TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
----------
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2011 - 2015
Đề tài
CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨNG KHOÁN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT
NAM – MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
NGUYỄN VĂN TRÒN
SINH VIÊN THỰC HIỆN
TRẦN THÙY LAM
MSSV: 5115719
LỚP: Luật Thương Mại 1_K37
- Cần Thơ, 12/2014 -
LỜI CẢM ƠN
----------
Người viết xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Cần Thơ, đơn vị Khoa
Luật đã tạo điều kiện thuận lợi cho người viết hoàn thành khóa luận văn tốt
nghiệp này. Đặc biệt, người viết xin gửi lời cảm ơn chân thành đến giảng viên
hướng dẫn - thầy Nguyễn Văn Tròn đã giúp đỡ tận tình trong suốt quá trình thực
hiện đề tài.
..................................................................................................................................
Cần Thơ, Ngày….,Tháng…..Năm 2014
Chữ ký Giảng viên hướng dẫn
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
----------
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
............................................................................................................................
Cần Thơ, Ngày….,Tháng…..Năm 2014
Chữ ký Giảng viên phản biện
UBCKNN
Uỷ ban chứng khoán nhà nước
UBCK
Uỷ ban chứng khoán
GDCK
Giao dịch chứng khoán
CTCK
Công ty chứng khoán
NĐT
Nhà đầu tư
CTCK SME
Công ty chứng khoán SME
DVD
Công ty Dược Viễn Đông (mã chứng khoán DVD)
DHT
Quản lý nhà nước
VPHC
Vi phạm hành chính
SEC
ủy ban chứng khoán ở Mỹ
FSA
Cơ quan quản lý các dịch vụ tài chính của ở Anh
MỤC LỤC
--------Trang
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................. 1
1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ............................................................................ 1
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................................................................. 2
4. Phương pháp nghiên cứu ..................................................................................... 2
5. Kết cấu của luận văn. ........................................................................................... 2
CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM XÂM PHẠM LĨNH VỰC
CHỨNG KHOÁN VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN ....................................... 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán .............. 3
1.1.1 Khái niệm về Chứng khoán ......................................................................... 3
1.1.1.1 Đặc điểm của chứng khoán ................................................................... 3
1.1.1.2 Phân loại chứng khoán .......................................................................... 4
2.1.2 Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 181b) ........ 30
2.1.2.1 Chủ thể của tội phạm ........................................................................... 31
2.1.2.2 Mặt khách thể của tội phạm ................................................................ 31
2.1.2.3 Mặt chủ quan của tội phạm ................................................................. 31
2.1.2.4 Mặt khách quan của tội phạm ............................................................. 32
2.1.2.5 Hình phạt của tội .................................................................................. 32
2.1.3 Tội thao túng giá chứng khoán (Điều 181c) ............................................... 33
2.1.3.1 Chủ thể của tội phạm ........................................................................... 34
2.1.3.2 Mặt khách thể của tội phạm ................................................................ 34
2.1.3.3 Mặt chủ quan của tội phạm ................................................................. 34
2.1.3.4 Mặt khách quan của tội phạm ............................................................. 34
2.1.3.5 Hình phạt của tội .................................................................................. 35
2.3 Phân biệt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán với tội phạm trong
lĩnh vực chứng khoán ................................................................................................ 36
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN ........................................................................................................................ 41
3.1 Thực trạng, tình hình tội phạm chứng khoán ở nước ta hiện nay .................... 41
3.2 Những bất cập về tình hình tội phạm trong luật chứng khoán tại Việt Nam.... 48
3.2.1 Bất cập trong các quy định pháp luật Quản Lí Nhà Nước về chứng
khoán và Thị Trường Chứng Khoán ........................................................................ 48
3.2.2 Bất cập về mặt lập pháp đối với các quy định về tội phạm chứng khoán. 50
3.2.3 Các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền chưa có đầy đủ kiến thức và kinh
nghiệm trong công tác xử lý, ý thức của các chủ thể trên thị trường về tội phạm
chứng khoán còn hạn chế .......................................................................................... 51
3.3 Giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tội phạm trong luật chứng khoán Việt
Nam ............................................................................................................................ 53
3.3.1 Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật QLNN về chứng khoán và thị
trường chứng khoán Việt Nam hiện nay .................................................................. 53
mục đích ấy, người viết chọn đề tài “Các Tội Phạm Về Chứng Khoán Trong Luật
Hình Sự Việt Nam – Một Số Kiến Nghị Nhằm Hoàn Thiện ” với mục đích làm rõ
cấu thành các loại tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán, từ đó nêu lên những bất cập
và đề xuất các biện pháp nhằm xử lý nghiêm minh các hành vi phạm tội của loại tội
phạm kinh tế mới và nguy hiểm này.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là phân tích được những cấu thành hành vi
của các loại tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán đã được quy định trong pháp luật
hình sự của Việt Nam, từ đó tạo điều kiện cho việc nhận thức, điều tra, kết luận và xử
lý loại tội phạm này; đồng thời cũng thông qua đó nhận ra những điểm còn thiếu sót để
hoàn thiện các tội danh đã được quy định và đề xuất các biện pháp để thực thi pháp
luật hình sự trong lĩnh vực chứng khoán một cách hiệu quả hơn.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài.
Do đây là loại tôi phạm mới, có những hạn chế nhất định về nguồn tài liệu tham
khảo, thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức nên trong đề tài luận văn này người viết
chỉ tập trung nghiên cứu những quy định pháp luật của các loại tội phạm về lĩnh vực
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
SVTH: Trần Thùy Lam
1
Các tội phạm về chứng khoán trong Luật Hình sự Việt Nam – một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
chứng khoán tại Việt Nam, từ quy định pháp luật đến những bất cập và giải pháp thực
thi, đồng thời phân biệt giữa hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi bị xử
phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng đó là suy luận logic kết hợp
xuyên suốt với các phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu với kiến thức tiếp cận
Theo Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung 2010, chứng khoán là bằng chứng xác
nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của
tổ chức phát hành, được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ
liệu điện tử1; trong số đó, cổ phiếu (loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành2) là loại
hình tiêu biểu nhất và có thể xem là đại diện cho toàn bộ TTCK.
Chứng khoán là những giấy tờ có giá và có khả năng chuyển nhượng, xác định
số vốn đầu tư (tư bản đầu tư); chứng khoán xác nhận quyền sở hữu hoặc quyền đòi nợ
hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài sản trong một thời gian nào đó.
Chứng khoán là một phương tiện hàng hóa trừu tượng có thể thỏa thuận và có thể
thay thế được, đại diện cho một giá trị tài chính. Chứng khoán gồm các loại: chứng
khoán cổ phần (ví dụ cổ phiếu phổ thông của một công ty), chứng khoán nợ (như trái
phiếu nhà nước, trái phiếu công ty...) và các chứng khoán phái sinh (như các quyền
chọn, hợp đồng quy đổi - Swap, hợp đồng tương lai, Hợp đồng kỳ hạn). Ở các nền
kinh tế phát triển, loại chứng khoán nợ là thứ có tỷ trọng giao dịch áp đảo trên các thị
trường chứng khoán. Còn ở những nền kinh tế nơi mà thị trường chứng khoán mới
được thành lập, thì loại chứng khoán cổ phần lại chiếm tỷ trọng giao dịch lớn hơn.
Công ty hay tổ chức phát hành chứng khoán được gọi là đối tượng phát hành.
Chứng khoán có thể được chứng nhận bằng một tờ chứng chỉ (certificate), bằng một
bút toán ghi sổ (book-entry) hoặc dữ liệu điện tử
1.1.1.1 Đặc điểm của chứng khoán
Tính thanh khoản (tính lỏng): Tính lỏng của tài sản là khả năng chuyển tài sản
đó thành tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào khoảng thời gian và phí
cần thiết cho việc chuyển đổi và rủi ro của việc giảm sút giá trị của tài sản đó do
chuyển đổi. Chứng khoán có tính lỏng cao hơn so với các tài sản khác, thể hiện qua
1
2
Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung 2010
khoán thích hợp và hiệu quả nhất. Mỗi nhà đầu tư có tâm lý khác nhau, để phát triển
thị trường chứng khoán nhà nước cần có cơ chế tổ chức, quản lí phát hành thích hợp
nhằm đa dạng hóa các loại chứng khoán phát hành.
1.1.1.2 Phân loại chứng khoán
Các loại chứng khoán
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ
b) Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp
đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Chứng khoán vốn (cổ phiếu): Là chứng khoán xác nhận quyền sở hữu một
phần công ty cổ phần. Chứng khoán vốn do các công ty cổ phần phát hành. Người sở
hữu chứng khoán vốn không phải là chủ nợ của công ty mà là người sở hữu công ty
và có quyền hưởng các lợi ích trong công ty.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
SVTH: Trần Thùy Lam
4
Các tội phạm về chứng khoán trong Luật Hình sự Việt Nam – một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
Chứng khoán nợ (trái phiếu): Là chứng khoán xác nhận một khoản nợ của
người phát hành đối với người nắm giữ chứng khoán. Chứng khoán nợ thể hiện sự
cam kết của người phát hành thanh toán những khoản tiền lãi và khoản tiền gốc vào
những thời điểm nhất định.
Các chứng khoán phái sinh: Là chứng khoán thể hiện quyền được mua hoặc
bán cổ phiếu, trái phiếu theo các điều kiện nhất định đã được thỏa thuận trước. Các
chứng khoán phái sinh gồm có một số loại chủ yếu sau:
Quyền mua cổ phần (Rights): là loại chứng khoán do công ty cổ phần phạt
hành kèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung, nhằm đảm bảo cho cổ đông
Các tội phạm về chứng khoán trong Luật Hình sự Việt Nam – một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
mô của thị trường đó rộng hay hẹp, phổ biến hay chưa phổ biến, hiện đại hay còn thô
sơ. Có nhiều loại thị trường khác nhau tùy theo tiêu thức phân chia. Căn cứ vào đối
tượng giao dịch thì có thể kể tới các loại thị trường như: thị trường hàng hoá và dịch
vụ, thị trường sức lao động, thị trường vàng, thị trường ngoại tệ, thị trường chứng
khoán...
Có nhiều khái niệm về thị trường chứng khoán khác nhau, nhưng nhìn chung có
thể dẫn ra một khái niệm có tính phổ biến: Thị trường chứng khoán là một thị trường
mà ở nơi đó người ta mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích
kiếm lời3. Còn Theo Điều 6, khoản 1, Luật Chứng khoán Việt Nam năm 2006 thì:
"Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu
đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới
hình thức chứng chỉ, bút toán ghi so hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn
mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng
khoán.
TTCK là thị trường diễn ra các hoạt động phát hành, giao dịch mua bán chứng
khoán. Việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp, khi người mua mua
được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành chứng khoán, và ở thị trường
thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành từ thị trường sơ
cấp. Như vậy, TTCK là 1 bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra quá trình
phát hành, mua bán các chứng khoán, đó là các công cụ nợ và công cụ vốn (còn gọi là
công cụ sở hữu). Bản chất của TTCK là thị trường thể hiện mối quan hệ giữa cung và
cầu vốn đầu tư. Giá chứng khoán chứa đựng các thông tin về chi phí vốn, hay còn gọi
là giá của vốn đầu tư. TTCK là hình thức phát triển bậc cao của nền sản xuất và lưu
thông hàng hóa. Chứng khoán được phát hành và mua bán trên TTCK bao gồm nhiều
loại khác nhau tùy theo tiêu thức phân loại. Nếu căn cứ vào thời gian sử dụng vốn sẽ
có chứng khoán ngắn hạn và chứng khoán dài hạn. Các chứng khoán ngắn hạn
thường được mua bán trên thị trường tiền tệ. Các chứng khoán dài hạn như cổ phiếu,
huy động các nguồn vốn nhàn rỗi cho đầu tư, đồng thời thực hiện việc chuyển dịch
các dòng tiết kiệm và đầu tư nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.
Thứ hai, TTCK được đặc trưng bởi chế định tài chính trực tiếp, những người có
khả năng cung ứng vốn có thể điều chuyển vốn trực tiếp cho người cần vốn mà
không cần thông qua các trung gian tài chính (ngân hàng, công ty tài chính,...) với
tư cách là một chủ thể riêng biệt, độc lập thực hiện huy động vốn để phân phối vốn
nhằm đạt được những lợi ích riêng. Chúng ta đều đã biết, các nguồn tài chính có thể
được chuyển dịch từ người cung sang người cầu bằng một trong hai hình thức: tài
chính gián tiếp hoặc trực tiếp. Tài chính gián tiếp: vốn được luân chuyển từ người
cung vốn qua các trung gian tài chính (như ngân hàng thương mại, công ty tài
chính...) rồi mới được chuyển tới người cầu vốn. Trung gian tài chính đứng giữa
người cung và người cầu vốn, tiến hành tập trung các nguồn tài chính từ những người
cung vốn và trả cho họ một khoản tiền lãi nhất định, sau đó sử dụng các nguồn lực tài
chính huy động được để cho những người cầu vốn vay và thu từ họ một khoản tiền lãi
nhất định. Trung gian tài chính được hưởng một khoản thu nhập từ phần chênh lệch
giữa thu từ cung ứng nguồn lực tài chính và chi cho huy động các nguồn lực tài
chính. Tài chính trực tiếp: vốn hay các nguồn tài chính được luân chuyển trực tiếp từ
người cung vốn sang người cầu vốn. Trong quá trình vận động này, nguồn tài chính
không dừng lại ở bất kỳ một tổ chức tài chính trung gian nào. Người có nhu cầu sử
dụng vốn phải trả chi phí sử dụng vốn cho người cung vốn. Tuy nhiên, trong hình
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
SVTH: Trần Thùy Lam
7
Các tội phạm về chứng khoán trong Luật Hình sự Việt Nam – một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
thức tài trợ trực tiếp, nguồn vốn có thể luân chuyển tới người có nhu cầu theo 2 hình
thức: tài trợ trực tiếp qua trung gian và tài trợ trực tiếp không qua trung gian.
bắt buộc phải đặt lệnh mua bán qua các nhà mua bán chứng khoán.
Thứ tư, TTCK gần với thị trường đầu tư hoàn hảo. TTCK bao gồm nhiều bộ
phận thị trường khác nhau, trong đó thị trường chứng khoán tập trung là bộ phận
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
SVTH: Trần Thùy Lam
8
Các tội phạm về chứng khoán trong Luật Hình sự Việt Nam – một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
trung tâm. Ở thị trường này mọi người đều được tự do tham gia mua và bán theo
nguyên tắc hoạt động của thị trường. Không có sự áp đặt giá cả trên thị trường chứng
khoán, giá cả ở đây được xác định dựa trên quan hệ cung cầu của thị trường và phản
ánh các thông tin có liên quan đến chứng khoán.
Thứ năm, TTCK về cơ bản là thị trường liên tục. Sau khi các chứng khoán được
phát hành trên thị trường sơ cấp, nó có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị
trường thứ cấp. TTCK đảm bảo cho các nhà đầu tư có thể chuyển các chứng khoán
của họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào họ muốn.
Chức năng của Thị trường chứng khoán
Thứ nhất, huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng
khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản
xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK,
Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho
mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của
xã hội.
Thứ hai, cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công
chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại
chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho
phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và
1.1.2.2 Phân loại thị trường chứng khoán
- Xét về quá trình luân chuyển chứng khoán thì thị trường chứng khoán được
chia làm thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp:
Thị trường sơ cấp: Là nơi phát hành lần đầu chứng khoán ra công chúng, tạo
vốn cho tổ chức phát hành thông qua việc bán chứng khoán cho các nhà đầu tư. Tại
đây, có sự chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn rỗi tạm thời trong
dân chúng vào trong đầu tư, từ nguồn vốn ngắn hạn sang nguồn vốn dài hạn. Nó tạo
điều kiện cung cấp cho nền kinh tế nguồn vốn có thời gian sử dụng đáp ứng được thời
gian cần thiết của các khoản đầu tư. Thị trường sơ cấp có chức năng là huy động vốn
cho đầu tư, làm tăng thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế. Có hai phương pháp phát hành
chứng khoán trên thị trường này là: phát hành riêng lẻ và phát hành công chúng.
Thị trường thứ cấp: Là nơi diễn ra các giao dịch chứng khoán đó được phát
hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp tạo điều kiện cho thị trường sơ cấp
phát triển, tăng tiềm năng huy động vốn của các tổ chức phát hành chứng khoán. Trên
thị trường chứng khoán vừa có giao dịch của thị trường sơ cấp, vừa có giao dịch của
thị trường thứ cấp.
- Xét về phương diện pháp lý thì thị trường chứng khoán được chia thành thị
trường chứng khoán tập trung và thị trường chứng khoán phi tập trung:
Thị trường chứng khoán tập trung: Là nơi mà việc giao dịch, trao đổi, mua bán
chứng khoán được thực hiện thông qua sở giao dịch chứng khoán (hay cũng gọi là
sàn giao dịch). Là thị trường hoạt động theo đúng các quy định của pháp luật, là nơi
mua bán các loại chứng khoán đã được đăng biểu hay đặc biệt được biệt lệ.
Chứng khoán đăng biểu là chứng khoán đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép
bảo đảm, phân phối và mua bán qua trung gian các kinh kỷ và công ty kinh kỷ, tức là
đã hội đủ tiêu chuẩn quy định.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
SVTH: Trần Thùy Lam
10
Thị trường giao dịch kỳ hạn: Thị trường mua và bán chứng khoán theo giá thoả
thuận theo hợp đồng nhưng thanh toán và giao nhận chứng khoán sau ngày ký kết
hợp đồng một khoảng thời gian nhất định thường là 30 hoặc 60 ngày.
Thị trường giao dịch tương lai: Giống như là thị trường giao dịch chứng khoán
kỳ hạn nhưng khác ở chỗ: Các hợp đồng mua bán đó được tiêu chuẩn hoá nội dung và
điều kiện thực hiện hợp đồng và phải có tiền đặt cọc thông qua quy chế ký quỹ để
đảm bảo hợp đồng.
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
SVTH: Trần Thùy Lam
11
Các tội phạm về chứng khoán trong Luật Hình sự Việt Nam – một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
- Xét về tính chất chứng khoán giao dịch thì thị trường chứng khoán còn chia
thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường phái sinh.
Thị trường cổ phiếu (the stock market): Là thị trường phát hành cổ phiếu mới và
mua đi bán lại cổ phiếu cũ. Hoạt động của thị trường này gồm cả hai lĩnh vực đầu tư
chứng khoán và kinh doanh chứng khoán.
Thị trường trái phiếu (bond market): Là nơi giao dịch mua bán các loại trái
phiếu đã phát hành, các loại trái phiếu này do chính phủ hoặc chính quyền địa
phương và các công ty phát hành. Thị trường trái phiếu đóng vai trò quan trọng trong
nền kinh tế, đối với các doanh nghiệp cũng như các nhà đầu tư. Tại thị trường này
nguồn vốn huy động có chi phí rẻ hơn thị trường cổ phiếu. Trái phiếu có độ an toàn
khá cao. Trái phiếu thường có thời hạn xác định, trái phiếu mới phát hành thay thế
cho trái phiếu đáo hạn và quá trình này diễn ra liên tục.
Thị trường chứng khoán phái sinh: bao gồm thị trường hợp đồng tương lai, hợp
đồng lựa chọn,… - Đây là thị trường cấp cao mua bán chuyển giao các công cụ tài
ảnh hưởng sâu rộng nhất đến đời sống xã hội. Tội phạm kinh tế, nhìn dưới góc độ
chính sách hình sự, là khái niệm để chỉ chung tất cả các loại tội phạm có liên quan
trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động của cơ quan, tổ chức trong việc vận hành
nền sản xuất, thực hiện quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và đảm bảo sự công
bằng, hợp lý trong phân chia, thụ hưởng các quyền lợi và kết quả vật chất khác do
nền sản xuất mang lại5. Tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán (TPCK) – một trong
những nhóm tội phạm kinh tế xuất hiện muộn nhất, cũng không nằm ngoài quy luật
này. Tại Việt Nam, hoạt động chứng khoán chủ yếu được điều chỉnh bởi Luật Chứng
khoán số 70/2006/QH11, Quốc hội ngày 29 tháng 06 năm 2006, đã được sửa đổi, bổ
sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán số
62/2010/QH12, Quốc hội ngày 24 tháng 11 năm 2010 (Luật Chứng khoán sửa đổi,
bổ sung 2010). Việc xử lý hành vi vi phạm hiện nay được thực hiện thông qua chế tài
hành chính và hình sự. Tuy nhiên, trong khi quy định về xử phạt hành chính đã có từ
lâu, các quy định về tội phạm trong lĩnh vực này mới chỉ được đề cập đến trong Bộ
luật Hình Sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009.
Nhìn chung, nhận thức về loại tội phạm này còn rất mới và chưa rõ ràng, sự phát
triển ngày càng nhanh và phức tạp của thị trường chứng khoán cũng gây nên không ít
khó khăn khi áp dụng các quy định của pháp luật hình sự vào thực tế. Chính vì vậy
các nhà đầu tư nên thận trọng và cân nhắc khi tiến hành giao dịch trên TTCK, đồng
thời các cơ quan chức năng cũng nên có một quy trình xem xét chặt chẽ và kỹ lưỡng
khi xử lý các hành vi phạm tội này.
Theo Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung 2010, chứng khoán là bằng chứng xác
nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của
tổ chức phát hành, được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ
liệu điện tử6; trong số đó, cổ phiếu (loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp
pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành7) là loại
hình tiêu biểu nhất và có thể xem là đại diện cho toàn bộ TTCK. Chính từ đặc điểm
này, TPCK có đối tượng tác động chủ yếu là cổ phiếu của các công ty. Vậy phạm vi
xâm nhập của TPCK rộng như thế nào, câu trả lời đó là gần như tất cả các bước nhằm
- Nhóm 4: nhóm hành vi vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh chứng
khoán và chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán
- Nhóm 5: nhóm hành vi vi phạm quy định về giao dịch chứng khoán
- Nhóm 6: nhóm hành vi vi phạm quy định về đăng ký, lưu ký, bù trừ và thanh
toán chứng khoán, về ngân hàng giám sát
- Nhóm 7: nhóm hành vi cản trở việc thanh tra8
Khác với quy định trong Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung 2010, Bộ luật Hình
Sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 chỉ phân loại TPCK thành ba tội danh:
- Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng
khoán;
- Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán;
- Tội thao túng giá chứng khoán9.
Trong phạm vi đề tài và dựa trên định nghĩa về tội phạm tại phần chung của Bộ
luật Hình Sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009, người viết chỉ tập trung phân tích ba
tội danh được quy định trong Bộ luật Hình Sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã
nêu ở trên.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu TPCK là hành vi nguy hiểm cho xã hội, làm rối
loạn hoạt động bình thường của TTCK, xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước
trong lĩnh vực chứng khoán và được quy định trong Bộ luật Hình Sự 1999 sửa đổi, bổ
sung năm 2009.
8
9
Điều 121, 123, 124, 125, 126, 127, 130 Luật Chứng khoán sửa đổi, bổ sung 2010
Điều 181a, 181b, 181c Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
SVTH: Trần Thùy Lam
công cụ, vũ khí để chống lại các hành vi vi phạm xuất hiện dày đặc và ở trình độ cao.
Có thể nói việc bổ sung ba tội phạm mới về chứng khoán vào Bộ luật Hình Sự 1999
sửa đổi, bổ sung năm 2009 cũng như những nỗ lực mới nhất trong việc soạn thảo
Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình Sự 1999 sửa đổi,
bổ sung năm 2009 quy định các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán,
chứng khoán đã cho thấy quyết tâm của nhà nước ta trong việc hạn chế, ngăn ngừa
những hậu quả xấu từ hành vi phạm tội trong lĩnh vực chứng khoán.
- Đặc điểm thứ hai, mức độ ảnh hưởng của TPCK thường lớn hơn so với các
loại tội phạm kinh tế khác
GVHD: Nguyễn Văn Tròn
SVTH: Trần Thùy Lam
15
Các tội phạm về chứng khoán trong Luật Hình sự Việt Nam – một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
Một trong những đặc điểm của tội phạm là tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy
hiểm này thể hiện ở việc nó ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của cộng đồng.
Đặc điểm của các tội phạm kinh tế nói chung và TPCK nói riêng là tác động trực tiếp
đến nền kinh tế quốc gia, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các mặt của đời sống.
Đối với TPCK, tác động mạnh nhất của chúng thể hiện trên TTCK. Trong thời điểm
hiện nay, khi trên thế giới cụm từ “công ty cổ phần” hay “TTCK” đã trở thành một
phần không thể thiếu đối với nền kinh tế thì tại Việt Nam, tuy muộn hơn nhưng hầu
hết các công ty, doanh nghiệp lớn đều đã được niêm yết trên sàn giao dịch hoặc đang
trong giai đoạn chuyển đổi cổ phần hóa. Chính vì vậy TPCK càng mang tính nguy
hiểm hơn các loại tội phạm kinh tế khác bởi phạm vi tác động rộng lớn của nó. Chúng
không chỉ ảnh hưởng nặng nề lên các chỉ số chứng khoán, làm đình trệ quá trình giao
dịch mà còn kéo theo các hệ lụy liên quan đến các thị trường bất động sản, vàng,
ngoại tệ… Nếu ở mức độ nghiêm trọng, tình hình kinh tế - chính trị, quốc phòng an
Các tội phạm về chứng khoán trong Luật Hình sự Việt Nam – một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
khỏi xôn xao và chờ đợi kết quả xử lý. Vì đây là vụ án về TPCK đầu tiên ở Việt Nam
nên tâm lý thị trường đã đặt sức ép lên các cơ quan tiến hành tố tụng phải đưa ra kết
quả trong thời gian sớm nhất và hình phạt nghiêm khắc nhất. Mỗi thông tin được đưa
ra không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân người phạm tội mà còn với các chủ thể tham gia
trên thị trường, họ sẽ dựa vào đó để làm thước đo lòng tin, độ rủi ro và tiềm năng đầu
tư ở thời điểm hiện tại. Tác động hai chiều này vừa mang mặt tích cực vừa có tác
động tiêu cực. Sức ép sẽ là động lực khiến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ
việc khẩn trương, triệt để và có hiệu quả. Tuy nhiên, với một lĩnh vực phạm tội mới
như TPCK, đáng lẽ chúng ta phải đầu tư nhiều thời gian, công sức để nghiên cứu, tìm
hiểu thật kỹ càng mới có thể đưa ra quyết định chính xác thì ở đây thời gian lại bị giới
hạn triệt để. Ngay cả quyết định được đưa ra cũng không phải là ý kiến độc lập của
bản thân những người thực thi pháp luật mà quyết định đó còn phải làm hài lòng tâm
lý thị trường hiện đang rất bất an. Chính đặc điểm nhạy cảm, phụ thuộc rất nhiều vào
tâm lý các chủ thể tham gia của TTCK đã khiến TPCK trở thành một loại tội phạm
mang đặc trưng riêng. Để phù hợp với đặc điểm này, chúng ta cần có một cơ chế
thông tin đầy đủ nhưng giới hạn hợp lý những điều nên biết thông tin trong phạm vi
quy định của pháp luật trong từng giai đoạn của quá trình tố tụng, nhằm đảm bảo ổn
định thị trường, ổn định tâm lý nhà đầu tư.
- Đặc điểm thứ tư, cấu thành của TPCK
Thứ nhất, về chủ thể của TPCK: Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể có
năng lực TNHS, đạt một độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể11.
Pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chưa quy định về TNHS đối với tổ chức.
Chủ thể của loại tội phạm này bao gồm cả chủ thể đặc biệt và chủ thể thường.
Chủ thể thường là người có năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS (ví dụ chủ thể của
tội cướp tài sản là chủ thể thường, ai cũng có thể thực hiện hành vi cướp tài sản); chủ
thể đặc biệt là những người phải kèm theo những điều kiện nhất định mới có thể gây
ra hành vi phạm tội (ví dụ tội tham ô có chủ thể đặc biệt, vì chỉ có những người có