cao độ,
chủ động và linh hoạt để xử lý các tình huống. Phải coi đây là cuộc đấu

23
tranh, đấu trí, đấu lý quyết liệt mà Điều tra viên phải luôn chủ động. Tuy
nhiên, Điều tra viên phải luôn thể hiện tính nhân văn cao đẹp của ngời chiến
sĩ Công an nhân dân, bằng cách thực sự quan tâm đến bị can, thực sự mong
muốn những điều tốt đẹp cho bị can. Có nh vậy, mới có đợc sự hợp tác của
bị can, mới có đợc kết quả cao trong hỏi cung bị can.
2. Luận án cũng chỉ rõ rằng, chiến thuật trong giai đoạn tiến hành hỏi
cung bị can phải xuất phát từ đặc điểm nhân thân, đặc điểm tâm lý bị can
VCMBTPCMT kết hợp sử dụng chứng cứ linh hoạt trong các tình huống cụ
thể thì mới đạt hiệu quả cao. Đặc biệt chú ý tính cắt đoạn và trờng diễn
của tội phạm về ma tuý, chính đặc điểm này đã gây rất nhiều khó khăn cho
biện pháp công tác hỏi cung bị can, dù rằng bị can có ý thức cộng tác với Cơ
quan điều tra. Tính chất khó khăn của công tác hỏi cung bị can còn bắt
nguồn từ thủ đoạn của bị can VCMBTPCMT, đó là bí mật và đơn tuyến.
Từ những vấn đề thực tiễn nói trên, luận án chỉ ra cho thấy biện pháp công
tác hỏi cung bị can cần phải kiên trì, khắc phục những khó khăn để từ đó có
đợc kết quả tốt trong hỏi cung.
3. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, công trình khoa học trên thế giới
và trong nớc về những vấn đề liên quan đến luận án và nghiên cứu, khảo sát,
tổng kết kinh nghiệm công tác hỏi cung bị can VCMBTPCMT trong thực

tiếp đấu tranh với tội phạm về ma tuý, đợc đánh giá khả thi.
5. Kết quả nghiên cứu của luận án đã có những đóng góp tích cực để
góp phần làm phong phú và hoàn thiện lý luận về điều tra hình sự, cụ thể là
chiến thuật hỏi cung bị can VCMBTPCMT. Kết quả này còn có thể dùng làm
tài liệu nghiên cứu, giảng dạy trong các trờng Công an. Những giải pháp về
chiến thuật mà luận án nêu xuất, có thể triển khai tại các đơn vị điều tra tội
phạm về ma tuý của lực lợng Cảnh sát nhân dân để góp phần nâng cao hiệu
quả công tác hỏi cung bị can VCMBTPCMT./.

25
danh mục công trình khoa học của tác giả đ
công bố liên quan đến luận án

1. Vũ Anh Sơn (1994), Nghiên cứu thực tế điều tra các vụ án của Công an
quận Tân Bình, rút ra cách hỏi đối tợng nghi vấn", đề tài khoa học cấp cơ
sở, mã số: 94-20-35.
2. Vũ Anh Sơn (1997), Thực trạng và kiến nghị nhằm góp phần nâng cao
hiệu quả công tác điều tra, những vụ án sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận
chuyển trái phép các chất ma tuý của PC16 Công an thành phố Hồ Chí
Minh", đề tài khoa học cấp cơ sở, mã số: 97-21-037.
3. Vũ Anh Sơn (2005), Tội phạm trộm cắp xe gắn máy có tổ chức tại các
tỉnh, thành phía Nam - thực trạng và các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh,
đề tài khoa học cấp Bộ, mã số: TC-2001- T32B-003.
4. Vũ Anh Sơn (1995), "Những tri thức cơ bản của công tác Cảnh sát điều
tra", giáo trình Trờng CĐCS.
5. Vũ Anh Sơn (2007), "Công tác hỏi cung bị can phạm tội mua bán, vận
chuyển trái phép chất ma tuý", Tạp chí CSND, số 2/2007.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status