ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN MẠNH CƯỜNG CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY NHÌN TỪ GÓC ĐỘ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ TRỌNG HÁCH
hµ néi - n¨m 2007
MC LC
Trang
m u
1
Chng 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà
n-ớc trong lĩnh vực chống sản xuất và
buôn bán hàng giả
5
1.1.
Khỏi quỏt chung v hng gi
Chớnh ph
23
1.2.2.2.
Cỏc B chuyờn ngnh
25
1.2.2.3.
U ban nhõn dõn cỏc cp
30
1.2.3.
Cỏc c quan cú thm quyn trc tip u tranh chng sn
xut v buụn bỏn hng gi Vit Nam
32
1.2.3.1.
Lc lng Cnh sỏt iu tra ti phm v trt t kinh t v
chc v (B Cụng an)
32
1.2.3.2.
Lc lng Qun lý th trng
33
1.2.3.3.
Lc lng Hi quan
34
1.2.3.4.
Thanh tra chuyờn ngnh
35 1.2.3.5.
Cỏc t chc khỏc
38
xut v buụn bỏn hng gi Vit Nam
44
2.1.1.
Quan im ca ng v Nh nc ta v vn sn xut v
buụn bỏn hng gi
44
2.1.2.
Nhng quy nh ca phỏp lut nc ta v chng sn xut v
buụn bỏn hng gi
46
2.1.2.1.
Ban hnh cỏc vn bn phỏp quy lm c s phỏp lý cho cụng
tỏc phũng chng sn xut v buụn bỏn hng gi
47
2.1.2.2.
Ban hnh mt s vn bn phỏp lut quy nh v s hu trớ
tu liờn quan n hng gi
49
2.1.2.3.
Cỏc vn bn phỏp lut khỏc cú liờn quan n u tranh chng
sn xut v buụn bỏn hng gi
50
2.1.2.4.
Quy nh ti phm v hng gi v liờn quan n hng gi
51
2.1.2.5.
Nhng vn bn phỏp lut quc t m Vit Nam tham gia liờn
quan n hng gi
52
2.1.3.
Chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở Nhật Bản
71
2.3.3.
Những kinh nghiệm từ thực trạng hai quốc gia trên
73
Chương 3: Mét sè gi¶i ph¸p n©ng cao hiÖu
qu¶ c«ng t¸c qu¶n lý nhµ n-íc vµ ®Êu
tranh chèng s¶n xuÊt vµ bu«n b¸n hµng
gi¶ ë ViÖt Nam 75
3.1
Dự báo về tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả ở
nước ta trong thời gian tới
75
3.1.1.
Bối cảnh quốc tế
75
3.1.2.
Bối cảnh trong nước
76
3.1.3.
Phương thức, thủ đoạn trong sản xuất và buôn bán hàng
giả ngày càng tinh vi và phức tạp hơn
77
3.1.4.
81
3.2.1.
Yêu cầu khách quan
81
3.2.2.
Yêu cầu chủ quan
82
3.2.3.
Kết quả công tác quản lý nhà nước và đấu tranh chống sản
xuất, buôn bán hàng giả là yếu tố quan trọng nhằm đảm bảo
sự ổn định và phát triển kinh tế ở nước ta
83
3.3.
Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công
tác quản lý nhà nước và đấu tranh chống sản xuất, buôn
bán hàng giả ở nước ta 84
3.3.1.
Nâng cao hơn nữa nhận thức về hậu quả của việc sản xuất và
buôn bán hàng giả
84
3.3.2.
Hoàn thiện pháp luật và cơ chế chính sách về chống sản xuất
và buôn bán hàng giả
87
3.3.3.
Kiện toàn các cơ quan quản lý và đấu tranh chống sản xuất
1- Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, sự phát triển vượt bậc của cuộc cách mạng
khoa học công nghệ cùng với sự đổi mới đường lối chính sách về kinh tế của
Đảng và Nhà nước ta đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng. Trên thị
trường các hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hoá ngày càng diễn
ra tấp nập, nhộn nhịp và cạnh tranh phát triển chạy theo nhu cầu, thị hiếu người
tiêu dùng. Trong điều kiện đó, công tác quản lý nhà nước, nhất là quản lý nền
kinh tế thị trường đang nảy sinh một số vấn đề phức tạp và có nhiều kẽ hở. Một
trong những vấn đề đáng quan tâm là sự gia tăng nạn sản xuất, buôn bán hàng
giả trong nền kinh tế thị trường. Những hoạt động này không những ảnh hưởng
trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người tiêu dùng, ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi ích của các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế mà còn làm ảnh
hưởng đến lợi ích của Nhà nước, của toàn xã hội, ảnh hưởng đến môi trường đầu
tư kinh doanh của Việt Nam, uy tín chính chị của Đảng và Nhà nước, làm giảm
lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Nhà nước.
Các hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả ở nước ta đang có chiều
hướng gia tăng và ngày càng lan rộng sang nhiều ngành hàng, chủng loại hàng
hoá. Trước nguy cơ gây hại của nạn hàng giả, đẩy mạnh công tác đấu tranh
chống sản xuất và buôn bán hàng giả là một yêu cầu cấp bách đòi hỏi sự quan
tâm của Đảng và Nhà nước. Mặt khác, công tác đấu tranh chống sản xuất và
buôn bán hàng giả còn đòi hỏi các cơ quan chức năng phải thực hiện tốt chức
năng, nhiệm vụ của mình, phối hợp đồng bộ với các cơ quan hữu quan để đấu
tranh hạn chế nạn hàng giả. Trong thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành một
số văn bản pháp luật quan trọng làm cơ sở pháp lý cho hoạt động phòng, chống
sản xuất, buôn bán hàng giả. Các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương
các cấp cũng đã tích cực tổ chức kiểm tra, xử lý, đấu tranh, ngăn ngừa và làm
giảm dần các vụ sản xuất buôn bán, hàng giả, góp phần lành mạnh hoá hoạt động 2
3
3- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu những lý luận cơ bản về chống sản xuất và
buôn bán hàng giả của Việt Nam nhìn dưới góc độ quản lý nhà nước bao gồm:
cở sở lý luận của quản lý nhà nước về chống sản xuất và buôn bán hàng giả; các
cơ quan chức năng quản lý và đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở
Việt Nam hiện nay; nội dung quản lý nhà nước; thực trạng quản lý nhà nước về
chống sản xuất và buôn bán hàng giả bao gồm: hệ thống pháp luật về chống sản
xuất và buôn bán hàng giả, những kết quả đạt được trong những năm qua, những
tồn tại, yếu kém, nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó; yêu cầu đối với
nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chống sản xuất và buôn bán hàng giả và
đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác
chống sản xuất và buôn bán hàng giả trong thời gian tới.
Vì phạm vi nghiên cứu đề tài tương đối rộng, liên quan tới nhiều cơ quan
khác nhau. Do vậy, Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu vấn đề sản xuất, buôn bán
hàng giả nói chung dưới góc độ quản lý nhà nước qua thực tiễn hoạt động của
lực lượng Quản lý thị trường - cơ quan của Bộ Thương mại.
4- Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của việc nghiên cứu là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn
quản lý nhà nước về chống sản xuất và buôn bán hàng giả, từ đó đề xuất những
giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong công
tác chống sản xuất và buôn bán hàng giả.
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của việc nghiên cứu là: Phân
tích, làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước trong công tác đấu tranh
chống sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam trên cơ sở pháp luật thực định
của Việt Nam, tham khảo pháp luật, kinh nghiệm của một số quốc gia; đánh giá
hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác quản lý nhà nước về chống sản xuất và
buôn bán hàng giả ở nước ta trong những năm qua; phân tích, làm rõ những tồn
tại hạn chế về cơ chế, chính sánh cũng như những tồn tại, yếu kém trong quá
5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC
CHỐNG SẢN XUẤT VÀ BUÔN BÁN HÀNG GIẢ
1.1. Khái quát chung về hàng giả
1.1.1. Quan niệm về hàng giả
Hàng giả đã xuất hiện trên thị trường nước ta trong nhiều năm trở lại đây,
nhất là từ khi chúng ta đổi mới cơ chế quản lý kinh tế từ chế độ quản lý tập trung
bao cấp sang quản lý hạch toán kinh doanh, đặc biệt trong thời kỳ kinh tế thị
trường thì nạn làm hàng giả và buôn bán hàng giả ngày càng phát triển.
Trong lý luận và thực tiễn hiện tồn tại nhiều quan niệm về hàng giả. Trước
hết, tìm hiểu khái niệm về hàng hoá và thế nào là giả: “Hàng hoá là sản phẩm
dùng để thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng
thông qua trao đổi” [43, tr. 214], còn "Giả có nghĩa không phải là thật mà được
làm với bề ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật" [44, tr. 405].
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: "Hàng giả là hàng làm bắt chước theo
mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm
đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị
sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn. Về hình
thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng
tinh vi. Người làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại
bao bì, tem nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua" [45]. Khái niệm này thực
ra chỉ là giải thích về mặt ngôn ngữ, mà chưa phải là khái niệm mang tính pháp
lý, thể hiện bản chất của hàng giả.
Ở đây chúng tôi không đi sâu vào thuật ngữ về hàng giả nói chung, mà
chỉ nghiên cứu tìm hiểu khái niệm về hàng giả được quy định trong các văn bản
pháp luật. 6
nói trên chưa thể hiện rõ các dấu hiệu về mặt bản chất của hàng giả; khái niệm
về hàng giả còn được đề cập chung chung dưới dạng liệt kê. Hoạt động của thực
tiễn đòi hỏi phải có sự phân định rõ ràng hơn về hàng giả giúp cho công tác đấu
tranh ngăn ngừa, chống hàng giả tránh được những khó khăn trong xử lý các
hành vi vi phạm. Đến nay, Nghị định này đã hết hiệu lực thi hành.
Thông tư Liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày
27/4/2000 của Liên Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Khoa học
Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày
27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán
hàng giả đã quy định hàng hoá có một trong các dấu hiệu sau đây bị coi là hàng
giả:
Một là, hàng giả chất lượng hoặc công dụng.
- Hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng như
bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó.
- Hàng hoá đưa thêm tạp chất, chất phụ gia không được phép sử dụng làm
thay đổi chất lượng; không có hoặc có ít dược chất, có chứa dược chất khác với
tên dược chất ghi trên nhãn hoặc bao bì; không có hoặc không đủ hoạt chất, chất
hữu hiệu không đủ gây nên công dụng; có hoạt chất, chất hữu hiệu khác với tên
hoạt chất, chất hữu hiệu ghi trên bao bì.
- Hàng hoá không đủ thành phần nguyên liệu hoặc bị thay thế bằng những
nguyên liệu, phụ tùng khác không đảm bảo chất lượng so với tiêu chuẩn chất
lượng hàng hoá đã công bố, gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người,
động vật, thực vật hoặc môi sinh, môi trường.
- Hàng hoá thuộc danh mục Tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng mà không thực
hiện gây hậu quả xấu đối với sản xuất, sức khỏe người, động vật, thực vật hoặc
môi sinh, môi trường . 8
- Hàng hoá chưa được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn mà sử dụng giấy
xuất xứ hàng hoá được bảo hộ.
- Các loại hoá đơn, chứng từ, chứng chỉ, tem, vé, tiền, ấn phẩm có giá trị
như tiền, ấn phẩm và sản phẩm văn hoá giả mạo khác [37, tr.2, 3].
Theo Thông tư liên tịch này thì hàng giả có hai loại: giả về chất lượng,
công dụng và giả về hình thức. Hàng giả về chất lượng, công dụng thường là
những hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với
tên gọi, công dụng của nó, không đảm bảo tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật đã
được quy định. Còn hàng giả về hình thức có nghĩa là giả về nhãn hiệu hàng hóa,
kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc xuất xứ hàng hóa, nhãn hàng hóa.
Tuy nhiên, Thông tư này đến nay đã không còn phù hợp với thực tiễn,
chưa xác định được khái niệm “hàng giả về sở hữu trí tuệ”, cho nên cũng không
xác định được hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong việc sản xuất, nhập
khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá hàng giả, chưa phân biệt được rõ ràng giữa
hàng giả và hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ - tức là những hàng hoá
được làm ra do hành vi sử dụng trái phép các đối tượng của quyền sở hữu công
nghiệp, mà quy định như vậy hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
có một bộ phận bị trùng nhau. Thực chất, hàng hoá xâm phạm quyền sở hữu
công nghiệp cũng là một loại hàng giả, song để tạo điều kiện thuận lợi cho các
cơ quan thực thi pháp luật có sự áp dụng đúng đắn thì việc phân biệt khái niệm
hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là rất cần thiết. Do không
có quy định cụ thể và rõ ràng về vấn đề này nên trong thực tế, không chỉ người
dân mà ngay cả các cơ quan chức năng khi thực thi pháp luật vẫn chưa có sự
phân định rõ giữa hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Điều
này dẫn đến sự không thống nhất trong hoạt động áp dụng pháp luật.
Khắc phục những hạn chế nêu trên, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đã đề 10
cập được các hành vi “Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hoá giả
mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 của Luật này hoặc giao cho
sáng chế ra một giải pháp, làm cho mọi người biết đến một sản phẩm đặc biệt
đã bị đánh cắp”[65, tr.4]. Làm hàng giả là một loại tội phạm được xác định
trong Luật sở hữu trí tuệ.
Theo quan điểm của Uỷ ban quốc gia chống hàng giả của Úc: “Hàng giả
là hàng hoá sản xuất bất hợp pháp và trái pháp luật xâm phạm sản phẩm thật đã
được bảo hộ bởi Luật quyền sở hữu công nghiệp, Luật bản quyền ” [65, tr.5].
Còn theo quan điểm của Cơ quan Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc, Nhật Bản,
Thái Lan, họ đều chưa có khái niệm cụ thể, chính xác nào về hàng giả mà chủ
yếu họ đều coi đó là hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công
nghiệp.
Từ những quy định pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra khái niệm
tổng quát về hàng giả như sau: “Hàng giả là tất cả các loại hàng hoá được sản
xuất trái pháp luật dựa trên các hàng hoá đã có trên thị trường có những đặc
điểm, tính chất, kiểu dáng và các thông tin dấu hiệu của hàng thật nhưng không
đủ tiêu chuẩn chất lượng quy định gây nhầm lẫn với hàng hoá đang được bảo hộ
nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng và thu lợi bất chính”.
1.1.2. Đặc điểm của hàng giả
Thứ nhất, hàng giả là những vật phẩm hàng hoá được sản xuất, nhập
khẩu trái pháp luật.
Hàng giả dù bất kỳ là sản phẩm nào cũng là những vật phẩm được sản
xuất, nhập khẩu trái pháp luật. Tính trái pháp luật thể hiện ở chỗ: Pháp luật cấm
các hành vi sản xuất, buôn bán, vận chuyển hàng giả; các hành vi vi phạm liên
quan về hàng giả sẽ bị xử lý theo các quy định pháp luật. 12
Nghị định số 175/2004/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại quy định xử phạt về kinh
doanh hàng giả (Điều 18) và xử phạt về kinh doanh tem, nhãn, bao bì hàng hoá
giả (Điều 19) Ngoài ra, còn một số các Nghị định của Chính phủ quy định về
Thứ ba, hàng giả được tạo ra nhằm mục đích lừa dối người tiêu dùng
Hàng giả không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng do giá trị sử
dụng của loại hàng này ít hơn, thậm chí không có giá trị sử dụng so với hàng
thật. Mục đích của việc làm hàng giả là làm cho người tiêu dùng nhầm lẫn với
hàng thật để tiêu thụ hàng giả. Mục đích này đạt được từ sự cố gắng mô phỏng
những đặc điểm, tính chất của hàng thật, thể hiện qua những dấu hiệu trùng hoặc
tương tự gây nhầm lẫn như: gây nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người
khác đang được bảo hộ cho cùng loại hàng hoá; gây nhầm lẫn với tên thương
mại được bảo hộ; có hình dáng bên ngoài trùng với kiểu dáng đang được bảo hộ;
có dấu hiệu giả mạo nhãn hiệu; giả mạo chỉ dẫn địa lý hay có nhãn hàng hoá
giống hệt hoặc tương tự với nhãn của cơ sở khác. Chính vì có các dấu hiệu, yếu
tố gây nhầm lẫn với hàng thật mà hàng giả nhìn giống như hàng thật và người
tiêu dùng mua nhầm hàng giả.
1.1.3. Tình hình sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam
Tình trạng sản xuất và buôn bán hàng giả ở Việt Nam hiện nay là rất phức
tạp đang đặt ra những thách thức to lớn đối với nền kinh tế khi nước ta đang đẩy
nhanh quá trình hội nhập và đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO). Những vi phạm về hàng giả xảy ra ở hầu khắp các lĩnh vực sản xuất,
ngành hàng và địa phương, dưới nhiều hình thức khác nhau.
Trước đây, hàng giả xuất hiện tập trung ở một số mặt hàng như bột ngọt,
rượu, mỹ phẩm, hàng điện tử nhưng gần đây, hàng giả đã mở rộng ra nhiều
mặt hàng khác như: các loại phụ tùng xe, hàng điện tử cao cấp, nước hoa, rượu
ngoại, đến hàng tiêu dùng bình thường như kem đánh răng, dầu gội đầu 14
Tình trạng sản xuất và lưu thông hàng giả liên quan đến sở hữu trí tuệ ở
Việt Nam đang có xu hướng phức tạp hơn, nhất là các đối tượng sở hữu trí tuệ
trong lĩnh vực công nghệ thông tin, bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng
công nghiệp, tên gọi, nguồn gốc xuất xứ hàng hoá, chỉ dẫn địa lý nổi tiếng Đặc
nhiều người tiêu dùng bị lừa mua phải hàng giả theo giá hàng thật; sản phẩm
Sunsilk, kem đánh răng P/S, Dove, Clear, Pond’s là những sản phẩm nổi tiếng
của Công ty Unilever Việt Nam, mỹ phẩm chăm sóc tóc Wella của Công ty
TNHH Nam Đạo cũng bị làm giả từ nước ngoài đưa vào. Có những sản phẩm bị
làm giả mà ngay cả những đại lý mỹ phẩm của các công ty cũng không nhận biết
được nếu xem không kỹ, nếu để mẫu hàng giả và mẫu hàng thật để gần nhau thì
người tiêu dùng cũng khó có thể nhận biết được. Tình trạng này làm cho các
doanh nghiệp kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn là nếu thay đổi mẫu mã và cách
trang trí thì trong một thời gian rất ngắn đã bị làm giả và chỉ cần giải thích hướng
dẫn cho khách hàng phân biệt giữa hàng thật và hàng giả thì sau một thời gian
ngắn sản phẩm làm giả sẽ làm y hệt như hướng dẫn [55, tr. 2].
- Nhóm mặt hàng thực phẩm: Hình thức làm giả chủ yếu là ăn cắp nhãn
hiệu bao bì, lấy sản phẩm chất lượng kém hơn đóng gói bán kiếm lời như: dùng
bột canh rồi đóng mác bột ngọt làm giả Vifon; nước mắm Cát Hải, thương hiệu
vốn nổi tiếng trên thị trường Hải Phòng cũng thường xuyên bị làm giả, điển hình
là Cơ quan Quản lý thị trường Hải Phòng đã bắt quả tang cơ sở sản xuất kinh
doanh nước mắm giả của bà Nguyễn Thị Re (xã Mỹ Đồng, huyện Thuỷ Nguyên)
dùng kẹo đắng, nước muối và một số chất phụ gia khác đóng chai nhãn "Nước
mắm Cát Hải", thu giữ tiêu huỷ 2.052 chai nước mắm và 3.500 nhãn mác giả của
Công ty nước mắm Cát Hải, xử phạt hành chính 15 triệu đồng, sữa bột bị làm giả
từ loại đóng gói theo kilogram bày bán công khai trên thị trường [55, tr. 3].
- Nhóm mặt hàng rượu: Rượu, bia giả xuất hiện rất nhiều trên thị trường,
rượu giả có đủ loại: rượu nội giả, rượu ngoại giả, làm giả trong nước và làm giả
cả ở nước ngoài. Rượu ngoại giả chủ yếu mang nhãn hiệu của loại rượu đắt tiền 16
như Rermy, Johny Walker, vang ngoại… Rượu nội bị làm giả nhiều nhất là rượu
Nếp mới, Lúa mới của Công ty Rượu Hà Nội, Vang Đà Lạt. Tại các vũ trường
và các bar rượu, hầu hết rượu ngoại bày bán tại đây là rượu nhập lậu sử dụng tem
2
2002
117.308
3
2003
14.296 17
4
2004
3.126
5
2005
3.786
6
2006
2.349
7
Tng s
143.322
Tình trạng làm và l-u thông hàng giả hiện nay đang đặt ra những thách
thức to lớn đối với nền kinh tế. Những vi phạm về hàng giả xảy ra ở hầu khắp các
lĩnh vực sản xuất, ngành hàng và địa ph-ơng, d-ới nhiều hình thức khác nhau. Có
thể nói mặt hàng nào cũng có thể bị làm giả. Nhiều sản phẩm của các th-ơng
hiệu có uy tín nh-: Cà phê Trung Nguyên, Xi măng Hà Tiên, sản phẩm may Việt
Tiến, n-ớc khoáng LaVie đều bị làm giả về nhãn hiệu hàng hóa hoặc kiểu dáng
công nghiệp. Ngay nh- cổ phiếu, một loại hình kinh doanh rất mới mẻ của Việt
Nam, cũng đã bị một nhóm ng-ời làm giả. Nguy hiểm nhất là các sản phẩm làm
có một là đ-ợc sao chép trái phép, giày thể thao Nike, Viagra và thuốc ngừa thai,
bộ lọc dầu và thiết bị đánh lửa, tất cả đều bị làm giả. Do tiết kiệm đ-ợc chi phí
nghiên cứu và tiếp thị, những ng-ời làm hàng giả có thể tung ra thị tr-ờng hàng
giả với giá rẻ hơn nhiều so với hàng thật [47].
- Theo báo cáo của Phòng Th-ơng mại Mỹ: Tại Mỹ mỗi năm, các ngành
công nghiệp Mỹ thất thu từ 200 - 250 tỷ USD và hơn 750.000 lao động thất nhiệp
vì nạn sản xuất hàng giả [61, tr.15].
- Tại Italia: Hoạt động làm hàng giả đã tăng đến chóng mặt trong vòng
m-ời năm qua, đứng hàng thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Hàng
giả trở thành hiểm hoạ cho nhiều doanh nghiệp làm ăn hợp pháp, với nguy cơ
đánh mất không chỉ thị phần mà còn cả uy tín đối với khách hàng. Mỗi năm, tập
đoàn Proter & Gamble phải chi tới 3 triệu USD bồi th-ờng khách hàng mua phải
hàng giả, ch-a kể các khoản chi phí phát sinh cho các biện pháp chống hàng giả.
Thành phố Milan - Italia, kinh đô thời trang, cũng đứng đầu thế giới về sản xuất
các loại hàng giả cao cấp.
- Tại Đức ngày càng nhiều hàng giả xuất hiện trong cửa hàng. Hàng giả
chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc, ngay đến dấu niêm phong kiểm tra sản phẩm
cũng đ-ợc làm giả. Trong vòng 10 năm qua, số vụ hàng giả bị tịch thu tại Đức đã