ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----------------------------
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
CÁC TỘI PHẠM VỀ KHỦNG BỐ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----------------------------
NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN
CÁC TỘI PHẠM VỀ KHỦNG BỐ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành
Mã số
: Luật Hình sự
: 60 38 40
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. NGUYỄN NGỌC ANH
26
1.2
Lịch sử hình thành và phát triển quy định các tội phạm về khủng bố
trong Luật hình sự Việt Nam...........................................................................27
27
1.2.1 Giai đoạn từ trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 ............................27
27
1.2.2 Từ khi ban hành Bộ luật hình sự 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật
hình sự 1999 ....................................................................................................29
29
1.2.3 Từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 đến nay .......................................30
30
1.3
Tham khảo pháp luật quốc tế về tội phạm khủng bố .......................................32
32
CHƢƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM NĂM 1999 VỀ CÁC TỘI PHẠM KHỦNG BỐ VÀ
THỰC TIẾN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ CÁC TỘI PHẠM NÀY................
4141
2.1
Các tội khủng bố trong Bộ luật hình sự năm 1999 ..........................................41
41
2.1.1
68
3.1.1
Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của Bộ luật hình sự
năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) về các tội khủng bố ............68
68
3.1.2 Nội dung sửa đổi, bổ sung cụ thể hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) các tội về khủng bố .............73
73
3.2
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật
hình sự Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về các
tội khủng bố trong tình hình hiện nay .............................................................80
80
3.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật
cho nhân dân ....................................................................................................80
80
3.2.2 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật, Tòa án
với các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trong việc
phát hiện, xử lý, cải tạo, giáo dục người phạm tội ..........................................82
82
3.2.3
Nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
khủng bố ở Việt Nam trong tình hình hiện nay ..............................................84
84
bố trong Luật hình sự Việt Nam. Năm 2009, việc sửa đổi, bổ sung các quy
định về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi khủng bố của Luật sửa đổi,
1
bổ sung Bộ luật hình sự đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong công tác lập
pháp của Nhà nước ta về tội phạm khủng bố. Theo đó, trong Bộ luật hình sự
của Việt Nam có 3 điều quy định 3 tội danh về khủng bố, tạo cơ sở pháp lý
quan trọng để đấu tranhh phòng, chống khủng bố và thuận lợi trong hợp tác
quốc tế phòng, chống tội phạm nguy hiểm này.
Tuy nhiên, quy định về các tội khủng bố trong Luật hình sự Việt Nam
còn nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ. Việc hoàn thiện
pháp luật hình sự nói chung và pháp luật về khủng bố nói riêng là một trong
những biện pháp quan trọng trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa, đấu tranh bảo về an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn
xã hội. Nhìn nhận dưới góc độ lý luận, cho đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu có hệ thống về các tội phạm khủng bố theo pháp luật hình sự Việt
Nam; do đó còn những vấn đề lý luận pháp luật hình sự cần được nghiên cứu,
làm sáng tỏ.
Xuất phát từ những đòi hỏi cấp bách nêu trên, tác giả chọn vấn đề:
“Các tội phạm về khủng bố theo luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn
thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về hoạt động khủng bố và công tác đấu tranh phòng chống
khủng bố trên các sách báo pháp lý hình sự nước ta trong thời gian qua đã có
những công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau, song đáng chú ý là một
số công trình khoa họa như sau: Đề tài khoa học cấp Bộ “Những giải pháp cơ
bản phòng, chống khủng bố ở Việt Nam trong tình hình hiện nay” do TS. Bùi
Trung Thành, Học viện An ninh nhân dân làm chủ nhiệm, nghiệm thu năm
2004; Đề tài khoa học cấp Bộ “Khủng bố và giải pháp phòng chống khủng bố
thời đề cập đến thực trạng tội phạm về khủng bố và công tác đấu tranh phòng,
chống các tội phạm này.
3
- Trên cơ sở tổng hợp kết quả nghiên cứu dự báo tình hình và đề xuất
các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự cũng như các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống khủng bố ở Việt Nam trong
thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến các tội phạm khủng bố theo luật hình sự Việt Nam.
Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Bộ luật hình sự (năm 2009) về tội phạm khủng bố.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn trong các vấn đề lý
luận và thực tiễn về các tội khủng bố theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu của luận văn là từ năm 2000 đến 2014. Trong đó
khảo sát thực tiễn về tội phạm khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân
theo Điều 84 Bộ luật hình sự từ năm 2000 đến 2014; còn tội khủng bố Điều
230a và tội tài trợ cho khủng bố Điều 230b sẽ khảo sát từ ngày 1/1/2010 đến
năm 2014.
5. Cơ sở phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về
đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và khủng bố nói riêng, cũng như
những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo
và các bài viết đăng trên tạp chí của các nhà khoa học.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI PHẠM KHỦNG BỐ
1.1. Khái niệm về khủng bố và đặc điểm của khủng bố
1.1.1. Khái niệm về khủng bố
Khủng bố là một trong những loại hành vi đặc biệt nghiêm trọng, trực
tiếp xâm phạm tính mạng, sức khỏe của con người và đe dọa nghiêm trọng
đến an ninh, trật tự của xã hội. Khủng bố là một hiện tượng xã hội phức tạp,
mang tính tiêu cực, đã và đang trở thành một trong những vấn đề được các
nhà khoa học trên thế giới quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau
để tìm ra các biện pháp đấu tranh có hiệu quả.
Theo kết quả của một số nhà nghiên cứu thì thuật ngữ “khủng bố” được
sử dụng đầu tiên vào năm 1795 có liên quan trực tiếp đến thời kỳ khủng bố ở
nước Pháp giai đoạn 1793 - 1794. Khi đó, chính quyền cách mạng Pháp đã
thiết lập một chế độ độc tài làm nhiều người bị tòa án cách mạng kết án tử
hình; đồng thời tiến hành các biện pháp kinh tế hà khắc. Những người
Giacôbanh lãnh đạo Chính phủ Pháp lúc bấy giờ, đồng thời cũng là những
người cách mạng. Vì vậy, “sự khủng bố” đơn thuần được dùng để chỉ hoạt
động bạo lực cách mạng nói chung [23].
Thuật ngữ “kẻ khủng bố” được sử dụng lần đầu tiên theo nghĩa người
chống lại chính phủ vào năm 1866 ở Ailen và năm 1883 ở Nga. Khái niệm
này được dùng để chỉ những kẻ chống chính quyền với triết lý và lý tưởng vô
chính phủ, phủ nhận nhà nước, các đạo luật do nhà nước ban hành và tài sản
của công dân [23].
Ở Việt Nam, thuật ngữ “khủng bố” xuất hiện trong tiếng Việt vào
những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX gắn với chế độ Pháp thuộc và Mỹ
- Ngụy. Lúc bấy giờ, thuật ngữ “khủng bố cách mạng” được dùng để chỉ các
6
cuộc đàn áp và càn quét của chính quyền thực dân Pháp, đế quốc Mỹ nhằm
mục đích đe dọa nhân dân ta và gây hoảng sợ trong dân chúng.
quyết của Đại hội đồng, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc về các biện pháp đấu
tranh chống khủng bố. Mặc dù, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc tế
về chống khủng bố tương đối lớn, tuy nhiên chưa văn bản nào đưa ra được
định nghĩa rõ ràng, toàn diện về khủng bố [22].
Theo Công ước 25 nước ký kết ở Geneve (Thụy Sĩ) ngày 16/11/1937,
các hành động khủng bố được xác định chung là những việc làm phạm tội ác
nhằm chống lại một nhà nước mà mục đích hoặc bản chất là gây ra sự khủng
khiếp đối với các nhóm người hay đối với dân chúng [22].
Theo Công ước quốc tế về chống khủng bố do Ấn Độ soạn thảo đưa ra
thảo luận tại Đại hội đồng Bảo an Liên hợp quốc lần thứ 56 xác định khủng
bố là các hành vi được thực hiện nhằm mục đích đe dọa một nhóm dân cư,
buộc một chính phủ hay tổ chức quốc tế làm hay không làm bất cứ điều gì
mà gây ra hậu quả làm chết người hay thương tích nặng cho bất kỳ ai hoặc
gây thiệt hại nghiêm trọng đến một nhà nước hoặc hoạt động bình thường
của một chính phủ, hệ thống giao thông công cộng, hệ thống liên lạc hay cơ
sở hạ tầng [22].
Trong Công ước của Hội nghị các quốc gia Hồi giáo đã đưa ra định
nghĩa khủng bố là bất kỳ hành động bạo lực nào, hay sự đe dọa sử dụng bạo
lực được tiến hành kế hoạch phạm tội bởi một cá nhân hay một tập thể nhằm
khủng bố người dân hay đe dọa làm hại họ, hoặc gây nguy hiểm đến tính
mạng, danh dự của người dân, đến tài sản của cá nhân hay tập thể [22].
Nhóm hoạch định chính sách của Liên hợp quốc về khủng bố đã đưa ra
khái niệm khá chung về khủng bố. Đó là việc thực hiện hoặc có ý đồ thực
hiện hành vi xâm phạm các nguyên tắc pháp luật, trật tự, quyền con người và
nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế vốn là nền tảng tạo lập
nên thế giới [22].
8
mở đầu, Công ước New York năm 1979 về chống bắt cóc con tin ghi nhận:
"Xét rằng việc bắt cóc con tin là một tội phạm gây lo ngại sâu sắc cho cộng
đồng quốc tế...; nhận thấy rõ sự cấp thiết phải phát triển hợp tác quốc tế giữa
các quốc gia trong việc đưa ra các sáng kiến và sử dụng các biện pháp hữu
hiệu để ngăn chặn, truy tố và trừng trị tất cả các hành vi bắt con tin như là
những biểu hiện của khủng bố quốc tế”; hay như Công ước Montreal năm
1991 về việc đánh dấu chất nổ dẻo để nhận biết tại phần mở đầu có quy định:
"Bày tỏ mối lo ngại sâu sắc đối với các hành vi khủng bố nhằm phá hoại tàu
bay, các phương tiện giao thông và các mục tiêu khác; lo ngại rằng các vật nổ
dẻo vẫn được sử dụng cho các hành vi khủng bố như vậy; xét rằng việc đánh
dấu vật liệu nổ dẻo để nhận biết sẽ góp phần quan trọng vào việc ngăn chặn
các hành vi bất hợp pháp đó”...
Không chỉ các công ước quốc tế mà các Nghị quyết của Hội đồng Bảo
an Liên hợp quốc về các biện pháp phòng, chống khủng bố cũng không đưa ra
định nghĩa cụ thể nào về khủng bố. Ngay cả Nghị quyết số 1373 ngày
28/9/2001 làm cơ sở ra đời Uỷ ban chống khủng bố thuộc Hội đồng Bảo an
Liên hợp quốc mặc dù kêu gọi "các quốc gia hợp tác khẩn thiết nhằm phòng
và trấn áp các hành động khủng bố, thông qua sự tăng cường hợp tác và thực
hiện đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến chủ nghĩa khủng bố” cũng
không đưa ra định nghĩa cụ thể về khủng bố.
Hầu hết các điều ước quốc tế khu vực cũng không đưa ra được định
nghĩa khủng bố. Các điều ước này trong phạm vi hợp tác đấu tranh chống
khủng bố lại dẫn ra những hành vi được quy định tại các công ước quốc tế đa
phương của Liên hợp quốc. Ví dụ, Công ước của châu Âu về chống khủng bố
năm 1977 ngay tại Điều 1 đã đưa ra các hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh của
Công ước, yêu cầu các quốc gia thành viên phải tội phạm hoá, đó là các hành
vi được nêu trong Công ước La Haye năm 1970 về trừng trị việc chiếm giữ
11
- Nghị định thư Rome năm 1988 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp
chống lại những công trình cố định trên thềm lục địa;
- Công ước New York năm 1997 về trừng trị khủng bố bằng bom;
- Công ước New York năm 1999 về trừng trị hành vi tài trợ cho
khủng bố;
- Công ước Viên năm 2005 (sửa đổi Công ước Viên năm 1980) về bảo
vệ an toàn vật liệu hạt nhân;
- Công ước New York năm 2005 về ngăn ngừa các hành vi khủng bố
bằng hạt nhân;
- Nghị định thư năm 2005 bổ sung Công ước về ngăn chặn các hành vi
phi pháp chống lại an toàn hàng hải;
- Nghị định thư năm 2005 bổ sung Nghị định thư về trừng trị những
hành vi bất hợp pháp chống lại những công trình trên thềm lục địa ký tại
London ngày 14/10/2005 [21].
Mặc dù một số văn bản quốc tế nêu trên không định nghĩa khủng bố
một cách trực tiếp nhưng nhìn nhận một cách khách quan, chúng ta vẫn có thể
xác định được nội hàm của khái niệm khủng bố trong nhiều văn bản quốc tế
khác nhau.
Theo Quyết định của Hội đồng chung của EU ngày 13/6/2002 về việc
chống chủ nghĩa khủng bố định nghĩa các tội khủng bố “với bản chất hoặc tuỳ
bối cảnh, có thể gây nguy hại nghiêm trọng đối với một quốc gia hoặc một tổ
chức quốc tế và tội đã phạm có mục đích: đe doạ nghiêm trọng người dân
hoặc ép buộc chính phủ hoặc một tổ chức quốc tế thực hiện hoặc rút bỏ việc
thực hiện một hành động hoặc làm mất ổn định nghiêm trọng hoặc huỷ hoại
cơ cấu xã hội, kinh tế, thể chế và chính trị căn bản của một quốc gia hoặc một
tổ chức quốc tế”.
13
của hành vi bạo lực; dấu hiệu về mục đích của hành vi bạo lực, các yếu tố chủ
thể, khách thể của hoạt động khủng bố…
1.1.1.2. Khái niệm khủng bố trong pháp luật một số quốc gia
Khủng bố từ lâu đã trở thành mối đe dọa nghiêm trọng đến nền hòa bình,
an ninh thế giới. Trong các đạo luật của mình, các quốc gia đã thể hiện rõ nét
việc hình sự hóa hành vi khủng bố thông qua các điều khoản cụ thể. Để ngăn
chặn hoạt động khủng bố, trừng trị hành vi xâm hại tới hoà bình, an ninh, các
quốc gia đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa ra khái niệm khủng bố. Có thể kể
đến một số khái niệm pháp lý về khủng bố của một số quốc gia như:
a) Liên bang Nga
Khái niệm về khủng bố theo Luật của Liên bang Nga về chống khủng
bố (ngày 25 tháng 7 năm 1998 số 130 - FZ) được hiểu như sau: “Chủ nghĩa
khủng bố là việc sử dụng bạo lực hoặc đe dọa sử dụng bạo lực đối với cá nhân
hoặc tổ chức, cũng như hủy hoại (làm tổn hại) hoặc đe dọa hủy hoại (làm tổn
hại) tài sản và các mục tiêu vật chất khác, tạo ra mối nguy hiểm chết người,
gây thiệt hại tài sản đáng kể hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác
đối với xã hội, được thực hiện nhằm gây rối loại an toàn xã hội, làm cho dân
chúng khiếp sợ, hoặc tác động đối với việc thông qua các quyết định của các
cơ quan chính quyền có lợi cho bọn khủng bố, hoặc đáp ứng những lợi ích tài
sản phi pháp hoặc những lợi ích khác; xâm hại đến cuộc sống của nhà hoạt
động quốc gia hoặc xã hội, được tiến hành nhằm mục đích chấm dứt hoạt
động quốc gia hoặc hoạt động chính trị của người đó hoặc trả thù do hoạt
động đó; tấn công vào đại diện nước ngoài hoặc cán bộ của tổ chức quốc tế
được bảo vệ quốc tế, cũng như tấn công vào cá trụ sở làm việc hoặc phương
tiện giao thông của những người được bảo vệ quốc tế, nếu như hành vi đó
được tiến hành nhằm khiêu khích chiến tranh hoặc làm phức tạp quan hệ quốc
15
tế”; và “Hành động khủng bố là việc tiến hành trực tiếp hành động tội phạm
c) Hoa Kỳ:
Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đưa ra quan điểm về khủng bố như sau:
"Khủng bố là việc sử dụng hoặc đe doạ sử dụng bạo lực một cách có tính toán
nhằm tạo ra nỗi khiếp sợ, với ý đồ ép buộc hoặc đe doạ các chính phủ hoặc
(các cộng đồng) xã hội, trong việc theo đuổi những mục tiêu mà thường là về
chính trị, tôn giáo hoặc tư tưởng".
Điều 18 Bộ luật hình sự Hoa Kỳ quy định: "Khủng bố quốc tế - Những
hoạt động liên quan đến các hành động bạo lực hoặc nguy hiểm với đời sống
con người, mà vi phạm pháp luật hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ hoặc
của bất kỳ bang nào thuộc Hợp chủng quốc, hoặc sẽ vi phạm Luật hình sự nếu
hành động đó được thực hiện trong phạm vi nước Mỹ hoặc bất kỳ bang nào;
được thực hiện nhằm mục đích đe doạ hoặc cưỡng ép, khống chế một cộng
đồng dân cư; hoặc nhằm gây ảnh hưởng đến chính sách của một chính phủ
bằng sự cưỡng bức đe doạ; hoặc nhằm tác động đến sự điều hành của một
chính phủ thông qua việc sát hại hoặc bắt cóc; và xảy ra chủ yếu bên ngoài
lãnh thổ Hoa Kỳ kiểm soát, hoặc ở những vùng biên giới liên quốc gia, theo
những cách thức mà đã được hoàn tất, những người này có ý đồ đe doạ hoặc
cưỡng ép chính phủ, hoặc khu vực ở đó những kẻ phạm tội hoạt động hoặc
tìm cách xin tị nạn".
Như vậy, Hoa Kỳ đã xác định hoạt động khủng bố theo những dấu
hiệu: Hành vi (hành động bạo lực hoặc nguy hiểm với đời sống con người);
dấu hiệu mục đích (nhằm đe doạ hoặc cưỡng ép, khống chế một cộng đồng
dân cư; hoặc nhằm gây ảnh hưởng đến chính sách của một chính phủ bằng sự
cưỡng bức đe doạ; hoặc nhằm tác động đến sự điều hành của một chính phủ
thông qua việc sát hại hoặc bắt cóc).
d) Ốt-xtrây-li-a
Theo quy định của Luật chống khủng bố của Ốt-xtrây-li-a thì hành vi
khủng bố là hành động hoặc lời đe doạ sẽ có hành động nhằm mục đích ép
17
khiếp sợ trong nhân dân. Đó là các vi phạm như: “Xâm phạm an toàn cá
nhân, bắt cóc, chiếm đoạt tài sản cũng như làm đổi hướng các thiết bị tàu
bay, tàu thuỷ hay bất cứ phương tiện giao thông nào; các vụ trộm, cưỡng
đoạt máy móc, phá huỷ, huỷ hoại và làm hư hỏng cũng như các hành vi vi
phạm trong lĩnh vực tin học; việc sản xuất, tàng trữ các dụng cụ, máy móc,
thiết bị giết người hoặc chất nổ được xác định tại Điều 3 Bộ luật hình sự
Cộng hoà Pháp”.
Theo Bộ luật hình sự Cộng hoà Pháp, khủng bố được xác định trên cơ
sở những dấu hiệu về: chủ thể (cá nhân hoặc tập thể); dấu hiệu hành vi (đe
doạ hoặc gieo rắc nỗi khiếp sợ trong nhân dân); dấu hiệu mục đích (làm rối
loạn nghiêm trọng trật tự công cộng). Bên cạnh đó, Pháp cũng đã liệt kê các
hành vi mang tính chất khủng bố. Cách quy định này có ưu điểm là rõ ràng,
cụ thể, dễ áp dụng để trừng trị các hành vi khủng bố tuy nhiên quy định theo
phương thức liệt kê sẽ dẫn tới việc liệt kê không đầy đủ.
Qua tìm hiểu về các quy định pháp luật của một số quốc gia về khủng
bố nêu trên, có thể thấy rằng, mỗi quốc gia có phương thức quy định khác
nhau, quy định cụ thể mang tính liệt kê hoặc quy định chung mang tính định
hướng. Bên cạnh đó, các quốc gia đều đưa ra quy định xác định một số dấu
hiệu cơ bản nhận biết hoạt động khủng bố. Tuy nhiên, những dấu hiệu này
theo pháp luật của các nước khác nhau cũng có sự khác biệt nhất định.
1.1.1.3. Khái niệm khủng bố trong pháp luật Việt Nam
+ Theo Từ điển bách khoa Công an nhân dân Việt Nam (do Nhà xuất
bản Công an nhân dân xuất bản năm 2000) đưa ra định nghĩa về “khủng bố”
và “khủng bố quốc tế” như sau: “Khủng bố là hành động dùng bạo lực của cá
nhân, của một tổ chức, một nhà nước hoặc liên minh nhà nước để đe dọa,
cưỡng bức đối phương, khiến họ vì khiếp sợ mà phải chịu khuất phục. Các
hình thức khủng bố thường là bắt cóc, ám sát, đánh bom... Khủng bố được
20