1
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG I
TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ VÀ DẤU HIỆU PHÁP LÝ
CỦA TỘI NÀY THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999
1.1. KHÁI NIỆM TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
Trong Bộ luật hình đầu tiên của nước ta năm 1985, tội chống người thi
hành công vụ được quy định tại chương VIII: Các tội xâm phạm an toàn trật tự
công cộng và trật tự quản lý hành chính, mục C, Điều 205 như sau:
“Người nào dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực chống người thi hành
công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn ép họ thực hiện những hành vi trái pháp
luật, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 101 và điều 109, hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của người khác…”
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Bộ luật hình sự 1985, Bộ luật hình sự
1999 đã quy định tội chống người thi hành công vụ tại Điều 257, chương XX:
Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính. Bộ luật hình sự 1999 quy định
nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính thành một chương riêng là
sửa đổi mang tính tích cực so với Bộ luật hình sự 1985. Việc quy định như vậy
đã cụ thể hơn, rõ ràng hơn, thể hiện đầy đủ tính chất nguy hiểm của các tội phạm
này, từ đó đề ra đường lối xử lý phù hợp hơn, tương ứng với tính chất của nhóm
tội phạm.
Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 quy định:
1. “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác
cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực
hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”…
Qua đó, có thể hiểu tội chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ
lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi
vụ căn cứ vào các dấu hiệu rõ ràng về đồng phục đặc trưng của công vụ, giấy tờ
hợp pháp, đeo phù hiệu hoặc thẻ nghề nghiệp… trong trường hợp không có
những dấu hiệu đó thì người đang thi hành công vụ phải được mọi người hoặc ít
nhất là người thực hiện hành vi phạm tội hoặc người phạm tội biết rõ tư cách
của mình. Do vậy nghị quyết còn hướng dẫn “Người đang thi hành công vụ vì
nghĩa vụ công dân (như đuổi bắt kẻ phạm tội đang chạy trốn) tuy không phải
người thi hành công vụ nhưng nếu do công vụ mà bị giết thì họ có thể được
hưởng các chính sách xã hội như đối với người thi hành công vụ”.
Khoá luận tốt nghiệp
3
Nghiên cứu về tội chống người thi hành công vụ, có một vấn đề cần được
chú ý đến, cần được làm rõ. Đó là có những trường hợp hành vi chống người thi
hành công vụ không cấu thành tội chống người thi hành công vụ mà có thể cấu
thành tội khác hoặc chỉ bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng cũng có thể không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay xử lý về mặt hành chính. Ở đây việc làm rõ
khi nào hành vi chống người thi hành công vụ không cấu thành tội chống người
thi hành công vụ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đường lối xử lý đối
với người có hành vi này.
Trên thực tế, có những trường hợp một người tuy được giao thực hiện
công vụ, có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định nhưng đã vượt quá
giới hạn được giao dẫn đến việc xâm phạm từ phía người khác. Cũng có trường
hợp người thi hành công vụ đã không thực hiện đúng, không thực hiện đầy đủ
công việc được giao, thậm chí họ còn làm trái công vụ đó, lợi dụng tính chất
công quyền của công vụ để sử dụng vào mục đích tư lợi, gây phương hại đến
quyền lợi của người khác, dẫn đến ự phản ứng trở lại từ phía người đó và hậu
quả là người được giao nhiệm vụ không hoàn thành được công vụ. Trong trường
vụ. Trong thực tiễn, tội phạm thường có hành vi chống người thi hành công vụ
là cán bộ thuế vụ, cảnh sát giao thông, đội viên dân phòng, cán bộ công an, kiểm
sát, toà án và các cán bộ chính quyền địa phương khác.
1.2.2. Mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ
Mặt khách quan của tội phạm bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn
ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Thông qua những biểu hiện đó mà
con người có thể trực tiếp nhận biết được tội phạm. Đó là:
- Hành vi nguy hiểm cho xã hội
- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.
- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (Thời gian,
địa điểm…) và công cụ, phương tiện, thủ đoạn…
Theo Điều 257 Bộ luật hình sự 1999, hành vi chống người thi hành công
vụ được biểu hiện tập trung ở những dạng hành vi sau:
* Hành vi dùng vũ lực chống người thi hành công vụ
Dùng vũ lực chống người thi hành công vụ là hành vi dùng sức mạnh vật
chất tấn công người đang thi hành công vụ nhằm cản trở người thi hành công vụ.
Hành vi dùng vũ lực có thể bằng chân, tay để đấm, đá, trói hoặc cũng có thể
thông qua công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội như:Con dao, cây
gậy… Ví dụ:
Khoá luận tốt nghiệp
5
Khoảng 23 giờ ngày 6/3/2003 Nguyễn Quang Hà, Trần Việt Hùng,
Nguyễn Công Hoàng, Vũ Đức Hoài đang tiêm chích ma tuý tại nhà Hoài. Thấy
công an đẩy cửa xông vào hô bắt. Hoàng đã lấy cây gậy ở góc nhà quật vào
người một đồng chí công an rồi đẩy đồng chí này ngã rồi định bỏ chạy nhưng đã
bị đồng chí đó túm chân lại và bị bắt giữ.
Khoá luận tốt nghiệp
6
Trong tội chống người thi hành công vụ, hành vi đe doạ dùng vũ lực có
thể ngay tức khắc (như rút dao dí vào cổ cán bộ chiến sĩ công an và yêu cầu nếu
mọi người khác không tránh ra cho người đó chạy thì người đó sẽ đâm chiến sĩ
công an này) nhưng cũng có thể có khảng cách về mặt thời gian như ví dụ trích
từ bản án số 1210 ngày 20/11/2004 của TAND TP Hải Dương. Ở ví dụ này, sức
mãnh liệt của sự đe doạ chưa đến mức làm tê liệt ý chí kháng cự của người bị đe
doạ. Người bị đe doạ còn có điều kiện để suy nghĩ cân nhắc và quyết định hành
động.
* Hành vi ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái
pháp luật
Ép buộc người thi hành công vụ phải thực hiện hành vi trái pháp luật là
hành vi chống chế người thi hành công vụ phải làm những việc trái với chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của họ (như: buộc phải trả lại tang vật phạm pháp,
huỷ hoá đơn xử phạt) hoặc không làm những việc thuộc chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của họ (như: Để xe chở hàng lậu đi qua trạm gác…)
Trên thực tế, biểu hiện của hành vi ép buộc này thường là sử dụng những
thông tin có ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người thi hành công
vụ như bí mật đời tư hoặc có thể là hành vi vi phạm pháp luật của người đang thi
hành nhiệm vụ…nếu như người bị đe doạ (người thi hành công vụ) không thoả
mãn yêu cầu của người kia đưa ra nhằm giúp cho người đó thực hiện hành vi trái
pháp luật như: không thực hiện việc xử lý vi phạm, xử lý các hành vi vi phạm ở
mức độ thấp, không thực hiện nghĩa vụ mà người thi hành công vụ phải thực
hiện và có điều kiện để thực hiện.
Ví dụ: Chiều ngày 2/8/2005 sau khi phát hiện một xe chở gỗ trái phép, hai
đồng chí cán bộ kiểm lâm Hải Dương đã kịp thời đuổi theo và ngăn lại, yêu cầu
đưa xe về trụ sở cơ quan Kiểm lâm làm việc để kiểm tra và xử lý. Chủ hàng là
vu khống cho cán bộ hành hung… hoặc sử dụng súc vật để cản trở việc thi hành
công vụ như việc đuổi chó ra cắn chiến sĩ công an đến bắt người…) Ví dụ:
Khoảng 17 giờ ngày 16/5/2005, sau khi nhận được điện báo có vụ tiêm
chích ma tuý tại nhà Nguyễn Thị Mai, xã X huyện Kim thành – Hải Dương,
đồng chí Đỗ Văn Long trưởng công an huyện cùng ba đồng chí khác tiến hành
bao vây bắt quả tang. Ba đồng chí kia ở ngoài canh trừng cửa trước, cửa sau, còn
đồng chí Long vào trong. Thấy vậy, Mai chốt ngay cửa lại, tự cởi bỏ quần áo ôm
chặt anh Long. Thị đã bị anh Long đẩy ngã, lập tức thị giở trò kêu la “có người
Khoá luận tốt nghiệp
8
cưỡng bức tôi”… Anh Long hô các chiến sĩ vào vây bắt. Nhân lúc đó bọn tiêm
chích lẻn qua cửa sau chạy trốn.Nhưng sau khi bị đuổi đến cuối xã thì chúng bị
bắt.
Như ví dụ trên, ta có thể thấy rằng hành vi tự cởi bỏ quần áo trước mặt
chiến sĩ công an đang thi hành nhiệm vụ (bắt quả tang ổ tiêm chích mà tuý) và
ôm chặt chiến sĩ công an của Nguyễn Thị Mai đã khiến cho việc thi hành công
vụ của các chiến sĩ công an gặp khó khăn.
Qua thực tế, chúng ta có thể thấy thủ đoạn mà người thực hiện hành vi
phạm tội rất phức tạp, đa dạng. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng những thủ đoạn
đó phải thực sự làm cho người thi hành công vụ khó có khả năng thực hiện và
hoàn thành được nhiệm vụ của mình, tránh trường hợp người phạm tội có những
hành vi tác động nhưng không đủ khả năng cản trở người thi hành công vụ.
Người thi hành công vụ vẫn khắc phục được tình trạng đó để hoàn thành công
vụ. Nhưng họ đã lợi dụng sự việc đó để không thi hành đúng công vụ dẫn đến
không hoàn thành được nhiệm vụ được giao, thì cần xem xét để xử lý hành vi đó
của người thi hành công vụ. Nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng (như thiệt hại về
được phản ánh trong tất cả các cấu thành tội phạm. Nó có ý nghĩa quyết định
trong việc xác định trách nhiệm hình sự của một người. Mục đích và động cơ
tuy là dấu hiệu của mặt chủ quan nhưng không phải là dấu hiệu của mặt chủ
quan nhưng không phải luôn có ý nghĩa quyết định đối với tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. ở tội chống người thi hành công vụ, động cơ
và mục đích là dấu hiệu để phân biệt tội phạm này với một số tội phạm khác.
*Lỗi của người phạm tội
Lỗi là trạng thái tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã
hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra, và được biểu hiện dưới hình thức
lỗi cố ý hoặc vô ý.
Đối với tội chống người thi hành công vụ, lỗi được xác định trong măt
chủ quan của cấu thành tội phạm là cố ý trực tiếp. Nghĩa là người phạm tội nhận
thức được đầy đủ hành vi trái pháp luật của mình là đang chống lại người thi
hành công vụ và mong muốn thực hiện việc chống lại này khiến cho người đang
thi hành công vụ không hoàn thành công vụ được giao.
Trong trường hợp người phạm tội không biết hoặc có nghi ngờ về tính
hợp pháp của người đang thi hành công vụ thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà
xác định người đó có lỗi không. Tuy nhiên, việc xem xét nhận thức của người
Khoá luận tốt nghiệp
10
phạm tội trong những trường hợp này cần phải cẩn trọng. Bởi nhiều trường hợp
người phạm tội tuy nhận thức được rõ ràng là người thi hành công vụ nhưng vẫn
cố tình thể hiện là mình không biết. Ví dụ:
Ngày 3/3/2005, sau khi nhận được lệnh bắt Trần Thanh Bình vì tội nhận
hối lộ, ba đồng chí công an huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương thi hành lệnh bắt và
mời công an xã chứng kiến. Khi đến nhà Bình đồng chí Nguyễn Văn Thịnh giới
Như vậy, trong tội chống người thi hành công vụ, dấu hiệu mục đích
trong mặt chủ quan của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc để phân biệt tội này một
số tội khác.
1.2.4. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
được luật hình sự quy định là tội phạm, có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt
độ tuổi theo luật định. Chủ thể của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành
tội phạm.
Tội chống người thi hành công vụ quy định tại Điều 257 bộ luật hình sự
có mức cao nhất của khung hình phạt tại khoản 1 là đến 3 năm tù. (Tội ít nghiêm
trọng). Như vậy chủ thể của tội chống người thi hành công vụ là người từ đủ 16
tuổi trở lên có NLTNHS và đã thực hiện hành vi quy định tại Điều 257 (hành vi
chống người thi hành công vụ. Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi không phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội này.
Theo nguyên tắc lãnh thổ quy định tại Điều 5 BLHS: “Bộ luật hình sự áp
dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”. Do vậy khi người phạm tội không là công dân Việt Nam
nhưng đã thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ trên lãnh thổ Việt
Nam thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam. Trong
trường hợp người nước ngoài phạm tội mà họ được hưởng các quyền miễn trừ tư
pháp theo luật quốc tế thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết
theo con đường ngoại giao.
1.3. NHỮNG TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG ĐỊNH KHUNG QUY ĐỊNH TẠI
KHOẢN 2 ĐIỀU 257 BLHS
Bộ luật hình sự 1999 Điều 257 đã kế thừa tình tiết tăng nặng định khung
“gây hậu quả nghiêm trọng” của Điều 205 Bộ luật hình sự 1985, đồng thời quy
Khoá luận tốt nghiệp
đến lần thứ 4 mới bị bắt.
1.3.2. Phạm tội nhiều lần
Khoá luận tốt nghiệp
13
Đây là trường hợp phạm tội mà trướ đó người này đã phạm tội đó ít nhất 1
lần nhưng chưa bị xét xử.
Trong trường hợp phạm tội chống người thi hành công vụ nhiều lần,
người phạm tội đã thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ từ 2 lần trở
lên và chưa bị xét xử. Mỗi lần thực hiện hành vi phạm tội đó đều thoả mãn đầy
đủ những dấu hiệu của cấu thành tội phạm.
Trở lại với ví dụ phần 1.3.1, ta nhận thấy rằng hành vi chống người thi
hành công vụ xảy ra 4 lần và mỗi lần đều thoả mãn đầy đủ dấu hiệu của cấu
thành tội phạm nhưng chưa bị xét xử lần nào.
Như vậy, nhóm tội phạm này đã phạm tội chống người thi hành công vụ
theo điểm b khoản 2 Điều 257 Bộ luật Hình sự.
Khoá luận tốt nghiệp
14
1.3.3. Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội
Khác với trường hợp phạm tội có tổ chức, các vụ án này xảy ra không có
tổ chức, phân công nhiệm vụ phạm tội. Những người phạm tội do thiếu hiểu
biết, ý thức chấp hành pháp luật còn kém nên đã bị người khác xúi giục, kích
động, lôi kéo và đã nảy sinh hành vi chống lại cán bộ và nhân viên thừa hành
Nghị quyết 04/HĐTP ngày 29.11.1986 của Hội đồng thẩm phán toà án
nhân dân tối cao hướng dẫn: “Hậu quả nghiêm trọng có thể là người thi hành
công vụ không hoàn thành được nhiệm vụ, việc chấp hành pháp luật ở địa
phương hoặc khu vực trở nên lỏng lẻo, kẻ xấu lợi dụng cơ hội reo rắc dư luận
ảnh hưởng xấu”.
Ví dụ: Lê Ngọc Duy sau khi trộm cắp tài sản nhà chịNguyễn Thị Thu đã
bị phát hiện và báo công an. Khi bị công an huyện Thanh Hà đuổi bắt, Duy đã
chốn vào nhà chị gái là Lê Thị Minh. Minh mở cổng sau cho Duy chạy thoát và
còn thả chó ngăn không cho các chiến sĩ công an vây bắt Duy. Đến 3 hôm sau
Duy đã bị bắt.
Như vậy, Minh đã biết hành vi giúp đỡ người phạm tội chạy chốn của
mình là trái pháp luật, việc này đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là người phạm tộ
(Duy) đã chạy thoát, tới 3 ngày sau mới bị bắt, công an huyện đã không hoàn
thành được nhiệm vụ của mình. Bị cáo Lê Thị Minh bị kết án về tội chống người
thi hành công vụ theo khoản 2 điểm b Điều 257 Bộ luật Hình sự.
1.3.5. Tái phạm nguy hiểm
Điều 49 khoản 2 Bộ luật Hình sự 1999 quy định:
“Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm”.
a. Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý,
chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm
trọng do cố ý.
b. Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do ý.
Theo qui định Khoản 2 Điều 257 Bộ luật Hình sự thì mức độ cao nhất của
khung hình phạt trong trường hợp này chỉ là 7 năm tù (tội nghiêm trọng). Do đó
việc xem xét có phải là tái phạm nguy hiểm tại điểm a khoản 2 Điều 49 sẽ không
đặt ra.
Khoá luận tốt nghiệp
+ Khách thể:
Khoá luận tốt nghiệp
17
Như đã phân tích ở phần 1.2.1 khách thể của tội chống người thi hành
công vụ là xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. Còn khách thể tội
giết người quy định tại Điều 93 Bộ luật Hình sự là xâm phạm đến quyền được
sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng con người. Đối tượng của tội
phạm là người đang sống, đang tồn tại trong thể giới khách quan.
Như vậy, khách thể và đối tượng tác động của tội giết người và tội chống
người thi hành công vụ khác. Nhưng cũng có trường hợp người phạm tội không
chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước mà còn xâm phạm đến
tính mạng, sức khoẻ của người thi hành công vụ.
Như vậy, chỉ với hành vi chống người thi hành công vụ, người phạm tội
cùng một lúc đã xâm phạm đến nhiều quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.
Nếu người phạm tội giết người thi hành công vụ nhằm cản trở việc thi hành
công vụ thì họ sẽ bị xử lí theo qui định tại Điểm d khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình
sự , Vì như vậy mới phản ánh được đầy đủ bản chất và tính nguy hiểm cho xã
hội của hành vi phạm tội.
+ Mặt khách quan:
Khi nghiên cứu mặt khách quan của tội chống người thi hành công vụ, ta
thấy hành vi khách quan của tội này rất phong phú và phức tạp, có thể là dùng
vũ lực như đánh, đấm, bắt trói, hoặc đe doạ dùng vũ lực, thủ đoạn khác tác động
đến người thi hành công vụ, thậm chí ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật
với những công cụ phương tiện phạm tội khác nhau như vũ khí, tài liệu, ảnh,
giấy tờ….
Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt tính mạng của
tương tự như trên đã phân tích.
+Về chủ thể
Trong tội chống người thi hành công vụ, chủ thể của tội phạm là người có
năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định, tức là từ đủ 16 tuổi trở
lên.Còn trong tội giết người: chủ thể của tội phạm là người từ đủ 14 tuổi trở lên.
Nhìn chung khi so sánh mức hình phạt của tội chống người thi hành công
vụ và tội giết người cho ta thấy rằng mức hình phạt đối với tội giết người cao
hơn so với tội chống người thi hành công vụ (tội giết người mức cao nhất là tử
hình, tội chống người thi hành công vụ mức cao nhất là 7 năm tù) phù hợp với
tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm.
Khoá luận tốt nghiệp
19
1.4.2. Phân biệt tội chống người thi hành công vụ và tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ của người khác qui định tại điểm
k khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự
* Về khái niệm:
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là
hành vi cố ý gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác dưới dạng thương tích
hoặc tổn thương khác.
Tội chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ
lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm cản trở người thi hành công vụ hoặc ép buộc
họ phải thực hiện hành vi trái pháp luật, gây trở ngại cho hoạt động bình thường
của cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội.
*Về dấu hiệu pháp lí:
+ Khách thể:
Khách thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
hiện hành vi trái pháp luật; Thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ.
Qua nghiên cứu cho thấy hành vi dùng vũ lực trong tội chống người thi
hành công vụ cũng là một dạng của hành vi khách quan trong tội cố ý gây
thương tích, bởi hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động đến người thi hành
công vụ cũng chứa đựng khả năng gây tổn hại cho sức khoẻ của người đó.
Trường hợp gây thương tật cho người thi hành công vụ thoả mãn các dấu hiệu
của cấu thành tội phạm quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự, người phạm tội
sẽ bị xử lí theo tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người
khác.
Về mặt hậu quả: Cũng như tội giết người, hậu quả của tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác là dấu hiệu bắt buộc, còn
trong tội chống người thi hành công vụ thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt
buộc.
+ Mặt chủ quan.
Lỗi của người cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của
người khác và lỗi của người chống người thi hành công vụ đều được xác định là
lỗi cố ý.
+ Chủ thể:
Khoá luận tốt nghiệp
21
Chủ thể của tội phạm là người không thuộc những trường hợp được quy
định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự, và đạt độ tuổi nhất định.
Chủ thể của tội phạm chống người thi hành công vụ phải là người từ đủ
16 tuổi trở lên. Còn chủ thể của tội cố ý gây thương tích phải là người từ đủ 14
tuổi trở lên, hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên tuỳ thuộc người đó bị áp dụng khung hình
phạt nào để quyết định hình phạt.
Đối chiếu với hai khung hình phạt trên ta nhận thấy ở Điều 205 Bộ luật
Hình sự 1985 quy định mức hình phạt đối với tội chống người thi hành công vụ
có sửa đổi rõ ràng. Tội chống người thi hành công vụ ở cả hai bộ luật đều quy
định hai khung hình phạt nhưng điểm mới cần nói ở đây là:
Thứ nhất, Bộ luật Hình sự 1999 đã nâng mức hình phạt cải tạo không gian
giữ (khoản 1 – khung cơ bản) từ 1 năm lên 3 năm để tương xứng với tính chất và
mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, và nhằm bảo đảm hiệu quả quá trình
giáo dục của loại và mức hình phạt này. Đồng thời tại khoản 2 đã hạ mức tối đa
của khung hình phạt từ 10 năm xuống còn 7 năm, tương ứng với mức độ thực tế
của tội phạm.
Thứ hai, Bộ luật hình sự 1999 đã bổ sung một số tình tiết định khung tăng
nặng ở khoản 2 ngoài tình tiết phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng quy định
trong Bộ luật Hình sự 1985. Đó là các tình tiết: Phạm tội có tổ chức; phạm tội
nhiều lần; xúi giục lôi kéo, kích động người khác phạm tội; tái phạm nguy hiểm.
Những tình tiết này thường hay gặp trong các vụ án chống người thi hành công
vụ. Bởi vậy, Bộ luật Hình sự 1999 quy định bổ sung thêm các tình tiết này có ý
nghĩa tích cực trong việc truy cứu đúng trách nhiệm hình sự người phạm tội,
khắc phục những thiếu sót trong Bộ luật Hình sự 1985 về việc quy định tội
chống người thi hành công vụ.
23
Khoá luận tốt nghiệp
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TỘI CHỐNG
NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1. TÌNH HÌNH TỘI PHẠM CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƯƠNG
2006
Tổng số:
24
Khởi tố
Đề nghị truy tố
Truy tố
số vụ bị can số vụ
bị can số vụ bị can
572
941
532
833
517
796
648
1037
602
950
600
936
566
962
557
921
553
928
660
1163
người thi hành công vụ trong những năm gần đây biến động phức tạp cả về quy
mô số vụ và số người phạm tội, gây ra hậu quả cho xã hội ngày càng nghiêm
trọng. Nếu năm 2002 chỉ có 505 vụ phạm tội với 764 bị cáo bị xét xử về tội
chống người thi hành công vụ, thì đến năm 2006 con số này thứ tự là 613 vụ và
1100 bị cáo. Qua con số này đã chứng minh số vụ phạm tội và số bị cáo phạm
tội chống người thi hành công vụ trên phạm vi cả nước cứ năm sau cao hơn năm
trước.
Số lượng vụ phạm tội và số lượng người phạm tội chống người thi hành
công vụ như đã nêu trên mới chỉ là con số cơ bản nhất, qua đó có thể thấy được
tiến trình phát triển của loại tội này dưới góc độ thống kê hình sự. Do nhiều
nguyên nhân nên số lượng thực tế của loại tội phạm này khó xác định chính xác.
Và cũng do nhiều nguyên nhân mà việc xác định loại tội này gặp nhiều khó
khăn. Đó là các trường hợp chống người thi hành công vụ nhưng bị xử lý bằng
biện pháp hành chính hoặc các biện pháp khác mà thống kê hình sự không thể
ghi nhận. Hoặc cũng có trường hợp chống người thi hành công vụ gây thương
tích cho nạn nhân hoặc chết người, do đó không bị xử lí về tội này mà bị xử lý
về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác, hoặc
tội giết người. Ngoài ra còn có những trường hợp chống người thi hành công vụ
vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà không được các cơ quan chức năng thống
kê.
* Về nhân thân người phạm tội.
Khoá luận tốt nghiệp
25
Qua nghiên cứu về nhân thân người phạm tội chống người thi hành công
vụ trên phạm vi cả nước trong 5 năm (2006- 2006) đã cho thấy:
1. Số người phạm tội là nữ giới chỉ chiếm khoảng 8%.