Tội chống người thi hành công vụ trong bộ luật hình sự việt nam hiện hành - Pdf 31

Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
Bộ Môn Tư Pháp
---@&?---

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NIÊN KHÓA: 2007 - 2011
Đề tài:

TỘI CHỐNG NGƯỜI THI HÀNH CÔNG VỤ
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH

Giảng viên hướng dẫn:
TS. Phạm Văn Beo

Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Bé Thuyền
MSSV: 5075305
Lớp: Luật Tư pháp 3 – K33

Cần Thơ, 4/2011


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang

Lời mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.............................................................................. 2
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài............................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài ....................................................................... 2
5. Kết cấu của đề tài.................................................................................................. 2

Chương 1
Những vấn đề chung về tội chống người thi hành công vụ trong Bộ luật
Hình sự Việt Nam Hiện hành
1.1Khái quát chung về tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính............................... 4
1.1.1 Khái niệm về các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính .................................. 4
1.1.2 Những tội danh cụ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính .............. 5
1.1.3 Các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính................ 6
1.1.3.1 Mặt khách thể của tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính .......................... 6
1.1.3.2 Mặt khách quan của tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính ....................... 6
1.1.3.3 Mặt chủ thể của tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.............................. 7
1.1.3.4 Mặt chủ quan của tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính........................... 7
1.2 Khái quát chung về tội chống người thi hành công vụ trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam hiện hành............................................................................................................... 7
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, bản chất của tội chống người người thi hành công vụ ........ 7
1.2.1.1 Khái niệm của tội chống người thi hành công vụ........................................... 8
1.2.1.2 Đặc điểm của tội chống người thi hành công vụ.......................................... 10
1.2.1.3 Bản chất của tội chống người thi hành công vụ ........................................... 11
1.2.2 Những điểm mới về tội chống người thi hành công vụ trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam hiện hành............................................................................................................... 12
1.2.3 Nguyên nhân và điều kiện của tội chống người thi hành công vụ....................... 12
1.2.3.1 Nguyên nhân về điều kiện kinh tế - xã hội................................................... 13

2.2.1 Phạm tội không có tình tiết định khung hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam hiện hành ( khoản 1 Điều 257) .............................................................................. 28
2.2.2 Các trường hợp phạm tội cụ thể trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành
(khoản 2 Điều 257) ........................................................................................................ 29
2.2.2.1 Phạm tội có tổ chức..................................................................................... 29
2.2.2.2 Phạm tội nhiều lần ...................................................................................... 33
2.2.2.3 Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội ....................................... 33
2.2.2.4 Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng ............................................................ 34
2.2.2.5 Tái phạm nguy hiểm ................................................................................... 35
2.3 Phân biệt tội chống người thi hành công vụ trong BLHS Việt Nam hiện hành với
một số tội khác ............................................................................................................. 36


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)

2.3.1 Phân biệt với tội gây rối trật tự công cộng (Điều 245 BLHS Việt Nam hiện hành)
................................................................................................................................... 36
2.3.2 Phân biệt với tội chống mệnh lệnh (Điều 316 BLHS Việt Nam hiện hành)........ 37
2.3.3 Phân biệt với Khoản 1 điểm k tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe người khác (Điều 104 BLHS Việt Nam hiện hành) ............................................... 38
2.4 Đường lối xử lý đối với tội chống người thi hành công vụ trong giai đoạn hiện
nay ................................................................................................................................ 38

Chương 3
Thực trạng của tội chống người thi hành công vụ - nguyên nhân và giải
pháp
3.1 Thực trạng, diễn biến của tội chống người thi hành công vụ trong giai đoạn hiện
nay ................................................................................................................................ 40
3.1.1 Về số vụ và số người phạm tội........................................................................... 42
3.1.2 Cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ ......... 43

.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................
.........................................................................................................................

Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)



Cần Thơ, ngày….tháng….năm 2011


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật Hình Sự
PLHS : Pháp luật Hình sự
CTTP : Cấu thành tội phạm
TNSH: Trách nhiệm hình sự
CSGT: Cảnh sát giao thông
VKSND: Viện kiểm sát nhân dân
TAND: Tòa án nhân dân
PCCC: Phòng cháy chữa cháy
VKS: Viện kiểm sát


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam hiện hành

LỜI MỞ ĐẦU
𬠛
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương và
biện pháp nhằm tăng cường bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội. Tuy nhiên, tình
hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, một số tội phạm có xu hướng gia tăng. Đặc biệt


SVTH: Trần Thị Bé Thuyền


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam hiện hành

văn tốt nghiệp của mình. Từ đó có thể đề xuất những biện pháp hữu hiệu để kịp thời
ngăn chặn tội phạm này.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này là nhằm làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý của
tội chống người thi hành công vụ, tìm ra những điểm khác biệt giữa tội chống người
thi hành công vụ với tội khác. Đồng thời, đi sâu vào phân tích thực trạng, lý giải
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm chống người thi hành công vụ. Để từ
đó thấy được tình hình gia tăng các loại tội phạm này và đề xuất những biện pháp để
ngăn chặn và đẩy lùi tội phạm trong giai đoạn hiện nay, góp phần làm ổn định an ninh,
trật tự xã hội.

3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài người viết tập trung nghiên cứu một số vấn
đề xung quanh tội chống người thi hành công vụ trong Bộ luật hình sự Việt Nam, khái
quát sự hình thành tội này trong Bộ luật Hình sự Việt Nam, một số nội dung cơ bản
của tội này như: khái niệm, đặc điểm, dấu hiệu pháp lý và những trường hợp cụ
thể….Bên cạnh đó, người viết tìm hiểu thêm một số quy định của loại tội phạm này
trong hệ thống pháp luật của một số nước trên thế giới.
Mặt khác, người viết còn đi sâu phân tích những thực trạng và các bất cập trong
pháp luật hiện hành để từ đó đề xuất hướng hoàn thiện chế định này nhằm phòng

trong Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành.
Trong Chương này, người viết khái quát sơ lược về Tội xâm phạm trật tự quản lý
hành chính, bên cạnh đó tìm hiểu thêm một số vấn đề chung về Tội chống người thi
hành công vụ.
Chương 2: Tội chống người thi hành công vụ và những quy định trong Bộ
luật Hình sự Việt Nam hiện hành.
Từ những tìm hiểu sơ lược ở Chương 1, người viết phân tích sâu hơn các dấu
hiệu pháp lý, các trường hợp phạm tội và các hình phạt dành cho Tội chống người thi
hành công vụ.
Chương 3: Thực trạng của Tội chống người thi hành công vụ - Nguyên nhân
và giải pháp.
Những tiền đề ở hai Chương trên là cơ sở để nhận định và đánh giá thực trạng
Tội chống người thi hành công vụ trong giai đoạn hiện nay đồng thời đưa ra những
nguyên nhân, bất cập và giải pháp để hoàn thiện những nguyên nhân và bất cập đó.
3)Kết luận.

Khi thực hiện đề tài này, người viết gặp khó khăn do trình đ ộ còn nhiều hạn
chế, kinh nghiệm và thực tiễn hạn hẹn, tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu đề
tài cũng không nhiều. Do vậy, việc nghiên cứu còn nhiều điểm chưa thật sự chặt
chẽ và hạn chế, kính mong nhận đ ược sự đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô và các
bạn để bài viết đ ược hoàn thiện hơn. Đồng thời, người viết xin gửi lời cảm ơn đ ến
Thầy Phạm Văn Beo đ ã tận tình hướng dẫn người viết hoàn thành luận văn này.
Xin cảm ơn Thầy!

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang - 3 -

SVTH: Trần Thị Bé Thuyền


phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó quy phạm pháp luật hành chính có vai
trò quan trọng. Việc xử lý về mặt hình sự các hành vi xâm phạm trật tự quản lý hành
chính là cần thiết để góp phần làm ổn định trật tự, kỷ cương xã hội.
Tham gia vào hoạt động quản lý hành chính có cơ quan nhà nước, người thi hành
công vụ, tổ chức xã hội và mọi công dân xã hội. Hành vi vi phạm quy định hành chính
trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, chống người thi hành công vụ gây rối loạn
hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước không những bị xã hội lên án, trong những

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang - 4 -

SVTH: Trần Thị Bé Thuyền


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam hiện hành

trường hợp pháp luật quy định còn là tội phạm. Hành vi vi trật trật tự hành chính gây
thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức hoặc công dân.
BLHS không quy định trực tiếp về khái niệm các tội xâm phạm trật tự quản lý
hành chính nhưng dựa vào các CTTP tại chương XX có thể rút ra khái niệm sau: “Các
tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm
ph ạm hoạt động bình thường của Nhà nước và xã hội trong lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước”.1
1.1.2 Những tội danh cụ thể của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Trong Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999( sửa đổi, bổ sung năm 2009) các tội xâm
phạm trật tự quản lý hành chính được quy định từ Điều 257 đến Điều 276 tại chương

Trang - 5 -

SVTH: Trần Thị Bé Thuyền


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam hiện hành
16. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa, danh

lam thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng ( Điều 272)
17. Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới ( Điều 273)
18. Tội xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tội ở lại Việt Nam trái phép ( Điều 274)
19. Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái
phép( Điều 275)
20. Tội xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy ( Điều 276)
1.1.3 Các dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Cũng như các loại tội phạm khác, các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
cũng bao gồm bốn yếu tố cấu thành sau: mặt khách thể, mặt chủ thể, mặt khách quan
và chủ quan của tội phạm.
1.1.3.1 Mặt khách thể của tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Khách thể của quan hệ pháp luật là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi
ích xã hội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức và cá nhân mà
vì chúng các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật, nghĩa là vì chúng mà họ thực
hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể của mình. Khách thể là cái thúc thẩy các tổ chức
hoặc cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật2. Không phải hành vi nào xâm phạm đến
những quan hệ pháp luật đó điều là hành vi phạm tội, nội dung của hành vi phải gây
thiệt hại đến mức “nguy hiểm đáng kể” mới bị coi là phạm tội.
Khách thể của tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính là quan hệ xã hội được

thực hiện bằng hành động như: chống người thi hành công vụ, tội giả mạo chức vụ,
cấp bậc; tội sửa giấy chứng nhận, và các tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội làm giả con
dấu..v..v…Các tội thực hiện bằng không hành động như: Tội trốn tránh nghĩa vụ quân
sự; tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân nhập ngũ….Ngoài ra còn có một số tội
được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động.
Đa số các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính có cấu thành tội phạm hình
thức. Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi được nêu trong điều
luật quy định. Ngoài ra, trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng được xem là tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong số các CTTP của các điều luật tại Chương
XX này có hai CTTP tại các Điều 266, 267 BLHS Việt Nam 1999 (sửa đổi, bổ sung
năm 2009) có dấu hiệu hậu quả nghiêm trọng và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và
hậu quả.
1.1.3.3 Mặt chủ thể của tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Tội phạm trước hết là hành vi. Bởi vậy, tội phạm bao giờ cũng được thực hiện
bởi chủ thể xác định. Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam xác định chủ thể của tội phạm
là: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người
từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội rất
nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng”. (Điều 12)
Các tội trong Chương này có dấu hiệu của chủ thể chung: người đủ năng lực
trách nhiệm hình sự và đạt một độ tuổi nhất định. Tuy nhiên, có một số chủ thể của
một số tội đòi hỏi dấu hiệu chủ thể đặc biệt: Điều 259, 260, 262, 263, 264 và Điều 269
BLHS năm 1999 ( Sửa đổi, bổ sung năm 2009).
1.1.3.4 Mặt chủ quan của tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính
Mặt chủ quan của tội phạm được biểu hiện là mặt bên trong của tội phạm thể
hiện thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi của mình và đối với hậu quả do
hành vi của tội phạm gây ra.
Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính phần lớn được thực hiện dưới hình
thức lỗi cố ý ( trực tiếp hoặc gián tiếp), người phạm tội nhận thức được tính chất nguy
hiểm của hành vi cũng như hậu quả sẽ xảy nhưng mong muốn hoặc để mặc cho xảy ra.
Trong số 20 tội tại Chương này thì chỉ một Điều là tội vô ý: Tội vô ý làm lộ bí mật nhà

họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật”.
Từ định nghĩa trên ta có thể hiểu được, tội chống người thi hành công vụ là hành
vi dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc những thủ đoạn khác cản trở người thi
hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp
luật, những hành vi này là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động
đúng đắn của cơ quan tổ chức, đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước.
Ngoài ra còn xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của người thi hành
công vụ.
Từ khi Bộ luật Hình sự năm 1999 ra đời cho đến nay đã gần 10 lần sửa đổi, bổ
sung ( kể cả lần sửa đổi, bổ sung gần đây 2009 có hiệu lực ngày 1 – 1 – 2010) thì chưa
có văn bản nào hướng dận áp dụng tội chống người thi hành công vụ. Cho nên, việc
hướng dẫn áp dụng tội này vẫn theo quy định của NQ 04/HĐTP ngày 29 tháng 11 năm
1986 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy
định trong Phần các tội của BLHS năm 1985.
Nội dung của Nghị quyết 04/HĐTP quy định:
- “Công vụ là công việc mà cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội giao cho một
người thực hiện”.
- “Người thi hành công vụ là người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà
nước, tổ chức xã hội thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình và cũng có thể là công
dân được làm nhiệm vụ tuần tra canh gác… theo kế hoạch của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phục vụ lợi ích chung của nhà nước và xã hội như cán bộ thuế, cảnh sát,
đội viên, dân phòng…”
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang - 8 -

SVTH: Trần Thị Bé Thuyền


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)

làm trái công vụ đó, lợi dụng tính chất công quyền của công vụ để sử dụng vào mục
đích tư lợi, gây phương hại đến quyền lợi của người khác, dẫn đến việc phản ứng trở
lại từ phía người đó và hậu quả là người được giao nhiệm vụ không hoàn thành được
công vụ. Trong trường hợp đó thì hành vi gọi là chống người thi hành công vụ có thể
không cấu thành tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại Điều 257 Bộ luật
hình sự Việt Nam hiện hành.
GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang - 9 -

SVTH: Trần Thị Bé Thuyền


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam hiện hành
1.2.1.2 Đặc điểm của Tội chống người thi hành công vụ:
Tội chống người thi hành công vụ được quy định tại Điều 257 Chương XX Bộ

luật hình sự Việt Nam 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thuộc nhóm tội “ Xâm
phạm trật tự quản lý hành chính ”. Ta có thể thấy được tội này đã xâm phạm đến hoạt
động đúng đắn của cơ quan tổ chức, đến trật tự quản lý hành chính của cơ quan Nhà
nước, gây rối loạn trật tự xã hội và đây còn là hành vi rất nguy hiểm. Không phải hành
vi nào cũng xem tội. Theo Luật Hình sự Việt Nam hiện hành, hành vi được xem là tội
phạm khi hội đủ bốn yếu tố: Tính nguy hiểm cho xã hội, tính trái pháp luật hình sự,
tính có lỗi và tính chịu phạt.
a. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
Là dấu hiệu cơ bản quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội
phạm, bởi nó vừa là thuộc tính và nội dung của tội phạm.

Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam hiện hành
Về bản chất, lỗi là một nội dung của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm

nhưng để thừa nhận lỗi là nguyên tắc cơ bản, Luật Hình sự Việt Nam đã coi lỗi là một
dấu hiệu độc lập của tội phạm.
Theo lý luận luật hình sự, lỗi là thái độ chủ quan của một người đối với hành vi
nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả của hành vi đó thể hiện dưới dạng cố ý
hoặc vô ý. Lỗi của tội chống người thi hành công vụ là lỗi cố ý trực tiếp. Ngoài ra, để
được xem là người có hành vi chống người thi hành công vụ có lỗi th ì cần phải xem
xét đến hai điều kiện:
- Người đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự
và không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều
13 Bộ luật hình sự.
- Người dưới 16 tuổi không chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chống người thi
hành công vụ.
Một điểm cần lưu ý ở tội chống người thi hành công vụ là một người có hành vi
chống người thi hành công vụ nhưng họ không biết là người này đang thi hành công
vụ thì không bị xem là có lỗi và không chịu TNHS.
d. Tính chịu hình phạt của tội phạm:
Một hành vi khác không phải là tội phạm thì không có nguy cơ đe dọa áp dụng
hình phạt. Hình phạt luôn gắn liền với tội phạm và chỉ áp dụng hình phạm đối với
người có hành vi phạm tội. Tội chống người thi hành công vụ là tội phạm nên nó cũng
có hình phạt dành cho người phạm tội.
1.2.1.3 Bản chất của tội chống người thi hành công vụ:
Xã hội loài người phát triển đến một mức độ nhất định thì sẽ có sự tư hữu về giai
cấp và tư liệu sản xuất. Từ đó hình thành nên tội phạm nói chung, tội chống người thi
hành công vụ nói riêng và sự ra đời của Nhà nước là một tất yếu để duy trì trật tự xã

giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” trong khi đó tại
Khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999( sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định “ hình phạt
cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”

­ Các trường hợp phạm tội cụ thể, Điều 257 BLHS năm 1999( Sửa đổi, bổ sung
năm 2009) quy định nhiều tình tiết tăng nặng hơn.
Khoản 1 Điều 205 BLHS năm 1985 quy định “ nếu không thuộc các trường hợp
quy định tại Điều 101 và Điều 109…” thì tại Điều 257 BLHS năm 1999 đã không còn,
vì quy định đó không cần thiết nữa.
Khoản 1 Điều 205 BLHS năm 1985 quy định “Người nào dùng vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực chống người thi hành công vụ cũng như dùng mọi thủ đoạn cưỡng ép
họ thực hiện hành vi trái pháp luật” thì khoản 1 Điều 257 BLHS năm 1999 quy định“
Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công
vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật”.
Khoản 2 Điều 205 BLHS năm 1985 chỉ quy định một trường hợp phạm tội là
“gây hậu quả nghiêm trọng” trong khi đó, Khoản 2 Điều 257 BLHS năm 1999 quy
định nhiều tình tiết tăng nặng hơn:
a/ Có tổ chức;
b/Phạm tội nhiều lần;
c/ Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;
d/ Gây hậu quả nghiêm trọng;
đ/ Tái phạm nguy hiểm.
So với BLHS năm 1985 thì BLHS năm 1999 bổ sung nhiều tình tiết mới đầy đủ
hơn, chi tiết hơn, phản ánh được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai
đoạn hiện nay, giúp cho việc điều tra, truy tố và xét xử thuận lợi hơn.
1.2.3 Nguyên nhân và điều kiện của Tội chống người thi hành công vụ
Có thể hiểu nguyên nhân và điều kiện phát sinh của tội phạm cụ thể là những dấu
hiệu, đặc điểm, tính chất của nhân thân và tình huống bên ngoài tác động vào ý thức
GVHD: TS. Phạm Văn Beo


cho việc phát triển kinh tế. Do phát triển kinh tế hình thành nhiều khu công nghiệp,
khu quy hoạch để phát triển cơ sở hạ tầng, từ đó vấn đề bồi thường, giải phóng mặt
bằng, đền bù không thỏa đáng dẫn đến quần chúng nhân dân khiếu kiện và lợi dụng
việc khiếu kiện quá khích dẫn đến vi phạm pháp luật. Trình độ hiểu biết, nhận thức
pháp luật của một bộ phận quần chúng nhân dân còn thấp. Nhiều trường hợp đối tượng
có hành vi lăng mạ, giằng xé quần áo, phù hiệu, số hiệu của người thi hành công vụ
mà không biết đó là hành vi vi phạm pháp luật. Hay nguyên nhân khác khiến một số
đối tượng chống người thi hành công vụ là vì "quá bất bình trước cung cách hành xử
thiếu văn hóa của một vài người thực thi công vụ nên chống trả" - như một đối tượng
thừa nhận. Đôi khi vì lời nói, tác phong chưa chuẩn hay sự giải thích pháp luật thiếu
logic cũng có thể dẫn tới sự hiểu lầm và bị các đối tượng xấu tấn công. Điều đó cho
thấy người thi hành công vụ ngoài việc hiểu biết pháp luật cũng cần phải có uy, tác
phong, lề lối đúng mực khi làm nhiệm vụ.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang - 13 -

SVTH: Trần Thị Bé Thuyền


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam hiện hành
Những đối tượng này biết rất rõ hành vi vi phạm của mình là sẽ bị xử lý nhưng vì

cho rằng cung cách hành xử thiếu tế nhị của người thi hành công vụ nên chống trả, mà
không hề nghĩ đến hậu quả là sau khi chống trả sẽ bị xử lý nặng hơn.
- Trong thời gian hòa nhập nền kinh tế, Việt Nam đang trên đà phát triển nên gặp


GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang - 14 -

SVTH: Trần Thị Bé Thuyền


Created by Simpo PDF Creator Pro (unregistered version)


Tội chống người thi hành công vụ trong Bộ Luật Hình Sự Việt Nam hiện hành
-Trên cơ sở đánh giá chung, bộ máy Nhà nước ta hiện nay quá cồng kềnh, dẫn

đến kém hiệu lực quản lý, việc bố trí cán bộ chưa thực sự tương xứng với tiềm năng
còn nặng tính hình thức, trình độ của cán bộ công chức còn nhiều hạn chế…..
Hiện nay Nhà nước ta có nhiều chủ trương cải cách hành chính, tăng cường lòng
tin trong nhân dân khi tiếp xúc với cán bộ của cơ quan Nhà nước nhưng chưa đem lại
hiệu quả, do tâm lý “con ông, cháu cha” vẫn còn tồn tại. Ngoài ra còn có tình trạng
thừa người kém năng lực, thiếu người có năng lực dẫn đến tình trạng gây bất mãn và
mất lòng tin của nhân dân khi tiếp xúc với các bộ cơ quan Nhà nước. Lợi dụng tình
trạng này Tôi phạm chống người thi hành công vụ hình thành và phát triển.
Công tác quản lý của Nhà nước về trật tự xã hội còn nhiều yếu kém. Việc quản lý
học sinh, sinh viên bỏ học, không có công ăn việc làm còn nhiều khó khăn, tiềm ẩn
nguy cơ gây mất an ninh trật tự. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho thanh thiếu
niên còn nhiều khó khăn và bất cập chưa thật sự hiệu quả. Khi thanh thiếu niên tụ tập,
hình thành nên những băng nhóm hung hăng, có tính chất côn đồ một khi bị trấn áp sẽ
có hành vi chống đối lại người thi hành công vụ.
Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại vấn đề thủ tục hành chính khá phiền hà ở nhiều nơi.
Muốn rút ngắn thủ tục hành chính cho nhanh và tiện lợi hơn đã tạo điều kiện thuận lợi

nhất là Công an nhân dân (nhất là Cảnh sát giao thông). Dẫn đến việc chống người thi
hành công vụ như vậy cũng một phần xuất phát từ phía người thi hành công vụ. Họ
phải xem lại chính bản thân mình vì sao người dân lại thiếu tôn trọng và dẫn đến
chống người thi hành công vụ, phải chăng tác phong nghề nghiệp của họ chưa thật sự
tốt? Trong cuộc khảo sát lấy ý kiến của người dân, về thái độ phục vụ, thì một trong
những nơi bị đánh giá chỉ số hài lòng thấp nhất, đó là cơ quan công quyền thuộc ngành
Công an. Người cảnh sát cần bổ sung thêm kiến thức, kỹ năng giao tiếp với nhân dân
để cải thiện tốt mối quan hệ, xây dựng lòng tin vững chắc để người dân khi tiếp xúc
không dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, căng thẳng.
1.2.3.3 Nguyên nhân và điều kiện liên quan đến vấn đề ý thức pháp luật của
người dân
Tội phạm chống người thi hành công vụ xuất hiện ở mọi tầng lớp trong xã hội,
người có hành vi chống người thi hành công vụ không chỉ xuất hiện ở những đối tượng
ăn chơi liêu lỏng, bỏ học, không có việc làm ổn định mà hành vi đó thậm chí còn xuất
hiện ở những người có trình độ Đại học, phổ thông và cả những người làm việc trong
cơ quan Nhà nước như: Viện kiểm sát, Công an, Ngân hàng…
Ví dụ: Đội tuần tra dẫn đoàn CSGT Hà Nội đanng làm nhiệm vụ tại ngã tư Phan
Chu Trinh và Trần Hưng Đạo phát hiện hai đối tượng không đội mũ bảo hiểm đã đề
nghị dừng xe kiểm tra. Nhưng khi Trung úy Lã Mạnh Điển bước xuống kiểm tra bất
ngờ hai đối tượng tăng ga bỏ chạy. Trung úy Điển theo phản xạ nắm lấy đằng sau giữ
xe lại nhưng đã bị chiếc xe kéo hơn 500m trên phố Phan Châu Trinh với tốc độ cao.
Đối tượng chỉ dừng lại khi bị nhân dân phối hợp chặn lại. Lợi dụng lúc đông người,
đối tượng ngồi sau đã nhanh chân chạy trốn. Tại Công an phường Phan Châu Trinh,
quận Hoàn Kiếm, đối tượng khai nhận tên là Nguyễn Quốc Khánh, trú tại Phường
Bạch Đằng, Hoàn Kiếm, hiện là sinh viên năm cuối Khoa tại chức, Trường Đại học
Ngoại thương…..3
Hành vi chống người thi hành công vụ ở đây không phải chỉ có ở những đối
tượng có trình độ văn hóa thấp, không có việc làm ổn định mà thậm chí vẫn có ở
những người có trình độ văn hóa cao, làm việc trong các cơ quan thực thi pháp luật.
Vấn đề ở đây là ý thức pháp luật của từng người, họ thiếu tôn trọng pháp luật, sự

ph ố Biên Hòa đã đến hiện trường để giải quyết vụ tai nạn đồng thời tham gia điều
ph ối giao thông. Tuy nhiên, trong khi tổ CSGT đang lập biên bản vụ tai nạn, đưa chiếc
môtô gây tai nạn lên xe chuyên dụng của CSGT để đưa về Đội giải quyết thì Nguyễn
Đình Tiên đã xông vào chiến sĩ Thọ, giật phăng áo, làm năm chiếc cúc áo của chiến sĩ
CSGT bị đứt. Chưa dừng lại, vị cán bộ VKS này còn chửi bới, thóa mạ các đồng chí
CSGT. Trước sự việc chống người thi hành công vụ nghiêm trọng xảy ra, lực lượng
công an phường Tân Tiến đã có mặt kịp thời, đồng thời lập biên bản vụ việc, sau đó
chuyển hồ sơ lên Công an thành phố Biên Hòa xử lý. Được biết, khi đó Nguyễn Đình
Tiên sặc mùi rượu bia.4
Theo người viết sự xuống cấp về đạo đức, thái độ thiếu tôn trọng pháp luật được
hình thành từ những nguyên nhân sau đây:
- Ở nhà trường ngoài việc giảng dạy kiến thức khoa học cho học sinh, sinh viên
một cách đầy đủ thì việc giảng dạy nâng cao ý thức xã hội, các chuẩn mực đạo đức
chưa thật sự chú trọng. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho từng địa
phương, từng cấp bậc học chưa thật sự mang lại hiệu quả cao chủ yếu là về mặt hình
thức người dân chưa thật sự nắm rõ. Việc tuyên truyền đa số tập trung vào học sinh,
sinh viên, cán bộ công chức chứ chưa đi sâu vào cuộc sống nhân dân, chưa thể tác
động đến các đối tượng không có việc làm, không biết luật…..Ngoài ra, các hình thức
để tuyên truyền và phổ biến pháp luật chưa thật sự gây sự chú ý đối với người tiếp
nhận, họ tiếp nhận với thái độ không nhiệt tình và không tin tưởng.
- Bên cạnh đó vẫn có một số đối tượng xem thường pháp luật, đạo đức xã hội.
Với tâm lý tiêu cực ở người phạm tội đã dẫn đến tính hung hãn, côn đồ bất chấp mọi
thủ đoạn, chống trả quyết liệt khi có bất cứ ai tác động đến bản thân của họ. Thậm chí
4

Http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/121123/Can-bo-VKS-gay-tai-nan-chong-nguoi-thi-hanh-congvu.html. Cập nhật ngày 03/05/2008, 08:51.

GVHD: TS. Phạm Văn Beo

Trang - 17 -


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status