Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt Nam - Pdf 39

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ THU CHANG

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số

: 60 38 40

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

1

2


Công trình được hoàn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dẫn khoa học: TS. Trịnh Quốc Toản

Phản biện 1:

Phản biện 2:


1.1.2.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.
1.3.3.

Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự
Việt Nam
Khái niệm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Ý nghĩa của việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong Luật Hình sự Việt Nam
Khái quát lịch sử lập pháp hình sự việt nam quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1999
Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
Nghiên cứu so sánh các quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trỏng luật hình sự Việt
Nam với luật hình sự một số nước
Bộ luật hình sự Nhật Bản
Bộ luật hình sự Canada
Bộ luật hình sự của Liên bang Nga
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO BỘ

7
7
14
18

Chủ thể của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Mặt chủ quan của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Các trường hợp phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể
Phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không có các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt
Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 197
Bộ luật hình sự
Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 197
Bộ luật hình sự
Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 197
Bộ luật hình sự
)hân biệt tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với một số tội phạm về ma túy khác trong luật
hình sự Việt Nam
Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc
chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194 Bộ luật hình sự)
Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương
tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 196 Bộ luật hình sự)
Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
(Điều 198 Bộ luật hình sự)
Phân biệt tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái
phép chất ma túy (Điều 200 Bộ luật hình sự)
Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ, NHỮNG GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA

34
34
37
50
50
52
52
53

phép chất ma túy
Những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy
Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về tội tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy
Tăng cường công tác hướng dẫn, giải thích các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành trong tương
quan với các văn bản pháp luật khác về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân
Phối hợp các cơ quan, tổ chức với các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án để phòng ngừa, ngăn chặn và
xét xử nghiêm minh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Giải pháp nâng cao năng lực, trách nhiệm và tăng cường điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, công cụ

5

73
73
78
87
87
90
93
94
95
97
98

6


3.3.5.

dụng trái phép chất ma túy ngày càng diễn biến phức tạp. Đối tượng phạm tội ma túy quan hệ, móc nối với người nước
ngoài, buôn bán, vận chuyển ma túy từ nước ngoài vào Việt Nam và một số nước khác.
Trước thực trạng nghiêm trọng nêu trên, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm ngăn chặn
và đẩy lùi tệ nạn này. Một trong những biện pháp nhằm đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy là việc xử lý các hành vi
phạm tội về ma túy, nhất là tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Loại tội phạm này không chỉ tăng về số
lượng mà cả về đối tượng phạm tội. Phương thức, thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, xảo quyệt; tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội ngày càng lớn hơn. Đây là nguyên nhân quan trọng làm cho tệ nạn ma túy ngày càng gia tăng và
phức tạp hơn, đồng thời còn gây khó khăn thách thức đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong
việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như trong chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh và phòng chống tội phạm, bảo
đảm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm, không
làm oan người vô tội.
Tuy nhiên, các quy định của luật hình sự Việt nam về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn chưa hoàn thiện,
nhất là thiếu quy phạm định nghĩa và một số quy định liên quan các yếu tố định tội và định khung hình phạt chưa rõ ràng
nên dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, không thống nhất trong việc nhận thức về dấu hiệu pháp lý, đường lối xử lý và
định tội danh đối với tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử loại tội
phạm này còn nhiều nhận định khác nhau giữa những cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về việc định tội danh
và định khung hình phạt hoặc không phân biệt được sự khác nhau giữa tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với một
số tội phạm về ma túy khác trong Bộ luật hình sự năm 1999.
Từ những lý do nêu trên, việc tác giả quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong Luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Dưới góc độ khoa học pháp lý, trong thời gian qua việc nghiên cứu các tội phạm về ma túy nói chung bắt đầu đã được
triển khai sâu rộng và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu lý luận, luật gia hình sự và cán bộ thực tiễn. Đến
nay, ở các mức độ khác nhau, trực tiếp và gián tiếp đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố, đồng thời được thể hiện ở
một số luận văn, luận án, sách chuyên khảo, tham khảo, bình luận và giáo trình như: GS.TSKH Lê Văn Cảm (2004), Sách
chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung)", Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội;
Tập thể tác giả do TSKH.PGS Lê Văn Cảm (chủ biên) (2003), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội. Ngoài ra, các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được nghiên cứu trong một số công trình nghiên
cứu của Ths. Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Tập IV: Các tội phạm về ma túy, Nxb Thành phố Hồ Chí
Minh, 2006. Bên cạnh đó, còn có các bài viết của các tác giả như TS. Nguyễn Tuyết Mai, Một số đặc điểm cần chú ý về nhân

4. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là nhằm làm rõ nội dung pháp lý của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, dựa trên
những vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến của cá nhân nhằm góp phần
hoàn thiện các quy định của pháp luật, tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy ở Việt nam
trong giai đoạn hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
những chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu trong luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp và thống
kê xã hội học; phương pháp so sánh, đối chiếu; phân tích thuần túy quy phạm pháp luật, khảo sát thực tiễn; nghiên cứu,
điều tra án điển hình…để phân tích và luận chứng các vấn đề khoa học cần nghiên cứu trong luận văn này. Trong quá
trình thực hiện đề tài luận văn, tác giả tiếp thu có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố;
các đánh giá, tổng kết của các cơ quan chuyên môn và các chuyên gia về những vấn đề có liên quan đến các vấn đề
nghiên cứu trong luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần hoàn thiện lý luận về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong
khoa học luật hình sự Việt Nam. Góp phần làm rõ các vấn đề chung về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong
luật hình sự Việt Nam; khái quát lịch sử hình thành và phát triển về tội phạm này từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến
nay; phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác thường có sự nhầm lẫn trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử; làm
sáng tỏ các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này; phân tích số liệu thực tiễn xét xử trên địa bàn toàn
quốc từ năm 2005 - 2010 và nghiên cứu một số bản án hình sự của Tòa án để đánh giá, qua đó chỉ ra những mâu thuẫn,
bất cập của các quy định hiện hành, các sai sót trong quá trình áp dụng các quy định đó, cũng như đưa ra các nguyên
nhân để tìm giải pháp khắc phục, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bluật hình
sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ở khía cạnh lập pháp và việc áp dụng trong thực tiễn.
6.2. Về mặt thực tiễn

11

độc quyền quản lý, sử dụng các chất ma túy của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe con người, an ninh trật tự an toàn
xã hội vào Bộ luật hình sự.
Thứ hai, về mặt lý luận, là cơ sở pháp lý hình sự đầy đủ và thống nhất để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến
hành tố tụng có căn cứ để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đúng
người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội.
Thứ ba, việc quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt
tương ứng với các mức độ phạm tội khác nhau không những chỉ trừng trị và giáo dục chính bản thân người phạm tội
không phạm tội mới mà còn có mục đích răn đe, giáo dục đối với các thành viên khác trong xã hội nhất là đối với những
công dân không vững vàng, dễ bị lôi kéo; qua đó bồi dưỡng cho mọi công dân tinh thần, ý thức tuân thủ pháp luật, chủ
động tham gia phòng ngừa và chống tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
1.2.1. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
1.2.2. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm
1999
1.2.3. Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay
1.3. Nghiên cứu so sánh các quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong luật hình sự Việt
Nam với Luật hình sự một số nước
1.3.1. Bộ luật hình sự Nhật Bản

13

14


1.3.2. Bộ luật hình sự Canada
1.3.3. Bộ luật hình sự Liên bang Nga
Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP
CHẤT MA TÚY THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
2.1. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

người phạm tội tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là nhằm đưa chất ma túy vào cơ thể người khác trái phép. Trong
nhiều tội phạm, dấu hiệu mục đích được quy định là dấu hiệu tùy nghi nhưng đối với tội phạm tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy thì dấu hiệu mục đích lại là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm.
Người phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có nhiều động cơ khác nhau nhưng chủ yếu là vì vụ lợi, do ma túy
là mặt hàng mang lại lợi nhuận rất cao, nhưng cũng có thể do nhiều động cơ khác rất nguy hiểm như thù hằn cá nhân, động
cơ đê hèn nên muốn đưa chất ma túy vào cơ thể người khác để gây nghiện.
2.2. Các trường hợp phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cụ thể
2.2.1. Phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không có các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt

15

16


Đây là khung cơ bản của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, áp dụng cho các trường hợp người phạm tội thực
hiện một trong các hành vi như đã nêu ở mặt khách quan nhưng không có các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt.
Với mức hình phạt cao nhất là 7 năm tù, ngay tại khung cơ bản đã thể hiện mức độ nghiêm trọng của loại tội này, đồng
thời thể hiện thái độ nghiêm khắc và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm ma túy của Nhà nước ta.
2.2.2. Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 197 Bộ
luật hình sự
Theo khoản 2 Điều 197 Bộ luật hình sự, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì
bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Phạm tội nhiều lần; b) Đối với nhiều người; c) Đối với người chưa thành niên từ
đủ 13 tuổi trở lên; d) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai; đ) Đối với người đang cai nghiện; e) Gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; g) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người; h) Tái phạm nguy hiểm.
2.2.3. Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 197 Bộ
luật hình sự
Theo khoản 3 Điều 197 Bộ luật hình sự, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau
đây thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm: a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ
61% trở lên hoặc gây chết người; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%; c)
Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người; d) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.

17

18


Hai là, về tổng số vụ, số bị cáo bị Tòa án xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2005 - 2010
cho thấy: số vụ án phải xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có tổng số 247 vụ án và tổng số 450 bị cáo,
trong đó số vụ án đã xét xử là 221 vụ án và 406 bị cáo, số vụ án trả lại Viện kiểm sát là 16 vụ án và 32 bị cáo, số vụ án bị
đình chỉ là 02 vụ án và 02 bị cáo, số vụ án còn lại là 08 vụ án và 10 bị cáo. Trung bình số vụ án mỗi năm phải xét xử là
41 vụ án và 75 bị cáo về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Năm có số vụ án phải xét xử cao nhất là năm 2009 với
82 vụ án, năm thấp nhất là năm 2010 với 14 vụ án . Năm có số bị cáo phải xét xử cao nhất là năm 2009 với 165 bị cáo,
năm thấp nhất là năm 2010 với 17 bị cáo. Trung bình số vụ án phải hoàn trả Viện kiểm sát là 03 vụ án/năm và 5 bị
cáo/năm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Số vụ án bị đình chỉ ít, chỉ có trong năm 2007, 2009 với 02 vụ án
và 02 bị cáo. Số vụ án còn lại chưa xét xử là 08 vụ án và 10 bị cáo.
Ba là, về tổng số vụ án, số bị cáo do Tòa án xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong tương quan với các
tội phạm về ma túy trong 6 năm (2005-2010): trong tổng số 62.659 vụ án và tổng số 83.972 bị cáo các Tòa án phải xét xử về
các tội phạm về ma túy, thì số vụ án và số bị cáo các Tòa án phải xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là 247 vụ
án và 450 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,39 % số vụ án và 0,54 % số bị cáo. Trong khi đó, tổng số vụ án và tổng số bị cáo các Tòa án đã
xét xử là 59.690 vụ và 66.374 bị cáo về các tội ma túy, thì tổng số vụ án và tổng số bị cáo các tòa án đã xét xử về tội tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy là 221 vụ án và 406 bị cáo, chiếm tỷ lệ 0,37% số vụ án và 0,61% số bị cáo.
Năm có tổng số vụ án và số bị cáo bị đưa ra xét xử về các tội ma túy cao nhất là năm 2010 với 11.826 vụ án và 15.099 bị
cáo. Trong khi đó, năm có tổng số vụ án và số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cao nhất là
năm 2009 với 82 vụ án và 165 bị cáo, thấp nhất là năm 2010 với 14 vụ án với 17 bị cáo.
Bốn là, phân tích hình phạt và các biện pháp tha miễn trách nhiệm hình sự và hình phạt (như: miễn trách hình sự,
miễn hình phạt, không có tội, áp dụng kèm theo hình phạt bổ sung, v.v..) đối với bị cáo bị Tòa án xét xử về tội tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy trong 06 năm (2005-2010): không có trường hợp nào bị cáo bị tuyên không có tội hoặc miễn
trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt hoặc cảnh cáo, hình phạt tử hình cũng không có trường hợp nào. Việc áp dụng hình
phạt đối với các bị cáo phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chủ yếu là 02 biện pháp: thứ nhất, hình phạt tù có thời
hạn từ 7 năm trở xuống với 188 trường hợp và tù từ 7 năm đến 15 năm là 100 trường hợp và thứ hai là miễn chấp hành hình
phạt tù có điều kiện - án treo với 43 trường hợp. Việc áp dụng hình phạt bổ sung hầu như không thực hiện, hoặc chỉ có 01

Ba là, về tình tiết "Đối với người đang cai nghiện" quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 197, việc quy định đối tượng bị
xâm hại còn hạn hẹp, dẫn đến nhiều trường hợp còn bỏ sót tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Bốn là, Bộ luật hình sự quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong tương quan với các tội phạm về
ma túy và các tội phạm khác còn chưa rõ ràng. Bởi vậy, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử, người tiến hành tố tụng,
các cơ quan tiến hành tố tụng còn nhầm lẫn giữa các tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội chứa chấp việc sử
dụng trái phép chất ma túy, tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng chất ma túy, v.v...
Năm là, việc quy định định lượng ma túy mới chỉ được quy định tại khoản 2, 3 và 4 Điều 193 Bộ luật hình sự, khoản 2,
3 và 4 Điều 194 Bộ luật hình sự chứ chưa quy định tổ chức sử dụng trái phép bao nhiêu gam ma túy trở lên thì bị truy
cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.
Sáu là, do việc nhận thức quy định về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong tương quan với các tội phạm
khác và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn chưa hoàn toàn thống nhất nên có nhiều quyết định trái chiều
khi định tội danh và quyết định hình phạt.
3.2. Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
3.2.1. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự về tội tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy
Việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy có ý nghĩa quan trọng dưới các góc độ chính sau đây:
Một là, dưới góc độ chính trị - xã hội, ở một chừng mực nhất định - góp phần cụ thể hóa chính sách hình sự của Nhà nước
Việt Nam đối với việc bảo vệ chế độ độc quyền về quản lý và sử dụng ma túy của Nhà nước, bảo vệ tính mạng, sức khỏe con
người; an ninh, trật tự, an toàn xã hội vào Bộ luật hình sự, bảo đảm hoạt động bình thường và ổn định của xã hội, qua đó kiên
quyết xử lý nghiêm minh, triệt để và đúng pháp luật tất cả các hành vi xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý và sử dụng ma
túy của Nhà nước ở các mức độ khác nhau và đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, tính tối thượng của pháp
luật. Đến lượt mình, khi chế độ độc quyền về quản lý và sử dụng ma túy được bảo vệ, ổn định lại là điều kiện thuận lợi
để thực hiện nghiêm chỉnh và hoàn thiện chính sách hình sự.
Hai là, dưới góc độ khoa học - nhận thức, việc hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam về tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy có ý nghĩa làm sáng tỏ quy định về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, từ đó có
cơ sở rõ ràng để phân biệt giữa tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với một số tội phạm khác có liên quan trong Bộ
luật hình sự.
Ba là, dưới góc độ lập pháp hình sự, việc hoàn thiện này còn góp phần giúp cho các nhà làm luật nhận thấy những điểm
chưa hợp lý của điều luật, để loại trừ các quy định đã lạc hậu, đã lỗi thời, quá trừu tượng, thiếu chính xác về mặt khoa học hoặc

với các văn bản pháp luật khác về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Hiện nay, các văn bản pháp lý hình sự hiện hành quy định và hướng dẫn cụ thể về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy sau một một thời gian thi hành đã bộc lộ một số hạn chế, chưa theo kịp sự biến đổi tinh vi của loại tội phạm này nên cần có
sự thay đổi, bổ sung hướng dẫn cần thiết và kịp thời. Ngoài ra, cần có văn bản hướng dẫn định tội danh và cụ thể hóa trong các
trường hợp phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng có tình tiết dễ gây nhầm lẫn với các tội phạm về ma túy khác
như tội chứa chấp người khác sử dụng trái phép chất ma túy; tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy;
v.v... và một số tội phạm khác.
3.3.2. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân
Một là, tăng cường các biện pháp tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng chống
tội phạm ma túy nói chung và tội phạm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng thông qua các câu lạc bộ pháp luật, các
cuộc thi tìm hiểu pháp luật ở tất cả các cấp thôn, xóm, xã, huyện, tỉnh, trung ương, thông qua các phương tiện truyền thông đại
chúng như loa đài phát thanh của phường, xã, thôn, xóm, truyền hình địa phương và trung ương, báo chí, tờ rơi,…
Hai là, tăng cường xét xử lưu động, xét xử công khai các vụ án về ma túy để nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa
chung.
Ba là, phát động quần chúng nhân dân tham gia phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hóa giáo dục người phạm tội tại
cộng đồng dân cư, vận động người phạm tội ra tự thú, khai báo thành khẩn, truy bắt đối tượng phạm tội có lệnh truy nã;
thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ khen thưởng, biểu dương kịp thời, hỗ trợ để khuyến khích, động viên tất cả quần
chúng, nhân dân tham gia phong trào toàn dân đấu tranh phòng chống tội phạm.
Bốn là, đưa nội dung cơ bản về giáo dục phòng chống ma túy vào chương trình giáo dục bắt buộc trong hệ thống nhà
trường các cấp, phổ biến, giáo dục cho các em học sinh, sinh viên biết được tác hại và cách phòng tránh ma túy học đường.
Năm là, phát động các phong trào toàn dân xây dựng thôn xóm mới, đường phố, cơ quan, đơn vị an toàn, xây dựng gia đình
văn hóa, bài trừ tệ nạn ma túy. Tổ chức vận động toàn dân tham gia quản lý giáo dục người phạm tội tại cộng đồng dân cư, tổ
chức hướng nghiệp, tạo việc làm, lôi cuốn họ cải tạo họ thành người lương thiện, tái hòa nhập cộng đồng, cai nghiện được ma
túy, không tái nghiện và tái phạm tội.
Sáu là, mở rộng các trung tâm cai nghiện ma túy, trung tâm dạy nghề sau cai nghiện, v.v... để giảm tỷ lệ tái nghiện.
Bảy là, chú ý đến việc giải quyết và đầu tư, xây dựng mới các khu vui chơi, giải trí lành mạnh cho thanh thiếu niên,
quản lý chặt chẽ các nhà hàng, nhà nghỉ, vũ trường, quán nhậu, quán internet,... Bên cạnh đó, cần chú ý đến việc quản lý
thanh thiếu niên, trẻ em trong mối liên hệ chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường, các tổ chức và chính quyền địa phương, bởi
đối tượng nghiện ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ngày càng trẻ hóa về độ tuổi.
3.3.3. Phối hợp các cơ quan, tổ chức với các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án để phòng ngừa, ngăn chặn và

văn bản pháp luật, khi giải quyết các vụ việc phức tạp có tình, có lý, thuyết phục và dứt điểm, không dây dưa, không có
oan sai, không lấn sang nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan khác. Đối với ngành Tòa án, cần phải bổ sung biên chế cho
toàn ngành tương ứng với yêu cầu nhiệm vụ, công tác tuyển dụng phải lựa chọn được những người có đủ năng lực và
phẩm chất đạo đức vào ngành. Đồng thời, thường xuyên tổ chức, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tập huấn nghiệp vụ cho
đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên và các cán bộ chuyên trách.
Thứ năm, hàng tháng, hàng quý, hàng năm, các cơ quan tư pháp phải nghiêm túc tiến hành nhận xét, đánh giá về trách
nhiệm, phẩm chất đạo đức, ý thức pháp luật, năng lực trình độ, chuyên môn của cán bộ, chiến sĩ, người thi hành công vụ
trong lĩnh vực của mình nhằm xây dựng một đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ, giỏi chuyên môn, ngày càng trong
sạch và vững mạnh.
Thứ sáu, phân định rõ thẩm quyền, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và
trách nhiệm cho điều tra viên, kiếm sát viên và thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và
chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình.
Thứ bảy, tăng cường công tác giám đốc xét xử, kiểm tra thanh tra công tác xét xử để hạn chế tối thiểu những án oan
sai, chỉ ra những thiếu sót, sai lầm của cán bộ trực tiếp xét xử, từ đó có những văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể trong
toàn ngành, có thể trích dẫn những vụ án điển hình hay có sự nhầm lẫn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành
tố tụng học hỏi và rút kinh nghiệm.
3.3.5. Tăng cường, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp
Cần phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, của chính quyền địa phương cũng như sự chỉ đạo sâu sát của các cơ quan tiến
hành tố tụng từ Trung ương đến địa phương trong suốt quá trình giải quyết các vụ án lớn. Đồng thời cần phải kiện toàn, nâng
cao chất lượng hoạt động của các ngành Nội chính Trung ương; cũng như tăng cường công tác tham mưu về công tác nội
chính - tiếp dân cho các cấp ủy Đảng.
3.3.6. Tăng cường hợp tác quốc tế về tư pháp
Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, nhất là với tổ chức Cảnh sát hình sự quốc tế
(INTERPOL), Hiệp hội Cảnh sát các nước Đông Nam Á (ASEANPOL), các nước láng giếng, khu vực ASEAN và các
nước có quan hệ truyền thống. Thực hiện có hiệu quả các hiệp định, hiệp ước tương trợ tư pháp về hình sự, hợp tác quốc
tế trong phòng, chống tội phạm đã ký kết với các nước, các tổ chức quốc tế nhằm chủ động phòng ngừa, đấu tranh có
hiệu quả các loại tội phạm xuyên quốc gia, có tính quốc tế, tội phạm khủng bố, v.v...
Đào tạo đủ số lượng cán bộ tư pháp có trình độ nghiệp vụ và ngoại ngữ chuyên sâu về lĩnh vực tư pháp quốc tế nhằm bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực.


chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy lớn đã bị phát hiện, truy tố, xét xử như: vụ án Nguyễn Xuân Thủy ở Sơn La, vụ
Dương Cao Sơn ở Hà Nội, vụ New century ở Hà Nội, vụ Bar 198V ở Bùi Thị Xuân, Hà Nội và vụ UFO ở Hải Phòng,
v.v... Đặc biệt, các vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy năm 2010 đã giảm đáng kể, chỉ còn 14 vụ/17 bị cáo tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 197 Bộ luật hình sự là tội phạm có dấu hiệu
"có tổ chức" là đặc điểm bắt buộc của hành vi phạm tội và ở cả phương thức thực hiện hành vi phạm tội. Người phạm tội
có hành vi tổ chức cho người khác thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy hoặc đưa trái phép chất ma túy vào cơ
thể người khác. Hành vi này thường do nhiều người thực hiện, dưới hình thức đồng phạm hoặc cũng có thể chỉ do một
người thực hiện. Từ đó có thể rút ra định nghĩa khoa học của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như sau: Tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi cố ý của một hoặc nhiều người trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện, bao gồm: chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma
túy vào cơ thể người khác hoặc chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương
tiện, dụng cụ, dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng trái phép chất ma túy để đưa trái phép
chất ma túy vào cơ thể người khác một cách thuận lợi.
Tội tổ chức dùng chất ma túy lần đầu tiên được quy định trong Luật, tại Điều 203 Bộ luật hình sự năm 1985 - cũng
là điều luật duy nhất quy định về tội phạm ma túy. Để đáp ứng yêu cầu thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy,
ngày 21/12/1998, Bộ luật hình sự năm 1999 ra đời quy định tội phạm ma túy gồm 10 tội, trong đó tội tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy được quy định tại Điều 197 Bộ luật hình sự năm 1999 với mức hình phạt cao nhất là tử hình. Đến ngày
19/6/2009, Quốc hội khóa 12 tại kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự, có
hiệu lực từ 1/1/2010, trong đó tại khoản 4 Điều 197 tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" đã bỏ hình phạt tử hình,
quy định mức hình phạt cao nhất là tù chung thân.

27

28


Như vậy, căn cứ pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự một người về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là Bộ luật
hình sự 1999 hiện hành và Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP (thay thế Thông tư liên tịch
số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 2/1/1998 và Thông tư liên tịch số 02/1998/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BCA ngày 05/8/1998). Tuy nhiên, việc áp dụng các văn bản này vào thực tiễn còn gặp một số khó khăn, vướng

30




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status