Đấu tranh, phòng chống Tội chống người thi hành công vụ ở Việt Nam hiện nay - Pdf 34

MỞ ĐẦU:

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì trong đời sống xã
hội vấn đề gia tăng tội phạm hình sự đang làm đau đầu các nhà quản lý và ngành
chức năng. Những vụ án hình sự ngày càng gia tăng về cả số lượng và tính chất
nguy hiểm ngày càng cao vì thế nó đang là hồi chuông cảnh tỉnh đối với toàn xã
hội. Việc tìm ra Nguyên nhân tội phạm đã và đang đóng một vai trò không nhỏ
trong việc ngăn chặn tình hình tội phạm hiện nay và tìm ra các biện pháp hữu ích
nhằm giảm thiếu tối đa tình hình tội phạm. Với đề tài: Trên cơ sở nghiên cứu một
luận văn thạc sĩ về tội phạm học, hãy trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu của
luận văn về nguyên nhân của tội phạm và rút ra nhận xét cá nhân về kết quả
nghiên cứu đó.
Em đã lựa chọn luận văn thạc sĩ luật học: “Đấu tranh, phòng chống Tội
chống người thi hành công vụ ở Việt Nam hiện nay” (năm 2009) của Đào Bá
Sơn để tiến hành nghiên cứu.
Trên cơ sở đó, rút ra được những bài học ý nghĩa về nguyên nhân của tội
phạm nói chung. Tạo tiền đề cho quá trình tìm hiểu công tác đấu tranh, phòng
chống Tội người thi hành công vụ ở Việt Nam nói riêng.

NỘI DUNG:

1.

Khái quát về nguyên nhân của tội phạm.

Trong tội phạm học, tội phạm là một hiện tượng mang các tính chất cá nhân
và xã hội.Vì thế khi nghiên cứu về nguyên nhân của tội phạm cần nghiên cứu các
nguyên nhân bắt nguồn từ phía xã hội và nguyên nhân xuất phát từ phía cá nhân
người phạm tội, sự tác động của nguyên nhân xã hội dẫn đến nhân cách không tốt

1

Hình

Cá nhân
Thành
Tác

Nảy
Nhân cách lệch
lạc cá nhân

Sinh

Ý định
phạm tội

Động

Tình huống
cụ thể

Đưa đến

Thực hiện
tội phạm

Để làm rõ nguyên nhân của tội phạm, người nghiên cứu thường sử dụng các
phương pháp thống kê, nghiên cứu mẫu và nghiên cứu thực nghiệm.
1

Giáo trình Tội phạm học – Trường Đại học Luật Hà Nội.

Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, thu nhập thấp đã làm cho cuộc sống một bộ
phận người dân trở nên khó khăn. Để thoát khỏi cuộc sống khó khăn, nghèo đói,
nhiều người đã chấp nhận làm những việc phi pháp để có thu nhập như: chở hàng
lậu thuê qua biên giới, chở gỗ lậu thuê, chở than thổ phỉ thuê, phá rừng, buôn bán
hàng cấm,… Khi gặp phải cơ quan chức năng, họ đã liều lĩnh chống lại người thi
hành công vụ để giành giật hoặc tẩu tán hàng phạm pháp.
Trong luận văn của mình tác giả đã lấy ví dụ chứng minh:
Ví dụ 1: Theo bản án hình sự sơ thẩm số 25/2005/HSST ngày 14/4/2005 của
Tòa án nhân dân huyện HNT tỉnh BT, Nguyễn Thanh Long, làm ruộng và thuộc
gia đình nghèo, bố mẹ và anh chị đều là nông dân. Do thu nhập từ nghề làm ruộng

3


không đủ sống, Nguyễn Thanh Long phải làm thêm nhiều nghề khác nhau như
cày , cuốc thuê, lái xe ôm…Nguyễn Thanh Long đã nhận chở gỗ lậu thuê (do lâm
tặc đã chặt xong để ở trong rừng) để lấy tiền trang trải cuộc sống. Khi xe bò của
Long chở gỗ trong rùng ra thì bị lực lượng Kiểm lâm phát hiện, Long đã có hành
vi chống người thi hành công vụ nhằm tẩu tán số gỗ chuyên chở cũng như mấy con
bò chở gỗ. Cụ thể Long có các hành vi như la hét,chửi bới,giật cây rựa chống đối
quyết liệt lực lượng Kiểm lâm.
Ví dụ 2: Theo bản án hình sự sơ thẩm số 66 (2006) HSST ngày 23/5/2006
của Tòa án nhân dân thị xã HB, tỉnh HB, Mai Thị Loan, không có nghề nghiệp và
đang phải nuôi 3 con nhỏ. Loan đã có bán trái phép một gói Heroin với giá
40.000đ cho Lê Thế Tháp. Khi bị tổ công tác làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện bắt
giữ, Loan đã một tay cầm mía, một tay cầm dao chống người thi hành công vụ.
Mặc dù tổ công tác đã giải thích, nhưng Loan vẫn không chấp hành mà còn tiếp
tục chống đối tổ công tác như chủi bới, cầm cây mía quật vào người thi hành công
vụ…
2.2. Nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu kém trong xây dựng, triển khai

Quá trình triển khai công nghiệp hóa, đô thị hóa ồ ạt, thiếu qui hoạch đồng
bộ ở một số địa phương đã tác động đến tâm lý, đời sống người nông dân,… Nhiều
nông dân mất đất sản xuất cho các dự án trong khi việc đền bù, giải phóng mặt
bằng có nhiều yếu tố tiêu cực, đặc biệt việc đền bù đất nông nghiệp cho nông dân
thì rẻ mạt, nhưng sau khi làm cơ sở hạ tầng một cách qua loa, chiếu lệ thì đất đó lại
được bán với giá cao. Điều đã đẩy nhiều người nông dân vào tình trạng bần cùng,
từ đó bức xúc, không kiềm chế được dẫn đến hành vi chống người thi hành công
vụ.
Trong luận văn của mình tác giả đã lấy ví dụ chứng minh:
Theo Bản án hình sự số 216/2006/HSST của Tòa án nhân dân thành phố Hà
Nội thì : Gần 400 người dân xã Kim Nỗ, huyên Đông Anh, thành phố HN vào ngày
13/12/2004 đã sử dụng cờ tổ quốc,biểu ngữ, khẩu hiệu, các bao tải đựng gạch đá,
cát sỏi, sử dụng gậy gộc, giáo mác, lốp xe hỏng, xăng dầu và la hét tấn công lại
lực lượng cảnh sát nhân dân và lực lượng vệ sĩ (100 người) bảo vệ cho việc thi
công dự án sân golf tại đây,có thể xem là một trường hợp điển hình của sự phản
đối đã làm 24 cán bộ chiến sĩ Cảnh sát nhân dân bị thương,24 đến 41%.

5


2.3.

Nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu kém của người thi hành công
vụ và người quản lý.

Trình độ năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của một số người thi
hành công vụ hạn chế, thái độ ứng xử với người dân thiếu minh bạch, có dấu hiệu
tham nhũng tư lợi,không khách quan hoặc thiếu cương quyết làm cho người dân
cảm thấy mình bị thiệt thòi, dẫn đến bất bình, từ đó có hành vi chống đối người thi
hành công vụ mà trong đó, người thi hành công vụ cũng có lỗi chiếm một tỉ lệ

người thi hành công vụ. Trong 210 trường hợp mà tác giả nghiên cứu, số người
phạm tội mà người thi hành công vụ có lỗi thuộc trường hợp này là 11 vụ chiếm tỉ
lệ 5,2 %. Tác giả lấy một ví dụ minh chứng trong Hồ sơ số 190/04-1050/03…
(Trang 39,40 luận văn) .
Công tác tiếp nhận đơn thư, khiếu kiện của dân, công tác tiếp dân, giải quyết
đơn thư,… của công dân ở một số địa phương, một số cơ quan bảo vệ pháp luật bị
coi nhẹ. Nhiều người dân bức xúc, nổi nóng và thực hiện hành vi chống người thi
hành công vụ. Trong 210 bản án mà tác giả nghiên cứu có 20 vụ thuộc trường hợp
này, chiếm tỉ lệ 9,5%. Để minh chứng tác giả đưa ra một ví dụ trong Bản án hình
sự sơ thẩm số 18/2002/HSST của Tòa án nhân dân huyện QT,tỉnh QB (Trang 41
luận văn).
Một yếu kém khác cũng là yếu tố dẫn đến việc chống người thi hành công
vụ là việc thiếu trách nhiệm của cấp trên kiểm tra, giám sát việc thi hành công vụ
của cán bộ, công chức cấp dưới, chưa cương quyết xử lý sai sót của cấp dưới,…
Từ đó góp phần tác động đến sự phát sinh các hành vi chống người thi hành công
vụ.
Tóm lại, tất cả các sai sót liên quan dến năng lực chuyên môn, phẩm chất
đạo đức, trách nhiệm của người thi hành công vụ ở các khâu của quá trình quản lý
Nhà nước trong nhiều năm qua trên tất cả các mặt đời sống xã hội đã tạo thành môi
trường xã hội tiêu cực, một yếu tố làm phát sinh tình hình tội phạm chống người
thi hành công vụ ở nước ta.
2.4. Nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu kém trong công tác xử lý vi
phạm và tội phạm chống người thi hành công vụ.

7


Việc xử lý vi phạm nói chung (trong đó có vi phạm chống người thi hành
công vụ, của một số cơ quan có thẩm quyền còn chưa cương quyết, nghiêm khắc).
Điều này đẫn đến việc người vi phạm coi thường kỉ cương, phép nước, tiếp tục

phương chưa thực sự nghiêm điều này đã tác động, ảnh hưởng nhất định đến tâm
lý của người phạm tội làm cho những người này coi thường pháp luật, từ đó có
hành vi chống đối người thi hành công vụ.
3. Nhận xét việc trình bày nguyên nhân tội phạm của luận văn.
3.1. Ưu điểm.
3.1.1. Về hình thức trình bày.
Việc phân loại các nguyên nhân của tình hình tội phạm có thể dựa trên
những căn cứ khác nhau, dẫn đến những sự phân loại khác nhau. Trong luận văn
này, tác giả đã phân loại những nguyên nhân của các tội chống người thi hành công
vụ căn cứ vào nội dung của tác động xã hội. Với việc phân chia các nhóm nguyên
nhân nói trên về các tội chống người thi hành công vụ, chúng ta có thể nhìn rõ hơn
bản chất xã hội của loại tình hình tội phạm này. Cách sắp xếp và trình bày các
nguyên nhân của tác giả cũng rất khoa học, logic và có chủ đích.
Cách trình bày các mục và tiểu mục trong Chương II của tác giả cũng như
toàn luận văn được sắp xếp một cách hợp lý, khoa học. Tác giả sử dụng cấu trúc
đánh số hỗn hợp cho một bài luận văn không phải quá dài là tương đối phù hợp,
cách trình bày này giúp người đọc tiếp cận một cách dễ dàng và hình dung được
kết cấu, những gì tác giả muốn trình bày về nguyên nhân của tội phạm trong luận
văn.
3.1.2. Về nội dung trình bày.
Thứ nhất, phần trình bày về nguyên nhân của tội phạm tội chống người thi
hành công vụ của tác giả mang tính khoa học biện chứng cao. Tác giả đã thông qua
việc nghiên cứu các vụ án thực tế, cụ thể là 210 bản án trên thực tế. Xem xét từng
bản án để tìm ra nguyên nhân phạm tội của loại tội phạm này. Sau đó tác giả phân
loại chúng theo các nhóm nguyên nhân, rồi tiến hành tổng hợp và tìm ra tỉ lệ phần
trăm cụ thể của từng nguyên nhân được nêu trong tổng số 210 bản án đã được

9





Theo quan điểm của cá nhân thì chỉ nên sử dụng một thuật ngữ duy nhất là
“nguyên nhân” của tội phạm trong bài luận văn. Còn nếu để dễ hiểu hơn tác giả
nên tách bạch hai thuật ngữ này khi phân tích cụ thể.
Thứ ba, ở nguyên nhân thứ 4 tác giả có nêu “Nguyên nhân, điều kiện thuộc
về yếu kém trong công tác xử lý vi phạm và tội phạm chống người thi hành công
vụ”. Với cách đặt tiêu mục như vậy của tác giả gây cảm giác khó hiểu, không rõ ý.
Nếu chưa tìm hiểu nội dung thì rõ ràng khi nhìn vào đề mục nguyên nhân thứ 4 này
thì dễ hiểu rằng tác giả muốn trình bày nguyên nhân thuộc về công tác xử lý vi
phạm và thứ hai là tác giả sẽ trình bày về tội phạm chống người thi hành công vụ là
hai phần riêng biệt. Theo ý kiến cá nhân thì nên sửa lại tiêu mục cho dễ hiểu ý của
tác giả như sau : “Nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu kém trong công tác xử lý vi
phạm nói chung và xử lý tội phạm chống người thi hành công vụ nói riêng”.Như
vậy thì sẽ đúng với những gì tác giả trình bày trong luận văn hơn. Hoặc sửa :
Nguyên nhân, điều kiện thuộc về yếu kém trong công tác xử lý vi phạm trong đó có
công tác xử lý tội phạm chống người thi hành công vụ”.
3.2.2. Về nội dung trình bày.
Thứ nhất, tác giả có đi sâu phân tích quan điểm lý luận và các ví dụ có tính
thuyết phục. Tuy nhiên tác giả mới chỉ trình bày ở góc độ nêu nguyên nhân và đưa
ra ví dụ tình huống cụ thể, tác giả vẫn chưa làm rõ được các mối quan hệ cũng như
sự tác động qua lại giữa cá nhân người phạm tội trong sự tác động từ môi trường
bên ngoài, rồi trong các tình huống cụ thể.
Thứ hai, tác giả chưa nêu được trong luận văn của mình phần khái quát
chung về nguyên nhân của tội phạm trong tội phạm học nói chung. Theo quan
điểm của cá nhân thì nên có một phần cơ sở lý luận về nguyên nhân của tội phạm
nói chung trước khi tiến hành phân tích các nguyên nhân cụ thể của tội chống
người thi hành công vụ.
Thứ ba, khi trình bày về nguyên nhân đầu tiên mục 2.1 “Nguyên nhân, điều
kiện thuộc về điều kiện kinh tế, xã hội” tác giả trình bày phần này hơi ngắn, tính

hiệu quả tội phạm xảy ra trong xã hội

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status