các tội phạm về môi trường trong luật hình sự việt nam hiện hành lý luận và thực tiễn - Pdf 30

Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 - 2015

Đề tài

CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH - LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

SINH VIÊN THỰC HIỆN

NGUYỄN VĂN TRÒN

TRẦN HOÀI ÂN
MSSV: 5115869
Lớp: Luật tư pháp 2_ K37

TRƯỜNG ĐẠI
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

- Cần Thơ, 11/2014 1



- Cần Thơ, 11/2014 -

2

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn

---------Người viết xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Cần Thơ, đơn vị Khoa
Luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho người viết hoàn thành khóa luận văn tốt
nghiệp này. Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên
hướng dẫn - thầy Nguyễn Văn Tròn đã giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình thực
hiện đề tài.
Cần Thơ, Ngày….,Tháng…..Năm 2014
Sinh viên thực hiện

TRẦN HOÀI ÂN

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

3

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN


SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
---------.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
.................................................................................................................................................
Cần Thơ, Ngày….,Tháng…..Năm 2014

TPVMT

Tội phạm về môi trường

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

6

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn

MỤC LỤC
--------Trang

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………………….…………...1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài. ………………………………………..….………1
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài. …………………………………….…...…………2
4. Phương pháp nghiên cứu. ………… ………………………………...……………2
5. Kết cấu của luận văn. …………………………………. ……………….…………2

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM MÔI
TRƯỜNG THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM……………………...……...3
1.1.Khái niệm về môi trường.………………………………… …….…………….….3
1.2. Khái quát về tội phạm môi trường………………………….……………….......4
1.2.1. Khái niệm tội phạm về môi trường…………………….……………….........4
1.2.2. Đặc điểm của tội phạm về môi trường……………………………………….6
1.2.3. Nguyên nhân và điều kiện phạm tội của tội phạm về môi trường……..…..7

2.1.1. Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm về môi trường..….16
2.1.1.1. Mặt Khách thể của tội phạm về môi trường…………..………….……16
2.1.1.2. Mặt Khách quan của tội phạm về môi trường …………….…………..16
2.1.1.3. Mặt Chủ quan của tội phạm về môi trường……….…...………….…...18
2.1.1.4. Mặt Chủ thể của tội phạm về môi trường………………..…….…….…18
2.1.2. Phân loại các tội phạm về môi trường………………...…………..…….…19
2.1.3. Hình phạt đối với các tội phạm về môi trường…………………….………20
2.2. Các quy định cụ thể về tội phạm môi trường theo pháp luật hình sự hiện
hành.……………………………………………………………………………..………21
2.2.1. Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182, BLHS hiện hành)……….………21
2.2.1.1. Định nghĩa: …………………………………………………..….………21
2.2.1.2. Dấu hiệu pháp lý…………………………………………..……..………21
2.2.1.3. Hình phạt: …………………………………………………………….....22
2.2.2. Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 182a) ……..…24
2.2.2.1. Định nghĩa: ……………………..…...……………………………..……24
2.2.2.2. Dấu hiệu pháp lý…………………………………………………………24
2.2.2.3. Hình phạt: ……………………………………….………………………25
2.2.3. Tội vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường (Điều 182b) …....26
2.2.3.1. Định nghĩa: ………………………………………………………...…....26
2.2.3.2. Dấu hiệu pháp lý……………...………………………………………….26
2.2.3.3. Hình phạt: ……………………………………………………….………27

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

8

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

9

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn
2.2.10.3. Hình phạt: ……………………………………………… .……………45
2.2.11. Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 191a) …….…46
2.2.11.1. Định nghĩa: ……………….………………………………….…..……46
2.2.11.2. Dấu hiệu pháp lý………………………………………………………46
2.2.11.3. Hình phạt……………………………………………………….………47

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ VIỆC ÁP DỤNG NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI
VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG……………………………48
3.1. Thực trạng áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung
2009 đối với các tội phạm về môi trường. ………………………………………48
3.2. Những bất cập trong việc áp dụng những quy định của Bộ luật Hình sự 1999,
sửa đổi, bổ sung 2009 đối với các tội phạm về môi trường………………...…………51
3.2.1. Trong lĩnh vực hình sự……………………………………………….……..51
3.2.2. Trong lĩnh vực kinh tế……………………...………...………….…..…..…53
3.2.3. Trong công tác giáo dục………………………………………….…………54
3.2.4. Trong công tác điều tra, quản lý, thanh tra, giám sát. ……....……..……54
3.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của Bộ luật
Hình sự 1999, sửa đổi, bổ sung 2009 đối với các tội phạm về môi trường.……….…54
3.3.1. Trong lĩnh vực hình sự………………...………………………..………..…54
3.3.2. Trong lĩnh vực kinh tế………………………………...………..………..…60
3.3.3. Trong công tác giáo dục……………………………………...……….….…60

Quốc hội đã đề ra nhiều giải pháp vừa mang tính chiến lược vừa mang tính cấp bách để
BVMT. Trong số các biện pháp pháp lý được sử dụng để BVMT thì biện pháp hình sự được
xem là khả thi nhất. Bộ luật Hình sự (BLHS) 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, dành riêng
Chương XVII quy định các TPVMT. Tuy nhiên, các quy định này chưa phát huy hết hiệu
quả như mong đợi, vẫn mang tính lý thuyết chưa áp dụng được trên thực tế, một số vấn đề
lớn chưa được giải thích cụ thể dẫn đến cách hiểu không thông nhất của các cơ quan bảo vệ
pháp luật, cũng như một số quy định không có tính khả thi khó áp dụng. Vì vậy, việc nghiên
cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động điều tra, xử lý các vụ phạm tội về môi trường, từ
đó đề xuất các giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các
TPVMT là vấn đề cấp thiết trong tình hình hiện nay. Do đó, người viết quyết định chọn đề
tài “ Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực
tiễn” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận, các đặc trưng pháp lý cơ
bản của các TPVMT. Đồng thời, đánh giá về tình hình các TPVMT trong thời gian qua để từ
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

11

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn
đó rút ra những phương pháp đúng đắn và đề xuất các giải pháp thiết yếu cho công tác đấu
tranh phòng, chống các TPVMT trong thời gian tới được thực thi nhanh chóng, rõ ràng và
hiệu quả. Qua đó kêu gọi sự chung tay xây dựng một môi trường trong lành góp phần thúc
đẩy phát triển kinh tế.
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật hình sự đối với nhóm
tội về môi trường được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành; tình hình về các tội phạm


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỘI PHẠM MÔI TRƯỜNG THEO
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Nhu cầu được sống trong một môi trường sinh thái an toàn trong lành và sạch đẹp là
một trong những nhu cầu chính đáng và thiết yếu của nhân loại. Trải qua quá trình phát triển
của xã hội thì nhu cầu này của con người ngày càng cao hơn và trở nên cấp thiết hơn bao giờ
hết. Sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật hiện đại, khai thác tài nguyên, sản
xuất hàng hóa v.v…cùng với những mặt trái của nó đã gây ra những hậu quả làm ảnh hưởng
rất nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, xã hội và con người, đặc biệt phải kể đến những
hậu quả như: nạn sa mạc hóa; ô nhiễm đất, nước và không khí v.v…Mặt khác, công tác đấu
tranh với những hành vi tàn phá môi trường của nước ta chưa thu được hiệu quả cao, cùng
với tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đặt ra nhiệm vụ phải hoàn thiện cơ chế BVMT
hiệu quả hơn.
Việc xác định đúng khái niệm tội phạm môi trường là cơ sở quan trọng cho việc quy
định các tội phạm cụ thể và cho việc giải quyết đúng đắn vấn đề TNHS đối với các TPVMT.
Trong khi khái niệm tội phạm môi trường đã được quy định trong BLHS của một số quốc
gia như Anh, Pháp, Mỹ… thì BLHS của nước ta chưa đưa ra khái niệm chung về tội phạm
môi trường. Trong chương này người viết sẽ tập trung làm rõ khái niệm môi trường, khái
niệm về tội phạm môi trường, quá trình hình thành các quy định về tội phạm môi trường
trong luật hình sự Việt Nam. Đồng thời nghiên cứu các quy định về tội phạm môi trường
trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới. Từ đó đưa ra cách hiểu thống nhất về
tội phạm môi trường và làm cơ sở cho việc định tội danh cũng như xác định hình phạt cho
các tội phạm môi trường đó.
1.1.Khái niệm về môi trường
Môi trường là một khái niệm có nội hàm rất rộng và được sử dụng trong nhiều lĩnh
vực khác nhau. Theo nghĩa thông thường môi trường là: toàn bộ nói chung những điều kiện
tự nhiên và xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển trong mối quan hệ
hay sinh vật ấy.1; là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh
hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí,

ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước... Môi trường tự
nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho
con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng,
đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người
thêm phong phú.
Môi trường xã hội: là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật
lệ, thể chế, cam kết, quy định, ước định... ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp
hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức
tôn giáo, tổ chức đoàn thể v.v.. Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo
một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc
sống của con người khác với các sinh vật khác.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.4
1.2. Khái quát về tội phạm môi trường
1.2.1. Khái niệm tội phạm về môi trường
Việc xác định khái niệm tội phạm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc định
tội danh cũng như xác định hình phạt. Trong khi khái niệm tội phạm môi trường đã được
quy định trong BLHS của một số quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ… thì ở nước ta đến nay khái
3

Xem Tuyên ngôn của UNESCO 1981
Tổng cục môi trường, Môi trường là gì?, http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/hoidapmt/Pages/M%C3%B4itr%C6%
B0%E1%BB%9Dngl%C3%A0g%C3%AC.aspx, [ngày truy cập ngày 01/10/2014].
4

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

14

SVTH: Trần Hoài Ân


Thứ nhất, hiện nay chưa có văn bản nào hướng dẫn việc áp dụng các điều luật về tội
phạm môi trường trong BLHS hiện hành.
Cấu thành cơ bản của các tội quy định trong Chương XVII ( các TPVMT) của BLHS
hiện hành cũng có những nét đặc thù, nhiều tình tiết định lượng, định tính chưa được cụ thể
hoá đòi hỏi phải được nghiên cứu, hướng dẫn để áp dụng thống nhất trong thực tiễn đấu
tranh phòng, chống loại tội phạm này.
Thứ hai, công tác phối hợp giữa các lực lượng liên quan đến điều tra các vụ án về
môi trường chưa được chặt chẽ và hiệu quả. Đặc biệt là sự phối hợp giữa cơ quan điều tra
của lực lượng cảnh sát nhân dân và thanh tra chuyên ngành về điều tra tội phạm môi trường.
Thứ ba, công tác tổ chức phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm môi trường
chưa được tiến hành một cách đồng bộ, chưa xây dựng được kế hoạch hợp lý, cụ thể nhằm
phối hợp các hoạt động của các bộ, ngành có liên quan để thực hiện chiến lược về BVMT
của Đảng và Nhà nước.
Thứ tư, việc nhận diện được một hành vi vi phạm pháp luật môi trường là rất khó,
đòi hỏi phải có sự trợ giúp của các phương tiện khoa học kỹ thuật, phải có sự đánh giá của
các cơ quan chuyên ngành, phải định tính, định lượng cụ thể mới có thể xác định đó là một
hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Trong khi đó việc trang bị các phương tiện khoa
học kỹ thuật cho cán bộ thực thi pháp luật trong lĩnh vực môi trường của nước ta còn hạn
chế, gây khó khăn cho việc định lượng hậu quả mà các hành vi vi phạm gây ra.
Thứ năm, về quan niệm và nhận thức, trong một thời gian dài, vấn đề BVMT còn bị
xem nhẹ, chưa coi vấn đề môi trường là cấp thiết cần ưu tiên giải quyết, ý thức pháp luật, ý
thức BVMT của một bộ phận nhân dân còn nhiều hạn chế, đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ,
hộ kinh doanh và bộ phận dân cư miền núi, vùng sâu vùng xa... nhiều người còn chưa hiểu
được thế nào là môi trường trong lành, như thế nào là gây ô nhiễm môi trường, TPVMT...
Thứ sáu, công tác giáo dục ý thức BVMT đối với các tầng lớp dân cư trong xã hội
còn nhiều hạn chế. Việc phổ biến, giáo dục pháp luật về môi trường nói chung còn mang
tính hình thức, khuếch trương phong trào mà chưa tiến hành một cách thường xuyên, sâu
rộng trong quần chúng nhân dân.

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

Đến năm 1980, lần đầu tiên vấn đề BVMT mới được chính thức ghi nhận tại điều 36
của Hiến pháp 1980: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân
dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống”. Tuy nhiên, từ năm 1980 đến
1992, việc ban hành các văn bản pháp luật để cơ sở cho công tác BVMT vẫn chưa được
quan tâm đúng mức. Công tác quản lý, sử dụng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường
trên thực tế gần như bị thả nổi. Đây là nguyên nhân chính làm mất đi một nửa diện tích rừng,
làm 40% diện tích lãnh thổ trở thành đất trống, đồi núi trọc, thế giới đông thực vật và nguồn
lợi thủy sản bị suy giảm nghiêm trọng.v.v..

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

18

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn
Trước thực trạng trên, Đại hội Đảng VII ( 1991) đã chỉ rõ ảnh hưởng và tác dụng to
lớn của môi trường đối với con người và sự phát triển lâu dài của đất nước. Trên cơ sở đó,
Điều 29 Hiến pháp 1992 xác định rõ: “Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài
nguyên thiên nhiên và BVMT. Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ
hoại môi trường”. Với quy định này, Hiến pháp 1992 đã khẳng định tính nghiêm khắc của
quy định pháp luật với công tác BVMT, làm cơ sở cho việc quy định các TPVMT trong
BLHS sau này. Đồng thời, vấn đề BVMT không chỉ là chính sách của Đảng và Nhà nước,
mà nó còn được pháp luật hóa và trở thành một ngành luật độc lập, mang tính nguyên tắc
cao trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Sau Hiến pháp, ngày 27/12/1993 Luật BVMT đã được Quốc hội thông qua. Văn bản
này đã thể hiện rõ quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối

của chủ sở hữu trong BVMT (Điều 268); Nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng (Điều 272);
Quy định việc bồi thường thiệt hại do hành vi gây ô nhiễm môi trường gây ra (Điều 286).
Trong lĩnh vực hình sự, các tội phạm liên quan đến môi trường được quy định tại một số
điều của BLHS 1985 và toàn bộ Chương XVII của BLHS 1999.
1.3.2. Quá trình hình thành các quy định về tội phạm môi trường trong luật hình
sự Việt Nam
1.3.2.1. Giai đoạn trước khi có Bộ Luật Hình sự 1985
Từ khi giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng ta tập chung vào việc hàn
gắn vết thương chiến tranh, phát triển kinh tế xã hội để thoát khỏi sự khủng hoảng kinh tế.
Mặt khác, giai đoạn này công nghiệp chưa phát triển mạnh, các máy móc thiết bị chưa được
sử dụng nhiều nên khí thải còn hạn chế, rừng chưa bị tàn phá nghiêm trọng… Do đó, vấn đề
BVMT trong giai đoạn này ít được quan tâm.
Trước những năm 60, hầu như chúng ta mới chỉ có một số rất ít các văn bản pháp luật
quy định về bảo vệ các yếu tố môi trường thiên nhiên như: Sắc lệnh 142/SL ngày 21 -121949 quy định về việc lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng. Kể từ những
năm 60, xuất hiện một số văn bản có giá trị pháp lý cao như: Pháp lệnh quy định về quản lý
nhà nước đối với công tác phòng cháy và chữa cháy ngày 27-09-1961; Pháp lệnh về bảo vệ
rừng ngày 11-09-1972… Đặc biệt trong thời kì này là vấn đề BVMT đã được quy định trong
đạo luật cao nhất của Nhà nước ta – Hiến pháp năm 1980. Điều 36 Hiến pháp năm 1980 quy
định: “Các cơ quan Nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân
đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống”. quy định này đã đặt cơ sở pháp lý quan trọng
và cơ bản nhất cho sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc BVMT thiên nhiên và những
yếu tố bao quanh nó.
Ngày 06-09-1972, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh quy định việc
bảo vệ rừng. Theo pháp lệnh này thì tất cả các hành vi gây thiệt hại đến rừng đều bị nghiêm
cấm và chịu những hình phạt nghiêm khắc. Cụ thể, tại Chương II – Những biện pháp bảo vệ
rừng – Pháp lệnh quy định: Cấm phá rừng (Điều 3); Cấm mọi hành động chặt cây rừng trái
với các điều quy định của Nhà nước (Điều 4); Chính phủ quy định những khu rừng cấm
nhằm bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ di tích lịch sử, bảo vệ sức khoẻ, nghiên cứu khoa học hoặc
phục vụ các lợi ích đặc biệt khác. Ở những khu rừng này, cấm chặt cây, trừ trường hợp để

1985 có thể thấy mặc dù chưa đầy đủ, nhưng ở mức độ nhất định đã có những quy định khá
cụ thể và chặt chẽ trong việc BVMT trong một số lĩnh vực nhất định. Tuy nhiên, do những
hạn chế Khách quan của điều kiện kinh tế xã hội mà trong lĩnh vực lập pháp, các quy định
về BVMT nói chung và pháp luật hình sự trong việc BVMT nói riêng chưa được nhận thức
đầy đủ và khái quát thành một khách thể nhóm với tư cách là đối tượng được bảo vệ của
pháp luật hình sự.
1.3.2.2. Các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự 1985
Cùng với sự phục hồi và ngày càng phát triển của nền kinh tế xã hội, sức ép của vấn
đề ô nhiễm môi trường ngày càng tăng lên: quá trình đô thị hóa; thuốc bảo vệ thực vật được
sử dụng rộng rãi; nạn phá rừng tràn lan làm mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng; công
nghiệp phát triển ngày càng có nhiều chất thải độc hại thải ra môi trường; tầng ozon bị thủng

GVHD: Nguyễn Văn Tròn

21

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn
đã làm cho nhiệt độ trái đất nóng lên…. Vấn đề BVMT trở thành thách thức lớn của xã hội.
Nhận thức được việc BVMT là một nhiệm vụ chiến lược để đảm bảo cho sự ổn
định, phát triển bền vững của đất nước, trên cơ sở hiến định, Nhà nước ta đã quy định vấn đề
BVMT trong BLHS năm 1985. BLHS năm 1985 đã coi một số hành vi xâm hại đến các yếu
tố của môi trường gây hậu quả nghiêm trọng là tội phạm và các cá nhân vi phạm sẽ bị truy
cứu TNHS. Một số tội phạm cụ thể về môi trường được ghi nhận trong Bộ luật, tại Chương
VII "Các tội phạm về kinh tế" và Chương VIII "Các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng
và trật tự quản lí hành chính", đó là: Điều 180. Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo
vệ đất đai; Điều 181. Tội vi phạm và quản lý các quy định về quản lý và bảo vệ rừng; Điều
195. Tội vi phạm các quy định về BVMT gây hậu quả nghiêm trọng; Điều 216. Tội vi phạm

Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn
Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm (Điều 190); Tội vi phạm
chế độ bảo vệ đặc biệt đối với khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 191).
Chương XVII – Các TPVMT – của BLHS 1999 đã thay thế cơ bản các quy định về
các TPVMT trong BLHS 1985; đồng thời, bổ sung thêm một số tội danh mới xuất hiện trong
thời gian gần đây. Đây là thể hiện sự quan tâm đúng mức của Đảng và Nhà nước ta trước
thực trạng môi trường tiếp tục bị suy thoái, ô nhiễm với mức độ cao; thể hiện thái độ kiên
quyết, xử lý kịp thời, nghiêm khắc đối với các hành vi làm suy thoái, ô nhiễm môi trường,
xâm hại đến các yếu tố của môi trường thiên nhiên.
1.3.2.4. Các quy định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự đã được sửa
đổi, bổ sung năm 2009
Sau hơn 9 năm áp dụng BLHS năm 1999 vào thực tiễn đấu tranh, phòng chống tội
phạm môi trường, cho thấy những quy định về tội phạm môi trường đã bộc lộ nhiều bất cập
như: điều kiện để xử lý hình sự một số hành vi xâm phạm môi trường còn quá phức tạp,
trong khi đó những quy định giữa pháp luật hành chính và pháp luật hình sự còn chưa thống
nhất; chưa có quy định chi tiết, rõ ràng thế nào là “hậu quả nghiêm trọng”, “hậu quả đặc
biệt nghiêm trọng”v.v…Do vậy, khả năng áp dụng BLHS năm 1999 và hiệu quả trong công
tác đấu tranh, phòng chống tội phạm môi trường chưa cao.
Trước tình hình đó, ngày 19/06/2009 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 số 37/2009/QH12 theo hướng quy định đơn giản
hơn về dấu hiệu của các TPVMT. Sau khi sửa đổi, bổ sung các TPVMT gồm mười một tội
được quy định tại Chương XVII BLHS. Các tội đó là: Điều 182. Tội gây ô nhiễm môi
trường; Điều 182a. Tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại; Điều 182b. Tội
vi phạm các quy định về phòng ngừa sự cố môi trường; Điều 185. Tội đưa chất thải vào lãnh
thổ Việt Nam; Điều 186. Tội lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho con người; Điều 187. Tội làm
lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật; Điều 188. Tội hủy hoại nguồn lợi thủy
sản; Điều 189. Tội hủy hoại rừng; Điều 190. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật
thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; Điều 191. Tội vi phạm các
quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên; Điều 191a. Tội nhập khẩu, phát tán các loài
ngoại lai xâm hại. Sự thay đổi trong nhận thức của các nhà làm luật qua việc sửa đổi, bổ

xạ, các chất thải chứa các vi trùng gây bệnh và các vật liệu độc hại hoặc các chất nguy hiểm
khác vào đất, nước, khí quyển…”.
Các tội quy định tại Tiết 6 bao gồm các tội có cấu thành hình thức (các Điều 339,
340, 341) và các tội có cấu thành vật chất ( các Điều 338, 342, 343). Tuy nhiên, trong cả hai
loại vừa nêu , đều có chung một điểm là hình phạt nặng hay nhẹ đều được quy định căn cứ
vào tính chất của hành vi loại dụng cụ, hậu quả gây ra. Hầu hết các điều luật trong Tiết 6 đều
coi yếu tố hậu quả là tình tiết định khung tăng nặng. Ví dụ: Điều 345 quy định ba khung
hình phạt khác nhau cho hành vi chặt cây rừng trái phép, cụ thể là:
Khung 1: Số lượng lớn có thể bị phạt đến ba năm tù giam
Khung 2: Số lượng rất lớn có thể bị phạt đến bảy năm tù giam
Khung 3: Số lượng đặc biệt lớn có thể bị phạt đến bảy năm trở lên
Như vậy, các TPVMT đã được quy định thành một Tiết riêng trong BLHS Trung Quốc.
Với cách thức quy định các tội danh hết sức đa dạng và linh hoạt, BLHS sự đã liệt kê được
các hành vi xâm hại môi trường phổ biến nhất hiện nay.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn

24

SVTH: Trần Hoài Ân


Các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam hiện hành - Lý luận và thực tiễn
1.4.2. Singapore
Ở Singapore TNHS đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường không được
quy định trong các văn bản pháp luật hình sự mà được quy định ngay tại các luật về môi
trường như Luật không khí sạch; Luật về môi trường sức khỏe cộng đồng; Luật về xuất nhập
khẩu, quá cảnh chất thải nguy hiểm…Các chế tài được áp dụng đối với các hành vi vi phạm
pháp luật môi trường gồm: phạt tù, phạt tiền, bắt bồi thường và lao động bắt buộc. Trong đó
chế tài phạt tiền được xem là phổ biến nhất với nhiều mức độ phạt tiền khác nhau. Ví dụ,
theo Luật về môi trường sức khỏe cộng đồng (mục 108) của Singapore quy định “người nào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status