ĐẦU TƯ PHẤT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC GẮN VỚI NHU CẦU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP - Pdf 26

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA ĐẦU TƯ
ĐỀ ÁN MÔN HỌC
ĐỀ TÀI : ĐẦU TƯ PHẤT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC GẮN
VỚI NHU CẦU XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên hướng dẫn : Ths. Trần Thị Mai Hương
Sinh viên thực hiện : Giàng A Nữ
MSSV : CQ515632
Lớp : Kinh tế Đầu tư 51A
Hà Nội, tháng 08 năm 2013
MỤC LỤC
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI
HỌC GẮN VỚI NHU CẦU XÃ HỘI
1. Đầu tư phát triển giáo dục đại học
1.1 Đầu tư và đầu tư phát triển
Đầu tư nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt
động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực
đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt
được kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh
chịu khi tiến hành đầu tư.
Nguồn lực phải hy sinh có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí
tuệ. Kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật
chất (nhà máy, đường sá, bệnh viện, trường học,…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa,
chuyên môn, quản lý, khoa học kỹ thuật,…) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện làm
việc với năng suất lao động cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Trong những kết quả
này, những kết quả trực tiếp của sự hy sinh các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn
nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi không chỉ đối với
người bỏ vốn mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ người
đầu tư mà cả nền kinh tế xã hội được thụ hưởng.

đẳng công lập và một phần là các nhà đầu tư ngoài nhà nước với việc hình thành nên
các trường đại học, cao đẳng ngoài công lập.
Hình thức đầu tư phát triển giáo dục đại học rất đa dạng, có thể từ nguồn vốn
của nhà nước, hoặc từ chính nguồn vốn của các trường, trong đó có xây dưng cơ sở vật
chất như giảng đường đại học, ký túc xá, trung tâm hỗ trợ đào tạo, phòng thí nghiệm,
phòng thực hành, khu vui chơi, thể thao; đầu tư vào số lượng cũng như chất lượng đội
ngũ cán bộ giảng viên, đầu
tư vào thiết kế, đổi mới chương trình giảng dạy, phương pháp giảng dạy, …
cũng như các chương trình liên kết giáo dục gắn với thực tế.
Đầu tư phát triển giáo dục đại học được coi là chìa khóa thành công của 1 quốc
gia. Chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại, sự thịnh vượng của quốc gia lại phụ thuộc
mạnh mẽ, trực tiếp như vậy vào quy mô và chất lượng giáo dục đại học như hiện nay.
2
1.3 Đầu tư phát triển giáo dục đại học gắn với nhu cầu xã hội
1.3.1. Hiểu thế nào về giáo dục đại học theo nhu cầu xã hội
Hiện nay, khái niệm nhu cầu xã hội về đào tạo đại học còn tồn tại nhiều quan
điểm khác nhau. Có quan điểm cho rằng nhu cầu xã hội. Có quan điểm cho rằng nhu
cầu xã hội về đạo tạo đại học là nhu cầu của những thí sinh mong muốn và có khả năng
theo học đại học. Đây thường là cách hiểu theo qua điểm marketing khi mà trường đại
học được xem như là một doanh nghiệp và người đem lại nguồn thu cho doanh nghiệp
chính là sinh viên. Họ được xem là khách hàng và sẽ quyết định hình thái của nhu cầu
về đào tạo đại học. Quan điểm khác lại cho rằng nguồn thu của các trường đại học công
lập của Việt Nam chủ yếu lấy từ ngân sách của Nhà nước, do vậy Nhà nước cũng cần
được xem là một khác hàng có tính chất quyết định tới hình thái của nhu cầu đào tạo
đại học. Nhà nước có thể đưa ra các yêu cầu về đào tạo đại học như chỉ tiêu tuyển sinh,
các chuẩn đầu ra, đầu vào ở bậc đại học.
Quan điểm toàn diện hơn dưới góc độ hiệu quả kinh tế lại nhìn nhận nhu cầu xã
hội về đào tạo đại học là nhu cầu của nhà tuyển dụng về lao động có trình độ đại học
với quy mô và cơ cấu theo mỗi ngành, nghề nhất định. Theo nghiên cứu của Tazeen
Fasih (2008) về kết nối chính sách giáo dục với kết quả của thị trường lao động, dưới

triển khác, cần đầu tư cho cơ sở hạ tầng nhằm đáp ứng nhu cầu về giảng đường, thư
viện, phòng thí nghiệm, khu nghiên cứu khoa học phục vụ cho hoạt động học tập,
nghiên cứu; khu thể thao, vui chơi giải trí giúp phục vụ cho hoạt động vui chơi, rèn
luyện, nâng cao thể chất của sinh viên, cán bộ giảng viên. Ngoài ra còn các khu ăn
uống, khu kí túc xá hỗ trợ cho quá trình đạo tạo.
Số lượng các thiết bị vật tư như bàn ghế, bảng, phấn, quạt, máy chiếu, loa, mic,
đồ dùng thí nghiệm… cũng cần được đầu tư bài bản để phục vụ cho công tác giảng
dạy.
Số lượng giảng viên, cán bộ quản lý, phục vụ cũng là khá lớn trong công tác
giáo dục đại học.
Tất cả các yêu cầu trên đều cần một lượng vốn lớn cho xây dựng, thanh toán,
mua sắm, trả lương…
Thứ hai, thời kỳ đầu tư cho giáo dục đại học thường kéo dài.
Thời kỳ đầu tư cho giáo dục đại học ở đây được xem xét trên ba khía cạnh.
Một là đầu tư xây dựng mở rộng giảng đượng thì cũng giống như đầu tư xây
dựng cơ bản nên thời gian là khá dài.
4
Hai là đầu tư cho chương trình giảng dạy, đội ngủ giảng viên sao cho phù hợp
với tiêu chuẩn giảng dạy, đào tạo được những sinh viên phù hợp với nhu cầu xã hội.
Nên nhớ rằng trước khi là giảng viên thì người thầy, người cô cũng cần 12 năm học
phổ thông, 4-6 năm học đại học, cao đẳng, thêm nhiều năm để nghiên cứu sinh, tìm tòi,
học tập phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp mới đứng được trên giảng đường đại
học. Bên cạnh đó thì các bộ sách giáo trình cũng cần hàng năm nghiên cứu, viết lách,
tái bản mới xuất bản được một quyển giáo trình hoàn chỉnh. Như vậy có thể nói thời kì
đầu tư cho đội ngủ giảng viên là khá dài.
Ba là đầu tư đào tạo sinh viên để ra trường có thể tìm được việc ngay, gắn với
các nhu cầu thực tế của xã hội. Giai đoạn này cũng gồm từ 4-6 năm.
Thứ 3, kết quả của hoạt động đầu tư phát triển giáo dục đại học sẽ phát
huy tác dụng suốt đời và có tính chất lan tỏa toàn xã hội.
Kết quả của hoạt động đầu tư giáo dục đại học là số lượng sinh viên ra trường

định nguồn cung cũng cần tính đến ảnh hưởng của các cơ sở đào tạo nước ngoài, khả
năng du học và tỷ lệ quay về nước làm việc. Đầu tư cho hoạt động này cần sự quan tâm
đúng mức của nhà nước và các trường, để tạo ra lượng cung ứng sinh viên ra trường đủ
với nhu cầu xã hội, tránh hiện tượng quá thừa ngành này, thiếu ngành kia, thất
nghiệp…
2.3 Đầu tư thiết kế chương trình và nội dung đào tạo
Từ các tiêu chuẩn nghề đã được xác định ở phần xác định nhu cầu đào tạo, các
trường đại học, cao đẳng có thể chủ động đầu tư, thiết kế khung chương trình, nội dung
môn học để đáp ứng các tiêu chuẩn nghề nghiệp. Để đảm bảo chất lượng, các trường
đại học, cao đẳng cần đầu tư, nghiên cứu để công bố được một chuẩn đầu ra hợp lý,
đảm bảo cho sinh viên tốt nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn nghề đã được xác định.
2.4. Đầu tư xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ đào tạo theo nhu cầu
Do trong cơ chế thị trường, các chủ thể sẽ chạy theo lợi nhuận và có thể làm
méo mó các quan hệ cung cầu đào tạo đại học. Cơ quan quản lý nhà nước cần nghiên
cứu để có những biện pháp can thiệp để tạo hành lang chung cho các cơ sở đạo tạo
cạnh tranh lẫn nhau cũng như để đảm bảo thực hiện việc đào tạo theo nhu cầu. Các
chính sách hỗ trợ cũng được đầu tư bao gồm chính sách tác động đến cơ sở đào tạo như
các quy định thành lập trường, các khung chương trình chung, về chỉ tiêu tuyển sinh,
mức thu học phí… Các chính sách tác động đến nhu cầu của người học là chính sách
về học bổng, cho sinh viên vay, miễn giảm học phí…
6
2.5. Đầu tư tổ chức đào tạo
Các cơ sở đào tạo tổ chức tuyển sinh theo các chuẩn đầu vào với quy mô và cơ
cấu hợp lý. Ở các nước có nền giáo dục phát triển mạnh, một thị trường cạnh tranh lành
mạnh, thì cơ chế thị trường tỏ ra hiệu quả trong việc điều tiết quy mô tuyển sinh cũng
như các chuẩn đầu vào. Các cơ sở giáo dục muốn khẳng định được mình trên thị
trường sẽ tự đánh giá khả năng đào tạo để xác định quy mô cũng như đưa ra các chuẩn
đầu vào phù hợp.
2.6. Đầu tư Tổ chức đánh giá quá trình đào tạo theo nhu cầu
Hàng năm, các cơ sở đào tạo cần đánh giá chất lượng đào tạo dưới góc nhìn của

học và cao đẳng liên tục tăng qua các năm. Từ năm 2001 đến năm 2007 là 4 lần, thể
hiện sự quan tâm của nhà nước cho công tác giáo dục đại học.
Tuy nhiên con số này (gần 300 tỉ đồng năm 2007) vẫn còn khá khiêm tốn khi so
sánh với một số nước trên thế giới.
Từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước trở lại đây, Mỹ rất chú trọng đầu tư cho
giáo dục, nhất là giáo dục đại học. Theo đó, ngân sách đầu tư cho giáo dục của Mỹ rất
cao: năm 1985 khoảng 300 tỉ USD, năm 1989 là 353 tỉ USD, đến năm 1999 đạt 653 tỉ
USD, kéo theo đó là sự gia tăng về số lượng tuyệt đối chi ngân sách cho giáo dục đại
8
học. Hiện nay, tỷ lệ đầu tư cho giáo dục của Mỹ chiếm khoảng 7% GDP, toàn bộ chi
tiêu cho giáo dục đào tạo hằng năm xấp xỉ 1.000 tỉ USD, trong đó giáo dục đại học
chiếm khoảng hơn 700 tỉ USD.
Ngân sách nhà nước là thành phần chính trong các nguồn vốn cho giáo dục đại
học ở Trung Quốc, điều đó được ghi rõ trong Điều 60, Luật Giáo dục đại học của nước
này. Từ năm 1994, thực hiện yêu cầu “3 tăng trưởng”, có nghĩa là “mức tăng ngân sách
nhà nước cho giáo dục phải cao hơn mức tăng thu nhập ngân sách thường xuyên để
từng bước tăng chi phí giáo dục tính bình quân theo đầu học sinh, bảo đảm tăng lương
giáo viên và tăng chi phí dùng chung tính theo đầu học sinh”, từ đó đến nay, ngân sách
đầu tư cho giáo dục của Trung Quốc không ngừng tăng lên. Tuy nhiên, sức ép về nhu
cầu mở rộng quy mô nâng cao chất lượng giáo dục đại học cộng với nhu cầu đầu tư cho
các lĩnh vực khác đã buộc Chính phủ Trung Quốc phải giảm tỷ lệ đầu tư từ ngân sách
nhà nước cho giáo dục đại học và chỉ tăng lượng đầu tư tuyệt đối. Hiện nay, mức chi
cho giáo dục của Trung Quốc chiếm khoảng 3,28% GDP.
1.2 Đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ giáo dục đại học
1.2.1 Đầu tư cho cơ sở hạ tầng
Từ sau khi đổi mới giáo dục đại học, cao đẳng Việt nam đến nay số lượng
trường đại học và cao đẳng của Việt Nam tăng qua từng năm.
Bảng: Số lượng các trường cao đẳng tính đến năm 2011
Năm 2007 -2008 2008 - 2009 2009 - 2010 2010 - 2011
Trường 206 223 227 223

nhiều thủ tục, cơ chế nên nhiều dự án làm xong nhưng không giải ngân được. Đến thời
điểm này, lĩnh vực này có 529 hạng mục công trình đã hoàn thành nhưng các chủ đầu
tư chưa tập hợp được đầy đủ hồ sơ để trình bộ thẩm tra, quyết toán với tổng số vốn lên
đến gần 3.000 tỷ đồng.
Cá biệt, có nhiều công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng từ giai đoạn 1995-
2000 như CĐ Sư phạm TƯ TPHCM, ĐH Sư phạm TDTT Hà Nội, Học viện Quản lý
giáo dục. Thậm chí ĐH Bách khoa có vốn tồn đọng lên đến 600 tỷ đồng.
Về thời gian giải ngân, GS-TS Từ Quang Hiển, Giám đốc Trường ĐH Thái
Nguyên, kiến nghị xem lại thời hạn phân bổ ngân sách cho các trường chứ như hiện
nay là khó cho các trường xây dựng kế hoạch. Theo quy định, cuối tháng 12 hàng năm,
các trường nộp báo cáo về Bộ GD-ĐT nhưng mãi đến tháng 3 năm sau mới giải ngân là
trễ. Đặc biệt, đối với các ĐH vùng có đào tạo hệ cử tuyển, Bộ GD-ĐT cũng nên xem
xét lại và quy định rạch ròi hơn để giảm bớt gánh nặng về kinh phí đào tạo cho các
trường.
10
Chia sẻ quan điểm trên, nhiều trường cho rằng vấn đề giải ngân, cấp kinh phí
cho các trường phải thực hiện mềm dẻo hơn. Ví dụ, bộ nên cấp kinh phí trọn gói cho
các công trình, các hạng mục đầu tư trong năm chứ không tính riêng từng hạng mục vì
trong các dự án thực hiện, có những dự án dưới 1 tỷ đồng thì nhà trường bỏ 100% vốn
đầu tư nên không cần điều kiện phải có 30% vốn đối ứng.
Điển hình là dự án Trung tâm Đào tạo Trường ĐH Kinh tế Quốc dân (Hà Nội)
lúc đầu dự kiến 700 tỷ đồng nhưng nay đã đội lên khoảng 1.000 tỷ nhưng trong năm
2009 mới được cấp 50 tỷ đồng (thực tế mới giải ngân 23 tỷ đồng). Như vậy, trung tâm
này phải mất… 20 năm mới xây xong nếu vẫn giữ nguyên cách làm này…
1.2.2 Đầu tư đổi mới trang thiết bị giảng dạy
Hiện nay đa phần các trường đều đầu tư đổi mới trang thiết bị phục vụ công tác
giảng dạy như là đầu tư hệ thống máy chiếu cho các giảng đường, đầu tư đồng bộ hóa
hệ thống bàn ghế, quạt, bảng,… phù hợp với thực tế. Một số trường còn đầu tư thêm hệ
thống điều hòa để phục vụ công tác giảng dạy được tốt hơn. Ví dụ như trường ngoại
thương có hệ thống điều hòa tổng làm mát cả tòa nhà giảng đường chính của trường.

Những ai từng dạy học hay có dính dáng trực tiếp tới ngành giáo dục đều biết
rằng sách giáo trình, tài liệu tham khảo đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc
giảng dạy và mở mang kiến thức cho sinh viên. Trong các trường đại học ở các nước
phương Tây, ngừơi ta không những nghiên cứu việc chọn và dùng sách giáo trình rất
kỹ lưỡng, mà còn duyệt xét lại tính hiện hành, cập nhật hóa của sách hàng năm. Trong
ngành y khoa, nhiều khi sách giáo trình không cập nhật hóa kịp những tiến bộ của y
học, nên giáo sư phải yêu cầu sinh viên tham khảo thêm các tạp chí y khoa uy tín.
Tuy nhiên ở Việt Nam thì sao? Hệ thống sách giáo trình bậc đại học, không
những thiếu một cách nghiêm trọng, mà sách đang dùng để dạy nhiều khi đã lạc hậu cỡ
30 - 40 năm. Những ai từng ghé qua Trường Ðại Học Y Dược ở Sài Gòn hay Trường
Ðại học Tổng hợp (Ðại học Khoa học cũ) hay Trường Ðại học Kỹ thuật (Trung tâm Kỹ
thuật Phú thọ cũ) đều cảm thấy xót xa cho cái thư viện vừa nhỏ bé vừa nghèo nàn.
Trường Ðại Học Y Dược ở Sài Gòn không có những tạp chí y khoa lớn hiện hành cho
giảng viên và sinh viên tham khảo! Trong khi đó, phần lớn các sách giáo khoa, tạp chí
do nước ngoài viện trợ đều đã quá cũ. Như trường đại học kinh tế quốc dân (được coi
là trường đầu ngành về kinh tế của cả nước, trường trọng điểm quốc gia) mà tôi đang
theo học cũng chỉ có một thư viện bé tí với sức chứa tối đa khoảng 200 người. Nhiều
khi sinh viên muốn vào tham khảo tài liệu cũng không được do đã quá đông. Sự thiếu
12
thốn sách giáo trình, sách đã lạc hậu so với thời đại, môi trường học tập nghiên cứu
thiếu đã dẫn đến một hậu quả có thể đoán được là: kiến thức khoa học của sinh viên
kém hay thậm chí sai, chất lượng đào tạo bị hạ thấp so với trình độ chung trên thế giới.
1.3.2 Đầu tư đổi mới phương pháp giảng dạy
Phương pháp giảng dạy đã được đổi mới khá nhiều từ hình thức giảng viên đọc
sinh viên chép sang giảng viên hướng dẫn, sinh viên tự tìm hiểu, điều đó đã kích thích
trí sáng tạo, sự năng động, ham học hỏi của sinh viên nhiều hơn.
Ta vẫn biết là phương pháp đào tạo truyền thống trong các trường đại học ở
trong nước vẫn chủ yếu phương pháp "độc thoại" và "thụ động": thầy giảng bài, trò
chép bài. Sinh viên phải tuân theo sách vở một cách máy móc, sau đó phải học thuộc
lòng một số kiến thức căn bản, mà không biết những kiến thức này sẽ ứng dụng vào

Ngoài công lập 3270 3991 5875 7555
Phân theo trình độ chuyên môn
Tiến sĩ 5643 5879 6448 7338
Thạc sĩ 15421 17046 19856 22865
Chuyên khoa I
và II
314 298 413 434
ĐH, CĐ 16654 17610 19090 20059
Trình độ khác 185 174 154 255

Trong quy hoạch phát triển nhân lực ngành giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 vừa
được Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành, đến năm 2019 - 2020 bậc cao đẳng nhu cầu
giảng viên có trình độ thạc sỹ là khoảng 27.000 người, trình độ tiến sỹ là 3.500 người;
nhu cầu của bậc đại học là khoảng 58.000 người trình độ thạc sỹ và 29.000 người trình
độ tiến sỹ.
Tuy nhiên đã có sự mất cân đối về tăng trưởng quy mô đào tạo đại học với sự
phát triển của đội ngũ giáo viên và khả năng đầu tư cơ sở vật chất của cơ sở đào tạo.
Trong khi quy mô tăng 13 lần từ năm 1987 tới năm 2009, số giảng viên chỉ tăng có 3
lần. Điều này dẫn tới tỷ lệ sinh viên/ giảng viên tăng cao và đạt mức 28 sinh viên/
giảng viên vào năm 2009. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở các trường ngoài công
lập. Nhìn chung, các trường ngoài công lập có số giảng viên cơ hữu thường thấp hơn số
giảng viên thỉnh giảng. Nhiều giảng viên thỉnh giảng cùng lúc ở nhiều cơ sở đào tạo, có
những giảng viên thỉnh giảng nhưng thực chất lại không đi giảng. Điều này làm cho chỉ
số thực sinh viên/ giảng viên còn cao hơn mức báo cáo là 28.
1.5 Đầu tư xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo
Theo quyết định của thủ tướng chính phủ, năm 2012 là năm thứ hai của thời kỳ
thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính với các đơn vị sự nghiệp công
14
lập. Các trường và đơn vị trực thuộc Bộ được giao dự toán gồm ba nhóm là tự đảm bảo
chi phí hoạt động, tự đảm bảo một phần và do nhà nước cung cấp 100%, tức là vẫn có

thực hiện nhiều hội thảo hướng nghiệp, tạo mối liên kết, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng
của doanh nghiệp, ngoài các doanh nghiệp trong nước mà ta thường thấy ở các trường
ĐH như: Vietcombank, Techcombank, Mobifone, ACCA…Nhiều trường còn liên kết
đào tạo với các trường ĐH nước ngoài, các doanh nghiệp nước ngoài, nhằm tạo ra một
môi trường giáo dục quốc tế, tiến tới ngang tầm khu vực và đạt trình độ thế giới
2. Đánh giá kết quả đầu tư phát triển giáo dục đại học theo nhu cầu xã hội ở Việt Nam
2.1 Thành tích đạt được
2.1.1 Tăng trưởng quy mô đào tạo đại học
Giáo dục đại học, cao đẳng những năm vừa qua đã có sự tăng trưởng lớn về quy
mô. Năm 1987 cả nước có 144.140 sinh viên thì tới năm 2011, quy mô đã tăng 13 lần
với tổng số 2.162.106 sinh viên. Cơ sở đào tạo đại học cũng có sự tăng trưởng mạnh,
năm 1987 cả nước có 63 trường đại học, tới năm 2011 đã có 163 trường. Đặc biệt nhờ
chính sách xã hội hóa giáo dục đại học, đến nay nước ta đã có 50 trường đại học ngoài
công lập. Tuy nhiên với đà tăng của quy mô giáo dục đại học thế này đã dẫn đến tăng
trưởng nóng trong ki các điều kiện đi kèm chưa theo kịp. Điều này có thể ảnh hưởng
đến tính bền vững của sự tăng trưởng và có nguy cơ ảnh hưởng đến chất lượng giáo
dục đại học.
16
Bảng 2: Quy mô đào tạo đại học, cao đẳng 2007 - 2011
(đơn vị: sinh viên)
Năm 2007 - 2008 2008 - 2009 2009 - 2010 2010 - 2011
Sinh viên 422937 476721 576878 726219
Công lập 377531 409884 471113 581829
Ngoài công lập 45406 66837 105765 144390
Hệ chính quy 344914 429544 527533 675724
Hệ cử tuyển 1323 662 794 1060
Vừa làm vừa
học
76700 46615 48551 49435
Tốt nghiệp 81694 79199 96325 130966

hợp tác với Phương Nam Banh và Sacombank và một số doanh nghiệp khác. Dây là
mô hình đầu tiên của sự đào tạo theo yêu cầu của thị trường. Với mô hình liên kết đào
tạo thế này, chất lượng sinh viên Việt Nam ra trường sẽ khẳng định được tên tuổi của
mình khi xin việc vào các công ty liên doanh, các công ty FDI có vốn đầu tư trực tiếp
từ nước ngoài.
2.1.3 Chất lượng sinh viên đầu ra so với nhu cầu xã hội
Mặc dù ở đâu đó thể hiện sự quan ngại về chất lượng giáo dục đại học chưa đáp
ứng được nhu cầu của xã hội, tuy nhiên nghiên cứu cho thấy có tới 83% các nhà tuyển
dụng cho rằng cử nhân và các kỹ sư đã đáp ứng được tương đối tốt yêu cầu của công
việc. Như sinh viên khá giỏi ở khoa tự động hóa trường đại học bách khoa khi chưa ra
trường đã có rất nhiều nhà tuyển dụng đến tận nơi đặt vấn đề tuyển dụng vào làm việc
khi các sinh viên này ra trường.
2.2 Những hạn chế còn tồn tại
2.2.1 Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng tương xứng với nhu cầu
của xã hội
Tại các quốc gia phát triển, hệ thống giáo dục và đào tạo luôn đáp ứng nhu cầu
của xã hội. Hàng năm, mỗi khi gần ngày tốt nghiệp, các doanh nghiệp thường đến các
trường để tuyển nhân viên và “chiêu mộ” nhân tài. Công ty càng lớn, càng chủ động
tìm đến các trường đại học danh tiếng và tầm cỡ.
Các trường học là nơi cung cấp nhân lực cho xã hội và theo nhu cầu của thị
trường. Vì thế, để cạnh tranh và tồn tại, và để bắt kịp thị trường nhân lực, các trường
thường chủ động tăng thêm chương trình, mở rộng ngành nghề hoặc bãi bỏ một số
chương trình mà đầu ra không cần thiết nữa. Thí dụ khi chính quyền Mĩ mới thành lập
Bộ Nội an, sau sự kiên ở Niu - Óc ngày 9 tháng 11, có trên 30 đại học đã đón đầu, mở
ra chương trình đào tạo cử nhân, thạc sĩ về an ninh nội địa và chống khủng bố, nhận
thấy giao thương mà Mỹ và Trung Quốc tăng nhanh, để cung cấp chuyên gia, nhân lực
18
cho các công ty có buôn bán và đầu tư với Trung Quốc, một số các trương đại học đã
thêm các môn học về Trung Quốc. Những sự thay đổi, đón đầu đó của các trường đại
học, cao đẳng ở Mỹ không cần phải có một chỉ thị hay chính sách nào của nhà nước,

Mức độ cần thiết cao hơn đối với kỹ sư. Dù đúng hay không đúng chuyên ngành, các
cử nhân đều cần được đào tạo bổ sung trước khi chính thức đảm nhiệm công việc một
cách độc lập. Thời gian trung bình đối với các cử nhân là 3,8 tháng nếu đúng chuyên
ngành và 5 tháng nếu không đúng chuyên ngành. Thời gian đào tạo bổ sung trung bình
đối với kỹ sư thấp hơn ở mức 1,2 tháng nếu đúng chuyên ngành và 4,2 tháng nếu
không đúng chuyên ngành.
Mặc dù các vi trí tuyển dụng đều được các nhà tuyển dụng nêu rõ yêu cầu về
trình độ, bằng cấp, nhưng các vị trí tuyển dụng chưa có đầy đủ bảng mô tả công việc
nói lên các tiêu chuẩn, kỹ năng các ứng viên cần có khi tuyển dụng. Có thể nói là chưa
có chuẩn nghề nghiệp rõ ràng. Điều này đã gây khó khăn cho các ứng viên chuẩn bị
những điều kiện cần thiết khi đi tuyển dụng cũng như việc thiết kết chương trình đào
tạo của các trường. Chính vì thế nhiều sinh viên đã lựa chọn phương án an toàn, cứ học
thêm nhiều thứ để cần cái gì là có cái đó. Có tới 86% số sinh viên đã ra trường thuộc
khối kinh tế - xã hội có học thêm các lớp bồi dưỡng ngắn hạn trước khi được tuyển
dụng chính thức. 74% số sinh viên được hỏi đã học thêm từ 2 khóa ngắn hạn trở lên.
Trong khi đó con số phải học thêm các khóa ngắn hạn ở khối kỹ thuật chỉ là 62%. Các
khóa được lựa chọn học bổ sung chủ yếu gồm ngoại ngữ, kỹ năng mềm, tin học ứng
dụng văn phòng, và các khóa bổ trợ chuyên ngành. Qua đây có thể thấy rằng sự hài
lòng của các nhà tuyển dụng phần nào được củng cố bằng chính nỗ lực của các sinh
viên trong việc trang bị thêm những kiến thức, kỹ năng trước khi đi xin việc.
Tồn tại tình trạng trên một phần là do chương trình đào tạo ở Việt Nam vẫn còn
lạc hậu - nhất là về khoa học công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn (trong đó có kinh
tế, tài chính, ngân hàng); phương pháp dạy của thầy vẫn nặng về truyền thụ, phương
pháp học của trò nhìn chung vẫn thụ động, một chiều. Chúng ta đang cố gắng khắc
phục hạn chế này bằng cách tiếp nhận chương trình đào tạo của một số nước phát triển.
Tuy nhiên, những cố gắng này sẽ khó đưa lại kết quả tích cực, chừng nào còn tồn tại sự
thiếu gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học và thực tiễn lao động, sản xuất,
kinh doanh như hiện nay. Sự thiếu gắn kết này khiến nội dung và phương pháp đào tạo
khó thoát khỏi tình trạng lạc hậu, xơ cứng, giáo điều; và tai hại nhất là nó làm mất sức
sống, mất động lực phát triển của đào tạo.

517.012 7.927 1,53%
Nguồn: Niên giám thống kê 2008, báo cáo của Vụ Kế hoạch tài chính, Bộ Giáo
dục và đào tạo
Bảng trên cho thấy tỷ lệ sinh viên đại học trên tổng số lao động ở Đồng bằng
sông Hồng và Bắc Trung Bộ là cao nhất ở mức 3,3% trong khi các vùng còn lại tỷ lệ
thấp hơn, chỉ từ khoảng 1,2% tới 2,1%. Ngay cả ở vùng Đông Nam Bộ tỷ lệ này cũng
chỉ đạt 1,21%
Số liệu khảo sát cũng cho thấy sự mất cân đối cung - cầu lao động đại học theo
vùng lãnh thổ. Các doanh nghiệp ở Hà Nội có thể dễ dàng tuyển dụng được lao động
có trình độ đại học, thậm chí có tới 16% số doanh nghiệp ở thành phố Hà Nội tuyển
dụng lao động có trình độ đại học vào những vị trí không cần trình độ đại học. Ngược
21
lại, các doanh nghiệp ở các địa phương lại gặp khó khăn hơn khi tuyển dụng lao động
có trình độ đại học. 24% doanh nghiệp phải tuyển dụng lao động chưa có trình độ đại
học vào những vị trí lẽ ra phải là cử nhân hoặc kỹ sư. Ngay cả các doanh nghiệp ở
thành phố Hồ Chí Minh cũng gặp nhiều khó khăn trong tuyển dụng lao động có trình
độ đại học.
Đây là hiện tượng không phải là không giải thích nổi khi mà có tới 82% số sinh
viên ngoại tỉnh có xu hướng muốn tìm được việc làm ở thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh. Có một thực tế đáng buồn là sinh viên trường Y ra trường thất nghiệp
nhiều, chuyển công tác sang làm dược sỹ trong khi các bệnh viện cấp huyện, trạm y tế
cấp xã lại đang rất thiếu bác sỹ. Chính tâm lý thích làm việc ở các thành phố lớn của
sinh viên đã làm mất cân đối nguồn lực lao động đại học giữa các vùng.
2.2.4 Đầu tư cho giáo dục cao đẳng, đại học vẫn còn nhiều bất cập
Thứ nhất là chế độ đãi ngộ cho cán bộ Việt Nam còn chưa tương xứng với
công sức họ đóng góp cho giáo dục nước nhà
Có lẽ trên thế giới không đâu có chế độ đãi ngộ thấp kém, tệ hại đối với tri thức
như ở nước ta. Muốn có trình độ cao, theo kịp trình độ khoa học tiên tiến, người giảng
viên phải không học tập. Muốn thế, họ phải có thu nhập hoàn toàn yên tâm để tập trung
vào chuyên môn. Có những giáo sư, tiến sĩ, đã giảng dạy đại học 46 năm, mà lương

viên, thì còn có gì biện minh được về chính sách phát triển đại học của đất nước
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status