đại học quốc gia hà nội
khoa luật
BùI LAN ANH
HìNH Sự HóATRáCH NHIệM CủA PHáP NHÂN Đối
với các tội phạm về chức vụ trong luật hình
sự việt nam
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2015
đại học quốc gia hà nội
khoa luật
bùi lan anh
Hình sự hóa trách nhiệm của pháp nhân đối
với các tội phạm về chức vụ trong luật hình
sự việt nam
Chuyên ngành
: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
luận văn thạc sĩ luật học
được ghi nhận trong pháp luật hình sự quốc gia cũng như các văn bản pháp
luật quốc tế. Xét ở góc độ pháp luật quốc gia, vấn đề TNHS của pháp nhân đã
được quy định trong pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới, như Anh,
Mỹ, Canada, Australia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Phần Lan, Vương quốc Bỉ,
Thụy Sĩ, Tây Ban Nha và gần đây, một loạt các nước xã hội chủ nghĩa ở
Đông Âu như Slovakia, Hungari, Lavia, Estonia, Croatia, v.v.... Trong khu
vực Châu Á, một số quốc gia cũng đã ghi nhận TNHS của pháp nhân như
Nhật Bản, Singapore, Malaysia, Trung Quốc… Dưới góc độ pháp luật quốc tế,
TNHS pháp nhân đã được khẳng định và nhấn mạnh trong nhiều Công ước của
Liên Hợp quốcnhư Công ước về trừng trị việc tài trợ cho khủng bố, Công ước
quốc về chống tham nhũng, Công ước về chống tội phạm có tổ chức
xuyên quốc gia…
Ở Việt Nam, vấn đề TNHS của pháp nhân đã được đưa ra thảo luận và
nghiên cứu chính thức trong quá trình xây dựng BLHS năm 1999. Tuy nhiên,
tại thời điểm này, vấn đề TNHS của pháp nhân chưa được nghiên cứu sâu về
mặt lý luận và thực tiễn, do vậy, vấn đề này vẫn tiếp tục được nghiên cứu.
Năm 2009, khi sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, vấn đề TNHS của
pháp nhân một lần nữa được đưa ra nghiên cứu, thảo luận để quy định bổ
sung vào BLHS. Nhưng do đây là lần sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLHS, chỉ tập trung sửa đổi, bổ sung một số vấn đề thật sự cấp bách nhất, bức
xúc nhất của thực tiễn tại thời điểm đó để tháo gỡ một số khó khăn, vướng
mắc lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạmnên vấn đề TNHS
của pháp nhân được thống nhất để lại tiếp tục nghiên cứu kỹ lưỡng cả
về mặt lý luận và thực tiễn cho lần sửa đổi, bổ sung cơ bản, toàn diện BLHS.
Đến thời điểm hiện nay, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, đã đến lúc cần bổ
sung chế định TNHS của pháp nhân để xử lý đối với các trường hợp tổ chức
kinh tế (pháp nhân) vì chạy theo lợi ích cục bộ, đã thực hiện nhiều hành vi trái
pháp luật mang tính chất tội phạm, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, gây hậu
nhân.
Năm 2011, Tiến sỹ Cao Thị Oanh đã chủ nhiệm công trình nghiên cứu
khoa học cấp bộ với đề tài "Nghiên cứu so sánh cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc áp dụng TNHS đối với tổ chức" (Viện khoa học pháp lý); trong công
trình nghiên cứu này có một số bài viết của các tác giả như: "Quy định về
TNHS của tổ chức ở Trung Quốc" của tác giả Đỗ Đức Hồng Hà; "TNHS của
pháp nhân tại Mỹ" của tác giả Nguyễn Khắc Hải; "Cơ sở thực tiễn của việc
thiết lập chế định TNHS đơn vị pháp nhân ở Việt Nam hiện nay" của tác giả
Nguyễn Anh Tuấn; "TNHS của pháp nhân trong luật hình sự một số nước
theo truyền thống Common Law"; "TNHS của pháp nhân theo luật hình sự
một số nước theo truyền thống châu Âu lục địa" của tác giả Trịnh Quốc
Toản…
Một số bài viết về vấn đề TNHS của pháp nhân được đăng trên các báo,
tạp chí như bài viết: "TNHS của pháp nhân theo pháp luật hình sự một số
nước trên thế giới và lựa chọn cho Việt Nam" của tác giả Nguyễn Tất Thành
trên tạp chí Tòa án nhân dân số 9/2013; "TNHS của pháp nhân theo luật hình
sự một số nước trên thế giới và sự cần thiết phải quy định TNHS pháp nhân
trong luật hình sự Việt Nam" của tác giả Nguyễn Đức Lực trên tạp chí Khoa
học pháp lý; "TNHS của pháp nhân và mô hình lý luận của nó trong luật hình
sự Việt Nam tương lai" của tác giả Trịnh Quốc Toản trên tạp chí Nhà nước và
Pháp luật số 5/2006; "Vấn đề TNHS của pháp nhân"của tác giả Nguyễn Quý
Công trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2010, "Đề xuất, kiến nghị, sửa
đổi, bổ sung một số quy định tại phần chung của BLHS" của tác giả Dương
Văn Thắng trên tạp chí Kiểm sát số 16/2014…
Ngoài ra còn có một số cuốn sách tham khảo cũng nghiên cứu vấn đề
này như cuốn:"TNHS của pháp nhân trong Pháp luật hình sự" của tác giả
Trịnh Quốc Toản - nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật; "chuyên đề về
Luật hình sự (kỷ yếu hội thảo khoa học do nhà pháp luật Việt - Pháp phối hợp
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách tố tụng hình sự và hình sự, về vấn đề nâng
cao chất lượng THQCT trong cải cách tư pháp mà Nghị quyết Đại hội Đảng
VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ
Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật tố tụng hình sự, khoa học
điều tra hình sự và các phương pháp, kỹ năng khác, như: phương pháp phân
tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch;
phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp
các tri thức khoa học luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng
được nghiên cứu trong luận văn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm ba chương:
- Chương 1:Những vấn đề về TNHS của pháp nhân và cáctội phạm về
chức vụtrong Luật hình sự Việt Nam.
- Chương 2:Những đòi hỏi của việc quy địnhTNHS của pháp nhân
đối với các tội phạm chức vụ trong Luật hình sự Việt Nam.
- Chương 3: Kiến nghị hình sự hóa trách nhiệm của pháp nhân đối với
các tội phạm về chức vụ trong Luật hình sự Việt Nam.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰCỦA PHÁP
NHÂN VÀ CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ TRONG LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1.
NHỮNG VẤN ĐỀVỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA PHÁP NHÂN
những quan điểm chung về một số vấn đề như trường hợp đồng phạm hay
đồng phạm có tổ chức[8, tr. 26]. Còn pháp nhân là do con người lập ra và hoạt
động của nó chỉ có thể được thực hiện thông qua những con người cụ thể nên nó
không thể và không bao giờ có lỗi. Pháp nhân chỉ là một thực thể giả tưởng của
pháp luật, nó chỉ là cấu trúc pháp lý được thiết lập nhằm phục vụ các lợi ích cá
nhân của những thành viên pháp nhân. Các nghị quyết, các quyết định của
pháp nhân chỉ là kết quả của con số cộng các ý chí cá nhân của các thành viên
pháp nhân chứ không phải tự sự mong muốn của chính pháp nhân đó [30, tr.
52].Do vậy không có lỗi nào có thể quy kết cho pháp nhân và theo logic của
sự vật và phép biện chứng của triết học - không có lỗi hình sự thì không có
TNHS. Trái lại những quan điểm của những nhà hình sự học theo học thuyết
truyền thống phản đối việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân, nhưng
người ủng hộ thiết lập chế định TNHS của pháp nhân đã đưa ra lập luận phản
bác lại những quan điểm trên. Họ cho rằng pháp nhân không phải là một trìu
tượng pháp lý thuần túy mà nó có những đặc tính không đổi được thừa nhận
chung, nó có sự tồn tại thực tế trong mối quan hệ với các thành viên của pháp
nhân và tổ chức trên thực tế. Ý chí của pháp nhân hoàn toàn độc lập với ý chí
của các thành viên trong pháp nhân. Trong điều lệ cũng như trong các văn bản
của pháp nhân luôn có các quy định về tổ chức, về hoạt động của pháp nhân và
pháp nhân có thể tự do tìm kiếm lợi ích riêng của bản thân độc lập với lợi ích cá
nhân tạo lên nó [30, tr. 54]. Pháp nhân bao gồm các cá nhân
được hình thành bởi những lợi ích tập trung và được tổ chức thông qua các
cấu trúc pháp lý xác định. Trong mỗi pháp nhân, những định hướng chủ đạo
thể hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đưa ra không chỉ hoàn
toàn giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên pháp nhân mà
pháp nhân hoàn toàn có ý chí riêng của mình, có mong muốn riêng của mình,
được xử sự tự do và hưởng các quyền tự chủ của chủ thể và vì vậy, nó cũng có
điều kiện để có lỗi khi thực hiện tội phạm. Pháp nhân có thể được so sánh với
rõ ràng trong cả hai trường hợp đều không có nhu cầu trừng trị vào pháp nhân.
Theo Thomas Hobbes, cái giá thực sự khi áp dụng TNHS, xét đến cùng, chính
các pháp nhân không phải chịu mà là những cá nhân cụ thể trong pháp nhân
như người góp cổ phần, cổ đông, người lao động… phải chịu. Như vậy chế định
TNHS của pháp nhân không thể chấp nhận được về phương diện pháp lý cũng
như đạo đức [30, tr. 53] Về quan điểm cho rằng việc quy kết TNHS và áp
dụng hình phạt với pháp nhân sẽ không công bằng và gây hại cho nguyên tắc cá
thể hóa hình phạt thì theo quan điểm của hình sự học hiện đại, những người ủng
hộ việc thiết lập chế định TNHS của pháp nhân lý giả rằng: Chế tài hình sự
buộc phải áp dụng trực tiếp và chỉ đối với chính bản thân chủ thể phạm tội, tức
là đòi hỏi việc trừng trị nhằm trực tiếp vào những pháp nhân khi các thực thể
này phạm tội. Công bằng không có nghĩa là phải trừng trị các cá nhân này hay
cá nhân khác mà công bằng chính là buộc chủ thể thực hiện tội phạm phải chịu
hình phạt. Không có lý lẽ công bằng nào lại buộc cá nhân những người cấp
dưới vốn chẳng có quyền hành gì và các nhà quản lý có trách nhiệm thành
những người phải hứng chịu hậu quả thay cho pháp nhân phạm tội [18, tr. 18].
Cũng không có sự công bằng nào về cùng một hành vi phạm tội lại có những
cách đối xử khác nhau. Đối với pháp nhân phạm tội cùng loại thì xử lý bằng
các biện pháp trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm
hành chính. Còn đối với cá nhân những người lãnh đạo, người đại diện của
pháp nhân phạm tội vì lợi ích hoặc trong khuôn khổ hoạt động của pháp nhân
lại bị trừng trị bằng biện pháp TNHS nghiêm khắc hơn nhiều. Như vậy bằng
việc áp dụng hình phạt đối với pháp nhân là thể hiện nguyên tắc công bằng và
bình đẳng. Pháp nhân phạm tội thì pháp nhân phải là chủ thể đứng ra chịu
TNHS. Nếu pháp nhân phạm tội mà bắt thành viên của pháp nhân phạm tội
chịu TNHS còn pháp nhân chỉ bị xử lý chế tài phi hình sự là sự không công
bằng. Bản án kết tội đối với một pháp nhân khác với bản án có thể xảy ra của các
thành viên pháp nhân, nó không nhằm vào cá nhân các thành viên của pháp
phạt như tử hình hay các hình phạt tước hoặc hạn chế quyền tự do thân thể
không thể áp dụng được với pháp nhân song với sự đa dạng trong hệ thống hình
phạt rất nhiều hình phạt có thể áp dụng đối với pháp nhân mà tác động đến
những quyền và tài sản mà pháp nhân có. Những hình phạt này đang dần dần
phát triển phù hợp với bản chất pháp nhân phạm tội và mục đích của hình phạt
đã đạt được. Mặc dù đúng là những hình phạt này đã có trong các chế tài pháp
lý phi hình sự song do tính chất phi hình sự mà những chế tài này không đạt
được hiệu quả cao khi áp dụng. Trên thực tế đã chứng minh điều đó khi các vụ
việc do pháp nhân thực hiện gây thiệt hại cho xã hội tăng nhanh cả về số lượng
lẫn mức độ nghiêm trọng.
Tóm lại trong khoa học pháp lý hiện nay vấn đề có nên quy định TNHS
của pháp nhân hay không còn là vấn đề đang được tranh cãi giữa các nhà
nghiên cứu pháp lý. Đặc biệt là trong thời gian vừa qua khi mà Ban soạn thảo
Dựa án BLHS sửa đổi đã tiến hành phiên họp và nhận được nhiều ý kiến trái
chiều. Tuy nhiên đa số các ý kiến đều tán thành việc quy định TNHS của pháp
nhân đối với một nhóm tội, trong đó có các tội phạm về chức vụ. Tác giả cũng
ủng hộ quan điểm thiết lập chế độ TNHS của pháp nhân đối với một nhóm tội
phạm trong đó có các tội phạm về chức vụ bởi vì việc thiết lập TNHS của
pháp nhân không vướng bất kỳ nguyên tác nào của luật hình sự, đồng thời còn
góp phần không nhỏ vào việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là các
tội phạm về chức vụ trong giai đoạn hiện nay.
1.1.2. Cơ sởcủa việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân
*Cơ sở lý luận của việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp
nhân
Như chúng ta đã biết, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi,
trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt. Dựa vào khái niêm tội phạm này
chúng ta có thể đưa ra những cơ sở lý giải đối với chủ thể của tội phạm là
pháp nhân giống như những người ủng hộ quan điểm thiết lập chế định TNHS
tạo nên pháp nhân đó. Trong các pháp nhân, những định hướng chủ đạo thể
hiện những mục tiêu của chính mỗi tập thể được đưa ra không chỉ hoàn toàn
giới hạn bởi tổng số các ý chí riêng của các thành viên tập đoàn. Pháp nhân
hoàn toàn có ý chí của riêng mình bởi vì nó sinh ra, tồn tại và phát triển bằng sự
gặp gỡ giữa các ý chí cá nhân của thành viên của mình. Vì vậy pháp nhân là
một thực thể có ý chí, có mong muốn riêng, được xử sự tự do và hưởng quyền
tự chủ của chủ thể và có thể so sánh với quyền tự chủ của cá nhân. Vì vậy nó có
năng lực thực hiện tội phạm một cách có lỗi và đương nhiên có thể bị xử lý về
hình sự. Như đã phân tích ở trên, lỗi trong luật hình sự là thể hiện tự do ý chí
của chủ thể (Tự do lựa chọn hành vi trái pháp luật, gây thiêt hại cho quan hệ xã
hội trong khi có tự do và khả năng lựa chọn hành vi hợp pháp) thì pháp nhân
cũng hoàn toàn tự do khi lựa chọn hành vi của mình. Vì vậy việc quy kết
TNHS cho pháp nhân là hoàn toàn hợp lý trên cơ sở lỗi chứ không phải quy
tội khách quan. Như vậy hành vi của pháp nhân hoàn toàn có
thể đáp ứng các đặc điểm của tội phạm theo quy định của BLHS Việt Nam
hiện hành.
Cuối cùng, việc áp dụng hình phạt cho pháp nhân hoàn toàn có khả
năng thực thi. Hình phạt là biện pháp tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của
người phạm tội và pháp nhân cũng có quyền và lợi ích nhất định, nên về lý
thuyết, việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của pháp nhân phạm tội là
điều có thể. Và khi chúng ta tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của pháp
nhân tức là chúng ta đã đạt được mục đích trừng trị, răn đe cũng như phòng
ngừa của hình phạt. Do đó có thể khẳng định hoàn toàn có thể quy kết TNHS
đối với pháp nhân.
Như vậy có thể khẳng định về mặt lý luận, khoa học pháp lý hình sự
hiện đại đã giải quyết cơ bản TNHS của pháp nhân. Việc thiết lập chế định
TNHS của pháp nhân không vi phạm bất kỳ dấu hiệu nào của tội phạm cũng
như nguyên tắc của Luật hình sự. Ngày nay, việc thừa nhận TNHS của pháp
ban hành BLHS, vấn đề TNHS của pháp nhân đã được thiết lập.Trong thời kỳ
phong kiến, vấn đề TNHS của pháp nhân cũng được đề cập trong Quốc triều
hình luật, Điều 62 chương Tạp luật có quy định: "Những trang trại ven biển
mà đón tiếp thuyền buôn, ngầm dỡ hộ hàng hóa lên bờ, thì bị xử biếm 3 tư,
phải phạt gấp ba tang vật để sung công, lấy một phần thưởng cho người tố
giác. Người chủ trang trại ấy mất chức giám trang". Trước các mạng tháng
Tám năm 1945, vấn đề TNHS của pháp nhân cũng được quy định trong pháp
luật của chế độ thực dân phong kiến thời kỳ trước cách mạng tháng Tám như
Điều 12 Dụ số 45.1088 ngày 03/5/1945 về trừng trị các vi phạm luật lệ hối
đoái, quy định: "Đối với trường hợp vi phạm luật lệ hối đoái thì không những
giám đốc, quản trị viên, quản lý của pháp nhân bị truy tố mà chính bản thân
pháp nhân cũng có thể bị truy tố và bị phạt bạc". Sau cách mạng tháng Tám
năm 1945, chính quyền chế độ cũ ở vùng tạm chiến của thực dân Pháp và ở
miền Nam Việt Nam dưới chế độ Sài Gòn sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954
cũng đã ban hành một số văn bản quy định TNHS của pháp nhân như: Điều
33 Dụ số 10 ngày 23/6/1950, Điều 26 Dụ số 33 ngày 16/11/1952… đặc biệt
trong BLHS ngày 20/12/1972 của chính quyền Sài Gòn cũ chính thức quy
định TNHS của pháp nhân là nguyên tắc chung trong luật hình sự. Điều 8 bộ
luật này quy định "Luật hình chi phối mọi cá nhân và pháp nhân cứ trú trên
lãnh thổ Việt Nam và mọi sự kiện xảy ra trên lãnh thổ này, kể cả không phận và
hải phận". Điều 69 quy định "Cá nhân và pháp nhân đều có thể bị truy cứu
TNHS" và Điều 71 quy định "Pháp nhân có thể bị xử phạt giải tán, phạt vạ và
tịch thu tài sản". Trong hai lần pháp điển hóa BLHS năm 1985 và 1999, mặc dù
trong kiến giải lập pháp của các tác giả được đưa ra tại Điều 2 BLHS 1985 quy
định "Cơ sở của TNHS" với nội dung "Cơ quan, tổ chức, đơn vị (sau đây gọi là
tổ chức) phải chịu TNHS về hành vi phạm tội do đại diện của mình thực hiện vì
lợi ích của tổ chức đó". Nhưng sau đó trong dự thảo luật lần thứ XI (10/1998)
thì kiến giải lập pháp này bị các nhà làm luật Việt Nam loại bỏ. Và BLHS hiện
Mặt khác việc truy cứu TNHS cá nhân trong trường hợp này không thể ngăn
chặn được pháp nhân tiếp tục thực hiện hành vi trái pháp luật bởi bị khi cá
nhân những người đại diện của pháp nhân này bị truy cứu TNHSthì sẽ có cá
nhân khác thay thế và tiếp tục thực hiện hành vi tương tự vì mục đích của pháp
nhân.
Từ những cơ sở trên đòi hỏi phải quy định TNHS của pháp nhân. Chỉ
có TNHS với tính nghiêm khắc của các chế tài mới đủ sức răn đe và có khả
năng phòng ngừa hành vi tiếp tục phạm tội của pháp nhân đồng thời, việc áp
dụng TNHS đối với pháp nhân mới tương xứng và phù hợp với mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi gây thiệt hại do pháp nhân thực hiện. Và một lần
nữa khẳng định rằng trong điều kiện xã hội hiện nay thật sự cần thiết phải quy
định TNHS đối với pháp nhân.
1.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM PHÁP LÝ HÌNH SỰ CƠ BẢN CỦA CÁC TỘI
PHẠM VỀ CHỨC VỤ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1.Sơ lƣợc lịch sử lập pháp hình sự nƣớc Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam về các tội phạm chức vụ
Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật hình sự về các tội phạm chức vụ.
Năm 1946, Sắc lệnh số 223/SL được ban hành ngày 17/11 quy định đưa hối
lộ cho công chức, tội công chức nhận hối lộ hoặc phù lạm, biển thủ công quỹ.
Sắc lệnh này tuy chưa mô tả hành vi phạm tội và quy định hình phạt còn cứng
nhắc nhưng đã thể hiện sự phân hóa trong xử lý đối với người tự thú, tố giác
đồng bọn. Sắc lệnh là văn bản quy phạm pháp luật hình sự đầu tiên của nhà
nước ta quy định tội phạm về chức vụ. Năm 1948, Sắc lệnh số 200/SL ngày
7/8 về trưng tập công chức có quy định tội đào nhiệm. Năm 1956, Sắc lệnh số
267/SL ngày 15/6 quy định trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài
sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện
trở thành công cụ pháp lý hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, qua
đó góp phần bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; từng
bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm dân chủ, bảo vệ và lợi ích hợp pháp của công
dân, của tổ chức; thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu hội
nhập quốc tế, phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, góp phần tích cực vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Trong những năm vừa qua,
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ chương, biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy
lùi tệ tham nhũng, nhưng do nhiều nguyên nhân khác nhau nên cuộc
đấu tranh chống tham nhũng chưa đem lại hiệu quả, tình trạng tham nhũng
vẫn rất nghiêm trọng, vẫn là một trong những nguy cơ làm suy yếu chế độ xã
hội chủ nghĩa, trực tiếp làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà
nước ta. Ngoài những hành vi tham nhũng thì đi liền với nó là những hành vi
có liên quan đến tham nhũng hoặc có liên quan đến chức vụ, quyền hạn.
1.2.2.Khái niệm các tội phạm về chức vụ trong Luật hình sự Việt
Nam hiện hành
Khái niệm tội phạm về chức vụ được các nhà làm luật quy định tại một
điều riêng biệt trong BLHS năm 1999. Điều 277 quy định: "Các tội phạm về
chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức
do những người có chức vụ thực hiện khi thực hiện công vụ". Ngoài ra điều
luật cũng giải thích thêm: "Những người có chức vụ nói trên đây là những
người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có
hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất
định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ".
Nếu căn cứ vào những quy định trên thì các tội phạm về chức vụ quy
định từ Điều 278 đến Điều 291 BLHS có một số trường hợp không thỏa mãn
khái niệm mà Điều 277 quy định như: tội đưa hối lộ quy định tại Điều 289, tội làm
môi giới hối lộ quy định tại Điều 290 BLHS, không chỉ người có chức vụ thực
hiện mà còn bao gồm cả những người không có chức vụ thực hiện, mặc dù
Trước hết về chủ thể của tộinhận hối lộ: Theo quan điểm truyền thống
của luật hình sự Việt Nam, chỉ những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể là
chủ thể của tội này. Cũng theo các hiểu được thừa nhận chung trong Luật hình
sự Việt Nam, người có chức vụ, quyền hạn là người được giao phụ trách một
công vụ nhất định trong các cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức và khi thi hành
công vụ đó người này có một quyền năng nhất định trong mối quan hệ