phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự việt nam hiện hành - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011-2015
ĐỀ TÀI

PHÂN HÓA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG
MỘT SỐ CHẾ ĐỊNH PHẦN CHUNG BỘ LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Giảng viên hướng dẫn:

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thu Hương

Nguyễn Thành Thêm

Bộ môn Luật Tư pháp

MSSV: 5115754
Lớp Luật Tư pháp 1, K37

Cần Thơ, tháng 12/2014


Nhận xét của giảng viên
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................

.....................................................................................................................................


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự Việt Nam
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................. 1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ....................................................................................... 1
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài ......................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................................. 2
5. Kết cấu của đề tài ............................................................................................................. 2
CHƯƠNG 1 .......................................................................................................................... 4
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN HÓA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ................... 4
1. 1 Khái quát về trách nhiệm hình sự ................................................................................ 4
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự .................................................................................. 4
1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự ............................................................................. 7
1.2 Khái quát phân hóa trách nhiệm hình sự.................................................................... 12
1.2.1 Khái niệm phân hóa trách nhiệm hình sự ................................................................ 12
1.2.2 Các đặc điểm cơ bản của phân hóa trách nhiệm hình sự ........................................ 15
1.2.2. 1 Phân hoá trách nhiệm hình sự là nguyên tắc của hoạt động xây dựng pháp luật (hình
sự) ....................................................................................................................................... 15
1.2.2.2 Phân hoá trách nhiệm hình sự có nội dung là việc quy định đường lối xử lí có phân
biệt đối với các loại trường hợp phạm tội khác nhau ............................................................ 16
1.4 Lược khảo về sự hình thành và áp dụng phân hóa trách nhiệm hình sự vào bộ luật
hình sự Việt Nam ............................................................................................................... 21
1.4.1 Giai đoàn trước khi có bộ luật hình sự 1985 ............................................................ 21
1.4.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ
luật hình sự năm 1999 ........................................................................................................ 25
1.4.3 Giai đoạn ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay .......................................... 26
1.5 Ý nghĩa của việc phân hóa trách nhiệm hình sự ......................................................... 28

3.1.2 Những bất cập việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong chế định tuổi chịu trách
nhiệm hình sự ..................................................................................................................... 55
3.1.3 Những bất cập việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong chế định thời hiệu truy
cứu trách nhiệm hình sự .................................................................................................... 56
3.1.4 Những bất cập việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong chế định đồng phạm ..... 57
3.1.5 Những bất cập việc phân hóa trách nhiệm hình sự trong chế định xóa án tích...... 58
3.2 Định hướng hoàn thiện về phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định
trong phần chung Bộ luật hình sự Việt Nam .................................................................... 59
3.3 Phương hướng hoàn thiện bất cập trong một số chế định trong phần chung Bộ luật
hình sự hiện hành ............................................................................................................... 61
3.3.1 Phương hướng hoàn thiện bất cập trong chế định phân loại tội phạm ................... 61
3.3.2 Phương hướng hoàn thiện bất cập trong độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự ........... 62
3.3.3 Phương hướng hoàn thiện bất cập trong chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự ................................................................................................................................ 64
3.3.4 Phương hướng hoàn thiện bất cập trong chế định đồng phạm ............................... 65
3.3.5 Phương hướng hoàn thiện bất cập trong chế định xóa án tích ................................ 66
KẾT LUẬN ........................................................................................................................ 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Nguyễn Thu Hương

ii

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

phòng chống tội phạm phù hợp với tình hình chung của đất nước.

GVHD: Nguyễn Thu Hương

1

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu của người viết tiếp cận dưới góc độ khoa học hình sự, bản
thân đề tài rất rộng nên người viết không thể bao quát hết các vấn đề. Trong khả năng
của mình người viết tập trung nghiên cứu một số vấn đề phân hóa trách nhiệm hình sự
trong một số chế định trong phần chung của Bộ luật hình sự hiện hành, cụ thể đó là
phân loại tội phạm, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu trách nhiệm
hình sự, đồng phạm, xóa án tích. Bên cạnh đó người viết đưa ra những quam điểm của
mình để hoàn thiện các chế định trong tương lai.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này người viết dưa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của đảng và nhà nước trong việc xây dựng
phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định trong phần chung Bộ luật hình sự
hiện hành. Bên cạnh đó người viết đã kết hợp một vài phương pháp nghiên cứu khác
như:
+ Phương pháp nghiên cứu lý luận trên cơ sở các tài liệu có liên quan đến phân
hóa trách nhiệm hình sự;
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp;
+ Phương pháp so sánh;
Sự kết hợp những phương pháp chung với những phương pháp riêng, giúp người
viết làm sáng tỏ vấn đề một cách nhanh chóng và mang lại hiệu quả tốt nhất, phương



Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÂN HÓA TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Phân hóa trách nhiệm hình sự là một trong những nguyên tắc quan trọng trong
hệ thống lập pháp nói chung và pháp luật hình sự nói riêng. Cũng như những đề tài
khác thì muốn hiểu trách nhiệm hình sự là gì thì ta cần tìm hiểu những nội dung khái
quát như là khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hình sự, khái niệm, đặc điểm phân
hóa trách nhiệm hình sự, và so sánh với các nguyên tắc khác trong luật hình sự. Sau đây
người viết sẽ đi sâu vào tìm hiểu những nội dung đó.
1. 1 Khái quát về trách nhiệm hình sự
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự
Từ trước đến nay trong khoa học luật hình sự khi nghiên cứu những vấn đề lý
luận có liên quan đến trách nhiệm hình sự thì vấn đề cơ bản cần được giải quyết là phải
đưa ra định nghĩa khoa học của khái niệm trách nhiệm hình sự. Để nhận thức cũng như
hiểu rõ về khái niệm phân hóa trách nhiệm hính sự thì đầu tiên cần hiểu rõ khái niệm
trách nhiệm hình sự là gì. Trong sách báo cũng như thực tiễn chính trị, pháp lý, thuật
ngữ "Trách nhiệm" thường được hiểu theo hai nghĩa. Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ,
bổn phận của một người trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước. Ví dụ, trách
nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi trường sống; trách nhiệm của bố mẹ trong
việc chăm sóc, giáo dục con cái v.v... Thứ hai, trách nhiệm là hậu quả bất lợi mà một
người phải gánh chịu trước người khác, trước xã hội hoặc Nhà nước do đã có hành vi vi
phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó.1
Trách nhiệm hình sự được dùng theo nghĩa thứ hai. Trên thực tế thì vấn đề trách
nhiệm pháp lý vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau vì nó khá phức tạp và các quan điểm
đó như sau:
+Thứ nhất: Trách nhiệm hình sự là một loại quan hệ pháp luật giữa Nhà nước và
người phạm tội. Trách nhiệm hình sự là nghĩa vụ phải chịu các biện pháp cưỡng chế

cũng không hoàn toàn giống nhau nên việc định nghĩa khái niệm trách nhiệm hình sự
của mỗi cá nhân cũng khác nhau như:
+ Tiến sĩ Phạm Văn Beo viết “Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm
pháp lý, buộc người phạm tội phải gánh chịu hậu quả bấc lợi về hành vi phạm tội của
mình, được thể hiện bằng việc Tòa án nhân danh nhà nước, tuân thủ theo một thủ tục tố
tụng, kế án người phạm tội”.
+ Phó giáo sư tiến sĩ khoa học Đào Trí Úc viết “Trách nhiệm hình sự là hậu quả
pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chổ người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm
hình sự cảu mình trước Nhà nước”.
Có nhiều quan điểm cho rằng “ Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách
nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách
nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (Hình
phạt và các biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích”.
Khái niệm trách nhiệm hình sự là khái niệm khá rộng trong đó trách nhiệm hình
sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội được áp dụng đối với người thực hiện hành vi
phạm tội. Căn cứ theo luật hình sự Việt Nam, đã được phân ra thành hai loại: loại có
hình phạt và loại không có hình phạt (miễn hình phạt). Trong trường hợp có hình phạt,
3

Leeykina N. X, Nhân thân người phạm tội và trách nhiệm hình sự, Nxb. Trường ĐHTH Leeningad,
1968, tr.31 (tiếng Nga); bagri-Sakhamatov. L.V,Trách nhiệm hình sự và hình phạt, NXb. Đại học,
Minsk, 1976, tr.31 (tiếng Nga)..
4
Xamosenko I.X.Pharksin M.Kh, Trách nhiệm theo pháp luật Xô Viết, Matxcova, 1971, tr. 61 (tiếng
Nga).
5
Xem: Zagaroddnhikov N. I, Về giới hạn trách nhiệm hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật Xô viết,
1967, số 7, tr.39-40 (tiếng Nga); Tkatrevxki Iu. M, Trách nhiệm hình sự và cơ sở của trách nhiệm hình
sự – Trong sách: Luật hình sự Xô viết (Phần chung), Nxb. ĐHTH Maxcova, 1981, tr.29 (tiếng Nga).


phạm tội có thể bị tước tính mạng, hạn chế quyền tự do thân thể, quyền về tài sản,…Vì
những lẽ đó, không thể coi trách nhiệm hình sự là việc thực hiện chế tài pháp lý hình
sự, phát sinh từ khi áp dụng hình phạt đối với người phạm tội.
Như vậy, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam có và Giáo
trình luật hình sự Việt Nam phần chung của Tiến sĩ Phạm Văn Beo thì khái niệm trách
nhiệm hình sự được hiểu: “Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, buộc
người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội của mình,
được thể hiện bằng việc Toà án nhân danh nhà nước, tuân theo thủ tục tố tụng riêng,
kết án người phạm tội”6.
Khái niệm trách nhiệm hình sự trên là đầy đủ, thể hiện được bản chất trách
nhiệm hình sự. Tuy nhiên cũng cần hiểu rõ trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý hình
6

Phạm văn Beo, Luật hình sự phần chung ( quyển 1), Cần thơ, 2010, tr.316.

GVHD: Nguyễn Thu Hương

6

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
sự bất lợi, nêu rõ vấn đề này sẽ thấy được sự khác biệt giữa trách nhiệm hình sự với các
dạng trách nhiệm pháp lý khác. Do vậy có thể hiểu trách nhiệm hình sự là: Trách nhiệm
của người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý hình sự đối với hành vi phạm tội của
mình.
1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm hình sự
Căn cứ vào khái niệm trách nhiệm hình sự và những gì đã nghiên cứu bên trên

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó - do đó phải là hành vi của chính người
đó. Giới hạn của hành vi của y phải là giới hạn của sự trừng phạt”.7
Người phải chịu trách nhiệm hình sự chỉ có thể là người phạm tội, nghĩa là người
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự coi là tội phạm khi đã đạt độ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có năng lực trách nhiệm hình sự và có lỗi (cố ý hoặc vô
ý). Trong trường hợp tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì từng
người đồng phạm cũng phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập. Hình phạt quyết định đối
với từng người đồng phạm được quyết định căn cứ vào tính chất đồng phạm, tính chất
và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm.
Bên cạnh đó trách nhiệm hình sự của cá nhân, pháp luật hình sự nhiều nước cũng
đã quy định cả trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Ví dụ, Mỹ, Hà Lan, Bồ Đào Nha,
Pháp, Phần Lan, Bỉ, Trung Quốc... Việc quy định hay không quy định trách nhiệm hình
sự của pháp nhân trong pháp luật hình sự của các nước phụ thuộc vào điều kiện, hoàn
cảnh kinh tế, chính trị - xã hội và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
của từng nước trong từng giai đoạn nhất định.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, pháp luật hình sự nước ta mới chỉ thừa nhận
trách nhiệm hình sự của cá nhân mà chưa coi pháp nhân là chủ thể của tội phạm và phải
chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp tội phạm do người đại diện pháp nhân thực
hiện không chỉ vì lợi ích của cá nhân người đó mà còn vì lợi ích của cả pháp nhân thì
trách nhiệm hình sự cũng chỉ có thể áp dụng đối với cá nhân người phạm tội.
+ Thứ ba: Trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội của Tòa án có hiệu
lực pháp luật, hình phạt và một số biện pháp cưỡng chế hình sự khác do luật hình sự
quy định.
Trách nhiệm hình sự là mối quan hệ giữa Nhà nước (thông qua các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền) và người phạm tội. Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của

án quyết định hình phạt mà gắn với việc Tòa án quyết định miễn hình phạt đối với
người đó.
Như vậy, trách nhiệm hình sự có thể có hình phạt và cũng có thể không có hình
phạt. Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo quyết định miễn hình
phạt đối với người phạm tội thì trách nhiệm hình sự của người phạm tội thể hiện ở việc
người phạm tội bị Tòa án kết án bằng bản án kết tội mà người đó không phải chịu hình
phạt. Trong trường hợp bản án kết tội của Tòa án có kèm theo quyết định hình phạt thì
trách nhiệm hình sự được thể hiện ở bản án kết tội và thể hiện ở loại và mức hình phạt
cụ thể mà Tòa án quyết định đối với người phạm tội và dấu hiệu án tích của người đó.
Cơ sở phát sinh trách nhiệm hình sự bắt đầu từ thời điểm người phạm tội thực
hiện tội phạm. Thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng có
quyền và nghĩa vụ áp dụng các biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định để truy
cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối
với người phạm tội trong tố tụng hình sự là do quyết định khởi tố bị can, kết luận điều
tra và đề nghị truy tố, quyết định truy tố bằng bản cáo trạng . Tuy nhiên, việc truy cứu
trách nhiệm hình sự không đồng nhất với việc thực hiện trách nhiệm hình sự. Việc truy
cứu trách nhiệm hình sự của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong tố tụng hình sự
chỉ là hoạt động tố tụng nhằm xác định các căn cứ để truy tố người phạm tội ra xét xử
tại Tòa án. Thực chất hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự là hoạt động công tố,
trong đó vai trò quyết định việc truy tố thuộc về Viện kiểm sát. Còn chức năng xét xử,
kết tội người bị truy tố lại thuộc về Tòa án. Trên cơ sở quyết định truy tố của Viện kiểm
sát, Tòa án sẽ ra quyết định kết tội hay không kết tội người bị truy tố. Một người không
bị Tòa án kết tội bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật thì người đó không thể "bị
coi là có tội". Bên cạnh đó Tòa án xác định người bị truy tố đã thực hiện hành vi thỏa
GVHD: Nguyễn Thu Hương

9

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


sự, khác với cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình thức xử phạt vi phạm hành chính ở
chỗ, người bị phạt cảnh cáo, phạt tiền với tính cách là hình phạt hình sự luôn gắn với
hậu quả pháp lý là người đó bị coi là có án tích. Và chỉ có thể được xóa khi đáp ứng
những điều kiện do luật định (từ Điều 63 đến Điều 67 Bộ luật hình sự). Án tích gắn liền
với bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Một người bị coi là còn án tích
nghĩa là bản án kết tội đối với người đó vẫn còn hiệu lực pháp luật. Đúng như Iakôvlev
A. M. đã viết: "Án tích chưa được xóa có nghĩa là bản án vẫn còn hiệu lực cả khi một

GVHD: Nguyễn Thu Hương

10

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
người đã chấp hành xong hình phạt quyết định đối với người đó".8 Trong trường hợp
người bị kết án chưa được xóa án tích mà phạm tội mới thì dấu hiệu án tích có ý nghĩa
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của
người đó. Người chưa được xóa án tích lại phạm tội mới có thể bị coi là tái phạm hoặc
tái phạm nguy hiểm (Điều 49 Bộ luật hình sự) và gắn với việc bị coi là tái phạm, tái
phạm nguy hiểm, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn những người
không có án tích mà phạm tội khi các điều kiện khác giống nhau (người tái phạm hoặc
tái phạm nguy hiểm có thể bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng của tội phạm đã thực
hiện hoặc bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật
hình sự).
Như vậy, theo ý kiến của người viết, bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp
luật là cơ sở pháp lý chính thức xác nhận người phạm tội bị coi là có tội. Qua đó Tòa án
có thể quyết định hình phạt hoặc quyết định miễn hình phạt đối với người phạm tội.


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
Theo Bộ luật tố tụng hình sự nước ta, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi
xác định có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố vụ án, khi có đủ căn cứ để xác định một người
đã thực hiện tội phạm thì khởi tố bị can. Trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan
nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm
giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm. Các
biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự nhằm ngăn chặn việc bị can, bị cáo có thể
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; ngăn chặn việc bị can, bị cáo có thể
phạm tội mới hoặc ngăn chặn việc bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc có hành vi khác gây cản
trở cho việc việc thi hành án. Người đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể
không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu sau đó Cơ quan điều tra quyết định đình chỉ
điều tra (Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự), Viện kiểm sát hoặc Tòa án đình chỉ vụ án
(Điều 169 và Điều 180 Bộ luật tố tụng hình sự) hoặc tại phiên tòa, Tòa án không kết tội
mà tuyên miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Song quá trình giải quyết vụ án cùng
với việc áp dụng các biện pháp đó của các cơ quan tiến hành tố tụng không phải là quá
trình thực hiện trách nhiệm hình sự mà chỉ là quá trình xác định những điều kiện cần và
đủ để có thể truy tố người phạm tội và buộc tội họ trước Tòa án. Việc thực hiện trách
nhiệm hình sự từ phía Nhà nước và việc phải chịu trách nhiệm hình sự từ phía người
phạm tội chỉ bắt đầu khi bản án kết tội của Tòa án đối với bị cáo có hiệu lực pháp luật.
1.2 Khái quát phân hóa trách nhiệm hình sự
1.2.1 Khái niệm phân hóa trách nhiệm hình sự
Trên cơ sở khái niệm trách nhiệm hình sự ở trên để hiểu thế nào là phân hóa
trách nhiệm hình sự là gì thì cần hiểu thuật ngữ “Phân hóa”. Phân hóa hiểu là “Chia
thành nhiều bộ phận khác hẳn nhau”9. Vậy phân hóa được hiểu là sự phân chia, phân
loại các đối tượng khác nhau thành từng nhóm khác biệt nhau dựa trên tiêu chí nhất
định.
Trong sách báo cũng như thực tiễn pháp luật, chính trị, thuật ngữ “ Phân hóa
trách nhiệm hình sự ”, là một trong những khái niệm thu hút sự quan tâm nghiên cứu

sự, cũng như trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự. Giữa quan điểm thuộc nhóm
này chỉ tồn tại sự khác biệt ở phần nội hàm của khái niệm có liên quan đến phần thể
hiện trong hoạt động áp dụng pháp luật hình sự (chỉ bao gồm hoạt động quyết định hình
phạt hay bao gồm cả điều tra, truy tố và chấp hành hình phạt) nhưng điều khẳng định
nguyên tắc này vừa được thể hiện trong luật vừa được thể hiện trong hoạt động áp dụng
pháp luật.10
Nhóm thứ hai, các tác giả có sự phân biệt rõ ràng khái niệm phân hóa trách
nhiệm hình sự với các khái niệm cá thể hóa trách nhiệm hình sự và xác định phân hóa
trách nhiệm hình sự là nguyên tắc được thể hiện trong luật còn cá thể hóa trách nhiệm
hình sự là nguyên tắc được thể hiện trong hoạt động áp dụng pháp luật. Phó giáo sư tiến
sĩ Nguyễn Ngọc Hòa đã thể hiện rõ quan điểm này khi khẳng định: “Vấn đề phân hóa
và cá thể hóa trách nhiệm hình sự được đặt ra và được coi là một nguyên tắc của luật
hình sự Việt Nam. Nguyên tắc này không chỉ có nhiều nghĩa khi áp dụng luật hình sự
mà đòi hỏi trước hết phải có sự phân hóa trách nhiệm hình sự ngay trong luật và đó là
cơ sở để cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong thực tiễn áp dụng luật”11. Theo từ điển
thuật ngữ luật học thì phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt được xác
định là một nguyên tắc độc lập với quan điểm “Để cá thể hóa hình phạt trong hoạt
động áp dụng pháp luật đòi hỏi phải có sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật học
và giải thích luật. Trách nhiệm hình sự càng được phân hóa trong luật và trong giải
thích luật thì càng có cơ sở cho việc cá thể hóa hình phạt trong ap dụng”.12
10

Phạm Hùng Việt, Nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa TNHS trong luật hình sự Việt Nam, luận văn
thạc sĩ luật học, Hà Nội, 1998, tr. 9-24.
11
Nguyển Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an nhân dân ,Hà Nội. 2005, tr. 24.
12
Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1999, tr. 22.

GVHD: Nguyễn Thu Hương

dụng pháp luật cũng như các đặc điểm vốn có của nó có thể khẳng định khái niệm
nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự là một nguyên tắc cơ bản quan trọng xuyên
suốt trong pháp luật hình sự Việt Nam thể hiện qua việc quy định đường lối xử lý có
phân biệt các trường hợp phạm tội khác nhau về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm được thể hiện và những đặc điểm nhân thân của người phạm tội.
Vậy phân hóa trách nhiệm hình sự trong Luật hình sự được hiểu là việc phân
chia, phân loại các trường hợp phạm tội dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã
hội của tội phạm. đồng thời phân chia và quy định mức trách nhiệm hình sự phù hợp và
tương xứng với mức độ nguy hiểm cho xã hội mà tội phạm gây ra. Từ khái niệm trên
cho thấy rằng kết quả phân hóa trách nhiệm hình sự góp phần không nhỏ trong việc
đảm bảo thực hiện mục đích của trách nhiệm hình sự đặt ra với người phạm tội là cải

GVHD: Nguyễn Thu Hương

14

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ít cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp
luật, các quy tắt của cuộc sống và ngăn ngừa họ tiếp tục quy phạm pháp luật. Đồng thời
còn răn đe, phòng ngừa, giáo dục người khác không vi phạm pháp luật nói chung và
pháp luật hình sự nói riêng. Vì các hoạt động phân hóa Trách nhiệm hình sự là dựa trên
tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm để phân chia, phân loại các trường hợp gây
nguy hiểm cho xã hội là khác nhau thông qua tính đa dạng, phong phú của các yếu tố
gây nguy hiểm cho xã hội như: loại hành vi phạm tội, loại quan hệ xã hội bị xâm phạm,
đặc điểm nhân thân của tội phạm, hậu quả phạm tội gây ra sau khi đã phân nhóm các
trường hợp phạm tội theo mức độ nguy hiểm cho xã hội thì tiếp theo là phân chia mức

Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
1.2.2.2 Phân hoá trách nhiệm hình sự có nội dung là việc quy định
đường lối xử lí có phân biệt đối với các loại trường hợp phạm tội khác nhau
Trong đời sống thực tiễn, các hành vi phạm tội được thực hiện rất phong phú, đa
dạng và có thể đòi hỏi phải có những cách thức xử lí khác nhau nhằm đạt được mục
đích bảo vệ các quan hệ xă hội, giáo dục người phạm tội. Thực trạng đó đòi hỏi nhà làm
luật phải dự liệu được một cách cơ bản về sự khác biệt giữa các trường hợp phạm tội có
thể xảy ra trong thực tiễn và quy định cho chúng một “liều lượng” trách nhiệm hình sự
cần thiết, hợp lí. Mức độ phân hoá trong đường lối xử lí mà nhà làm luật quy định đòi
hỏi phải tương ứng với sự đa dạng, phức tạp của các hành vi phạm tội được thực hiện
trong thực tiễn sao cho các quy phạm pháp luật có thể là cơ sở pháp lí để xác định đúng
trách nhiệm hình sự phù hợp cho mỗi trường hợp phạm tội riêng biệt.
1.3 Mối quan hệ giữa phân hóa trách nhiệm hình sự với các nguyên tắc khác của
luật hình sự
Trong hệ thống pháp luật nói chung, mỗi ngành luật nói riêng đều tuân thủ các
nguyên tắc của pháp luật nhất định trong xây dựng và áp dụng pháp luật; Các nguyên
tắc này bao gồm những nguyên tắc chung mang tính chất chính trị-xã hội của pháp luật
và các nguyên tắc pháp lý đặc thù. Nguyên tắc của pháp luật là những nguyên lý, những
tư tưởng chỉ đạo cơ bản, có tính chất xuất phát điểm, thể hiện tính toàn diện, linh hoạt
và có ý nghĩa bao quát, quyết định nội dung và hiệu lực của pháp luật. Mỗi ngành luật
có thể ghi nhận các nguyên tắc của pháp luật vào trong các văn bản hoặc không ghi
nhận trong văn bản luật ngành luật đó. Dù ghi nhận hay không ghi nhận vào trong các
văn bản luật của một ngành luật cụ thể nhưng mỗi ngành luật đều phải tuân thủ các
nguyên tắc của pháp luật (gồm cả những nguyên tắc chung và nguyên tắc đặc thù) trong
xây dựng luật và áp dụng pháp luật. Trong xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự cũng
vậy đều phải quán triệt, tuân thủ các nguyên tắc chung của pháp luật và những nguyên
tắc đặc thù của pháp luật hình sự. Như phân tích ở phần trước về cơ sở lí luận và cơ sở
thực tiễn của phân hóa trách nhiệm hình sự nên có thể xem phân hóa trách nhiệm hình
sự là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong hoạt động xây dựng pháp luật hình sự.

đề về tội phạm và mức trách nhiệm hình sự đối với tội phạm phải được qui định trong
luật hình sự. Với yêu cầu này thì các nội dung phân hóa trách nhiệm hình sự sẽ được
qui định tập trung trong luật hình sự. Yêu cầu khác của nguyên tắc pháp chế là việc xử
lý tội phạm, quyết định mức trách nhiệm hình sự đối với tội phạm phải tuân thủ theo
đúng qui định pháp luật hình sự. Do vậy, các quy định pháp luật hình sự mang tính
phân hóa sẽ được chuyển tải và áp dụng trong thực tiễn. Theo yêu cầu của nguyên tắc
pháp chế thì kết quả của phân hóa trách nhiệm hình sự trong luật hình sự sẽ là cơ sở
pháp lí cho quyết định hình phạt trong áp dụng pháp luật hình sự. Ngược lại, phân hóa
trách nhiệm hình sự càng sâu sắc, hợp lý và toàn diện thi sẽ đảm bảo các mức trách
nhiệm hình sự tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm;
tạo ra các khung pháp lý rõ ràng về mức trách hình sự áp dụng đối với trường hợp phạm
tội cụ thể buộc các chủ thể áp dụng pháp luật hình sự phải tuân theo. Với kết quả nêu
trên của phân hóa trách nhiệm hình sự đã tránh được sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật
hình sự; và cùng với mức trách nhiệm hình sự tương xứng với mức độ nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm thì trách nhiệm hình sự áp dụng cho người phạm đạt được mục đích
là đủ sức răn đe, cải tạo, giáo dục người phạm tội và có tác dụng phòng ngừa tội phạm.
Mức trách nhiệm hình sự đặt ra tương xứng, hợp lý với mức độ nguy hiểm cho xã hội
của tội phạm và khung pháp lý về mức trách nhiệm hình sự sẽ tạo ra cơ sở pháp lí cho
việc quyết định hình phạt công bằng trong khuôn khổ pháp luật nên quần chúng nhân

GVHD: Nguyễn Thu Hương

17

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
dân tin tưởng vào pháp luật, tự nguyện sống và làm việc theo pháp luật và tự đây

hành vi phạm tội đã thực hiện, đặc điểm nhân thân người phạm tội, hậu quả do tội phạm
gây ra,… rất đa dạng, phong phú nên chúng cần phải phân hóa trách nhiệm hình sự một
cách đầy đủ , toàn diện và hợp lý. Các yếu tố tạo nên tính nguy hiểm cho xã hội của tội

GVHD: Nguyễn Thu Hương

18

SVTH: Nguyễn Thành Thêm


Phân hóa trách nhiệm hình sự trong một số chế định phần chung bộ luật hình sự
Việt Nam
phạm càng được phân hóa trách nhiệm hình sự sâu sắc, toàn diện thì cá thể hóa hình
phạt trong áp dụng pháp luật hình sự sẽ dẽ dàng thuận lợi. Bởi lẽ, các trường hợp phạm
tội trong thực tiễn rát đa dạng, mỗi trường hợp phạn tội hàm chứa nhiều yếu tố tạo nên
tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm rất khác nhau nhưng thông qua phân hóa trách
nhiệm hình sự thì các yếu tố này đã được liều lượng một mức trách nhiệm hình sự phù
hợp nên việc quyết định một hình phạt cụ thể cho người phạm tội được dễ dàng và họp
lý. Có thể nói, phân hóa trách nhiệm hình sự càng sâu sắc bao nhiêu thì khả năng cá thể
hóa hình phạt càng mở rộng bấy nhiêu. Ngược lại, trong áp dụng pháp luật mà cá thể
hóa hình phạt được thực hiện một cách dễ dàng, thuận lợi,mức hình phạt đặt ra đạt được
mục đích trong công tác phòng chống tội phạm và cải tạo giáo dục người phạm tội thì
chứng tỏ phân hóa trách nhiệm hình sự đã có tính tương xứng, sâu sắc và hợp lý. Nếu
cá thể hóa hình phạt gặp khó khăn, chẳng hạn như có thêm yếu tố mới thể hiện tính
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm nhưng chưa được phân hóa và qui định mức trách
nhiệm hình sự thì đây là biểu hiện của phân hóa trách nhiệm hình sự chưa được toàn
diện và sâu sắc. Với hạn chế, khó khăn trong cá thể hóa hình phạt khi áp dụng pháp luật
hình sự sẽ là điều kiện để phân hóa trách nhiệm hình sự càng hoàn thiện và phát triển
hơn. Cá thể hóa hình phạt có mối quan hệ với phân hóa trách nhiệm hình sự còn thể

Từ yêu cầu nêu trên thì nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự có mối quan hệ tác
động với phân hóa trách nhiệm hình sự. Nguyên tắc nhân đạo là những quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo, định hướng cho phân hóa trách nhiệm hình sự theo hướng nhân đạo.
Như theo tư tưởng nhân đạo thì đối với người chưa thành niên phạm tội phải được áp
dụng mức trách nhiệm hình sự thấp hơn so với người đã thành niên phạm tội; trên tinh
thần mang tính nhân đạo này thì phân hóa trách nhiệm hình sự sẽ tiến hành phân hóa và
qui định mức trách nhiệm hình sự khác biệt đối với từng nhóm tuổi của người chưa
thành niên phạm tội và thấp hơn so với mức trách nhiệm hình sự của người đã thành
niên phạm tội.
Ngược lại, phân hóa trách nhiệm hình sự có tác động trở lại với nguyên tắc nhân
đạo là: Thứ nhất, phân hóa trách nhiệm hình sự là biện pháp để thực hiện tính nhân đạo
trong luậy hình sự, tức tư tưởng nhân đạo muốn chuyển tải vào trong thực tiễn thì phải
được qui định trong Luật hình sự thông qua phân hóa trách nhiệm hình sự. Thứ hai,
phân hóa trách nhiệm hình sự sâu sắc đảm bảo mức trách nhiệm hình sự phù họp tối đa
với tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thì cũng thể hiện được tính nhân đạo đối
với người phạm tội, đối với người khác trong xã hội. Vì phân hóa trách nhiệm hình sự
tạo ra cơ sở pháp lý để quyết định mức trách nhiệm hình sự tương xứng và hợp lý với
mức độ nguy hiểm cho xã hội của người phạm tội thì đảm bảo việc xử lý tội phạm
không gây thiệt hại đến các quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội; đảm bảo
việc phòng ngừa tội phạm, tức các quyền và lợi ích chính đáng của người khác không bị
tội phạm xâm hại. Và phân hóa trách nhiệm hình sự đã tạo ra các khung pháp lý hình
sự áp dụng trong xử lý tội phạm được dễ dàng, thống nhất và tránh tùy tiện nên đảm
bảo việc xét xử đúng người, đúng tội; tránh oan, sai đối với người phạm tội. Như vậy,
phân hóa trách nhiệm hình sự đã đảm bảo yêu cầu cuả nguyên tắc nhân đạo trong Luật
hình sự. Thứ ba, thông qua phân hóa trách nhiệm hình sự đã phân định được phạm vi
những hành vi bị coi là tội phạm với những hành vi không phải là tội phạm vì lý do
nhân đạo. Như qua hoạt động phân hóa trách nhiệm hình sự đối với độ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự thì tại khoản 2 điều 12 Bộ luật hình sự hiện hành qui định phạm vi hành
GVHD: Nguyễn Thu Hương


nhiều di sản quý báu. Đó là những thành tựu và kinh nghiệm lập pháp hình sự. Trong
quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước đã không ngừng ban hành các văn bản pháp luật
hình sự nhằm duy trì bảo vệ chế độ độc lập tự chủ và chống phá các thế lực thù địch.
Trước khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 thì trong các triều đại phong kiến vẫn chưa có
luật thành văn cho đến khi bộ luật “ Hình Thư “ năm 1042 đã đánh dấu sự ra đời của
pháp luật thành văn góp phần thúc đẩy sự phát triển về kinh tế, xã hội, văn hóa nước ta
thời bấy giờ.
Pháp luật hình sự trong thời nhà Lý đã có sự phân hóa trách nhiệm hình sự theo
đặc điểm nhân thân chủ thể thực hiện tội phạm, theo mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội. Hành vi càng nguy hiểm có nguy cơ càng xâm hại lớn đến xã hội được qui

GVHD: Nguyễn Thu Hương

21

SVTH: Nguyễn Thành Thêm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status