Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Nguyễn Trí Chinh Những vấn đề lý luận và thực tiễn
về các tội phạm về môi trường
theo luật hình sự việt nam
Luận văn thạc sĩ luật học Hà nội - 2010
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ Mở đầu
1
Chương 1: Những vấn đề lý luận về các tội phạm về môi trường theo luật
hình sự Việt Nam
8
1.1.
Pháp luật Singapo
40
1.5.4.
Pháp luật Inđônêxia
41
1.5.5.
Pháp luật Philippin
42 Chương 2: Các qui định tội phạm về môi trường trong Bộ luật Hình sự Việt
Nam và thực tiễn áp dụng
45
2.1.
Các qui định về tội phạm môi trường trong Bộ luật Hình sự
Việt Nam
45
2.1.1.
Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội phạm về môi trường
46
2.1.1.1.
Khách thể của tội phạm về môi trường
46
2.1.1.2.
Mặt khách quan của tội phạm về môi trường
48
2.1.1.3.
Mặt chủ quan của tội phạm về môi trường
52
2.1.1.4.
3.2.1.
Hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự về các tội
phạm về môi trường
107
3.2.2.
Hoàn thiện các văn bản qui phạm pháp luật khác bảo đảm tính
đồng bộ nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm môi trường
120
3.2.3.
Nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng những quy định của pháp
luật hình sự về các tội phạm về môi trường của các cơ quan bảo
vệ pháp luật
121
3.2.3.1.
Đối với Cơ quan điều tra
121
3.2.3.2.
Đối với Viện kiểm sát nhân dân
126
3.2.3.3.
Đối với Tòa án nhân dân
129
3.3.
Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng
và chống các tội phạm về môi trường
132
3.3.1.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục ý thức
pháp luật về tội phạm môi trường
92
2.3
Thống kê kết quả khởi tố, truy tố, xét xử chương môi
trường năm 2007 - 2008 - 2009 - 06 tháng năm 2010
93
2.4
Thống kê số vụ án và bị cáo phạm các tội về môi trường
trong cả nước mà Toà án đã thụ lý và xét xử từ ngày
01/01/2001 đến ngày 31/7/2010
95 Danh mục các biểu đồ
Số hiệu
biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1
Mức độ tăng, giảm các vụ án, số bị can đối với các tội
phạm về môi trường
93
2.2
Mức độ tăng, giảm các vụ án và bị cáo về các tội phạm
về môi trường
95
1
phạm nghiêm trọng pháp luật về môi trường như: Công ty VEĐAN, MIWON
Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường, Đảng,
Nhà nước và Quốc hội đã đề ra nhiều giải pháp vừa mang tính chiến lược vừa
mang tính cấp bách để bảo vệ môi trường, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói
giảm nghèo ở mỗi quốc gia và cuộc đấu tranh vì hoà bình tiến bộ xã hội trên
phạm vi toàn thế giới.
Bảo vệ môi trường vừa là quyền vừa là nghĩa vụ và là trách nhiệm của cả cá
nhân và tổ chức. Hiến pháp 1992 quy định: "Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà
nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Nghiêm
cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường" [27].
Để cụ thể hoá quy định của Điều 29 Hiến pháp năm 1992, Nhà nước
ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường. Trong số các
biện pháp pháp lý được sử dụng để bảo vệ môi trường có biện pháp hình sự.
Bộ luật Hình sự năm 1999, đã có riêng Chương XVII quy định Các tội phạm
về môi trường. Việc tội phạm hoá những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm
phạm tới môi trường quy định trong Bộ luật này đã tạo ra cơ sở pháp lý cần
thiết cho công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm hại đến lĩnh vực
môi trường. Tuy nhiên, do các hành vi phạm tội thuộc loại tội phạm này ngày
càng đa dạng, phức tạp có sự biến đổi liên tục, việc xử lý về hình sự gặp nhiều
khó khăn, bất cập mà một trong những nguyên nhân chính là do những bất
cập trong cấu thành của các tội phạm về môi trường, thể hiện ở chỗ cấu thành
của nhóm tội gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi phải có đồng thời ba yếu tố mới
xử lý hình sự được: Hành vi thải chất gây ô nhiễm môi trường trước đó đã bị
xử phạt hành chính; người bị xử phạt hành chính cố tình không thực hiện các
biện pháp khắc phục; do không thực hiện biện pháp khắc phục mà gây ra hậu
quả nghiêm trọng. Quy định này đã hạn chế khả năng truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với các tội phạm này, bởi lẽ, việc chờ cho đủ cả ba yếu tố nói trên
là rất khó khăn, nhất là trong việc xác định hậu quả về môi trường. Có nhiều
4
lượng Công an nhân dân nâng cao trách nhiệm và hiệu quả trong công tác
bảo vệ môi trường", của Trung tướng Đặng Văn Hiếu, Ủy viên Trung ương
Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an (6/2007); "Công tác phòng, chống tội phạm về
môi trường trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế" của TS. Đại tá, Nguyễn
Xuân Lý, Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường (7/2007); Đề tài khoa học cÊp
Nhà nước: "Những vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và giải pháp
phòng, chống", do Thiếu tướng, GS.TS. Nguyễn Duy Hùng, Giám đốc Học
viện Cảnh sát nhân dân làm chủ nhiệm (2006); Đề tài Khoa học: "Tội phạm về
môi trường - một số vấn đề lý luận và thực tiễn", do TS. Phạm Văn Lợi, Phó
Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp lµm chñ nhiÖm (2003);
Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), của Khoa luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Tác giả
Đinh Văn Quế, Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự, Phần các tội phạm, Tập
2, Nxb Thành phố Hồ Chi Minh, 2002 Do nhiều nguyên nhân khác nhau nên
các đề tài này mới chỉ đề cập nghiên cứu ở những góc độ khác nhau về tội
phạm môi trường mà chưa nghiên cứu một cách tổng thể. Hơn nữa, vấn đề về
tổ chức, cán bộ theo dõi, phát hiện, đấu tranh và xử lý tội phạm về môi trường
cũng như lý luận các tội phạm về môi trường còn nhiều bất cập; việc phối kết
hợp của các cơ quan bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường còn chưa
chặt chẽ , trong khi đó, tội phạm môi trường diễn biến dưới nhiều hình thức
khác nhau, với những phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích của luận văn trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý
luận và thực tiễn các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam
nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự đối với nhóm tội về môi
trường; từ đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của công tác
đấu tranh phòng, chống các tội phạm về môi trường. Để đạt được mục đích
trên, luận văn đặt ra và giải quyết một số vấn đề như sau:
Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về cải cách
tư pháp, về tội phạm, về đấu tranh phòng, chống các tội phạm nói chung và
các tội phạm về môi trường nói riêng. Đồng thời, dựa trên cơ sở các bài viết,
các đề tài khoa học của các nhà nghiên cứu lý luận về các tội phạm về môi
trường; các phương pháp mà luận văn đã vận dụng như: phân tích, tổng hợp,
đối chiếu, so sánh; chuyên gia; khảo sát thực tế; thống kê hình sự
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống một số vấn đề lý luận và
thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm về môi trường của các
cơ quan bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường. Trên cơ sở khái quát các
quan điểm của Đảng, Nhà nước về đấu tranh phòng, chống các tội phạm về
môi trường; tham khảo chính sách hình sự của một số nước về tội phạm môi
trường, để từ đó làm sáng tỏ những ưu điểm và hạn chế của lý luận cũng như
thực trạng của công tác đấu tranh, xử lý tội phạm trong lĩnh vực môi trường;
giúp cho các cơ quan bảo vệ pháp luật trong lĩnh vực môi trường có thể tham
khảo, vận dụng vào thực tiễn hoạt động điều tra, xử lý nhằm nâng cao hiệu
quả của công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm về môi trường.
6. Điểm mới của luận văn
Đề tài khoa học làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội
phạm môi trường trong luật hình sự Việt Nam. Điểm mới của luận văn gồm:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về các tội phạm môi trường trong
luật hình sự Việt Nam;
- Chỉ ra được những vướng mắc, bất cập của các quy định hiện hành
liên quan đến nhóm các tội phạm về môi trường trong luật hình sự Việt Nam;
7
- Đưa ra được hệ thống các kiến nghị, nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội phạm môi trường;
- Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những người nghiên
cứu, học tập, những người làm công tác thực tiễn liên quan đến lĩnh vực này
của chúng tạo nên khung cảnh, hoàn cảnh xung quanh và các điều kiện mà
cuộc sống của các cá thể và của xã hội như là chúng ta đang tồn tại hoặc như
là chúng ta đang cảm thấy tồn tại.
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì Môi trường là tập hợp tất
cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con
người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí,
nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế. môi trường có thể
định nghĩa như là tổ hợp của các yếu tố khí hậu, sinh thái học, xã hội và thổ
nhưỡng tác động lên cơ thể sống và xác định các hình thức sinh tồn của
9
chúng. Vì thế, môi trường bao gồm tất cả mọi thứ mà có thể có ảnh hưởng
trực tiếp đến sự trao đổi chất hay các hành vi của các cơ thể sống hay các
loài, bao gồm ánh sáng, không khí, nước, đất và các cơ thể sống khác.
Theo khoản 1, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì khái niệm môi
trường được hiểu như sau: Môi trường "bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật
chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con người và sinh vật".
Như vậy, môi trường là toàn bộ những yếu tố tự nhiên và vật chất
nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự
phát triển kinh tế - xã hội và sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật;
môi trường có chức năng rất quan trọng, là cái nôi của con người, là sinh
quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự nhiên và hoạt động của con người, là
nơi sinh sống và phát triển của xã hội loài người. Môi trường là nơi chứa
đựng những tài nguyên thiên nhiên là đối tượng của lao động sản xuất và là
nguồn lực cần thiết cho việc sản xuất ra của cải vật chất của loài người, trong
đó một số có thể tái tạo được, một số khác không thể tái tạo được. Đồng thời,
môi trường là nơi chứa đựng chất thải của quá trình sản xuất và sinh hoạt của
con người.
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
Bộ luật Hình sự không đưa ra khái niệm chung của tội phạm về môi
trường. Phân tích khoa học khái niệm này là khởi điểm cho việc giải quyết về
bản chất tất cả các vấn đề của trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường. Việc hiểu đúng đắn tội phạm về môi trường là cơ sở phương pháp
luận cho quá trình lập pháp đối với loại tội phạm này. Trong trường hợp không
có sự nhận thức đúng đắn về những tội phạm này sẽ không thể xây dựng được
các hình thức chế tài, phạm vi và nhiệm vụ của hoạt động phòng ngừa.
11
Trong các tài liệu nghiên cứu có một số khái niệm tội phạm về môi
trường, song vẫn còn có những điểm chưa hoàn toàn rõ ràng hoặc đầy đủ.
Một số tác giả cho rằng: "Tội phạm về môi trường là hành vi nguy hiểm cho
xã hội, do những người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, xâm hại
đến sự bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội
phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, gây ra những hậu quả
xấu đối với môi trường sinh thái" [24, tr. 320]. Trong khái niệm này có hai
điểm chưa được rõ ràng:
Thứ nhất, khái niệm trên chưa chỉ ra đặc trưng hết sức quan trọng của
tội phạm nói chung, tội phạm về môi trường nói riêng, mà được tất cả các nhà
luật học công nhận: "tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật hình sự". Cũng
chính vì lý do này nên khái niệm trªn chưa hoàn toàn chính xác. Không ai
nghi ngờ "Hành vi nguy hiểm cho xã hội" là đặc trưng chung của các hành vi
vi phạm pháp luật như: vi phạm hành chính, tội phạm, vi phạm kỷ luật v.v ,
vậy khái niệm nêu trên có thể bao gồm cả những hành vi vi phạm pháp luật
hành chính trong lĩnh vực môi trường.
Thứ hai, khái niệm trên có thể gây sự hiểu nhầm giữa đối tượng và
khách thể của tội phạm. Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội và
lợi ích xã hội bị xâm hại và được chỉ ra rất rõ ràng trong ĐiÒu 1 Bộ luật Hình sự
năm 1999: "Chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, quyền bình
đẳng giữa đồng bào các dân tộc, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp
Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (Điều 186), Tội vi phạm các
quy định về bảo vệ động thuộc danh mục loài nguy cấp, quý hiếm, được ưu
tiên bảo vệ (Điều 190).).
- Ngoài ra, khái niệm kể trên chưa chỉ rõ khách thể bị xâm hại. Có thể
nói rằng, một trong những đặc trưng cơ bản nhất của tội phạm cụ thể chính là
khách thể giúp phân biệt với các tội phạm khác. Ngay khái niệm chung về tội
phạm tại ĐiÒu 8 Bộ luật Hình sự Việt Nam cũng liệt kê những khách thể mà
13
tội phạm theo luật hình sự Việt Nam xâm hại đến. Trong quá trình xây dựng
khái niệm một loại tội phạm cụ thể, để đặc trưng loại tội phạm này, đồng thời
xác định giới hạn, cần chỉ rõ khách thể chính.
Việc xây dựng khái niệm tội phạm về môi trường phức tạp còn do cấu
trúc của chế định pháp luật hình sự về bảo vệ môi trường không trùng khớp
với hình thức biểu hiện trong Bộ luật Hình sự. Hệ thống các tội phạm về môi
trường theo nghĩa thuần tuý trong Bộ luật Hình sự không hề tồn tại. Nhận
định này được minh chứng bằng việc những tội phạm khác, tuy không nằm
trong chương tội phạm về môi trường, nhưng một phần cũng hướng tới việc
sử dụng hợp lý và bảo vệ môi trường. Ví dụ như: Tội vi phạm các quy định về
nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (ĐiÒu 172), Tội vi phạm các quy
định về sử dụng đất đai (ĐiÒu 173), Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai
(ĐiÒu 174), Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (ĐiÒu
175), Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng (ĐiÒu 176), được đưa vào
Chương XVI "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế". Tuy nhiên, việc sắp
xếp như nêu trên trong Bộ luật Hình sự về cơ bản cũng hợp lý vì khách thể
chính của các tội phạm (từ ĐiÒu 172 đến ĐiÒu 176) là các quan hệ trong lĩnh
vực quản lý kinh tế của Nhà nước.
Trên cơ sở phân tích ở trên, chúng tôi cũng mạnh dạn đưa quan điểm
đối với khái niệm tội phạm về môi trường như sau: Tội phạm về môi trường là
những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự
hoại môi trường [27].
Trên cơ sở quy định hiến định đó, Nhà nước ta đã ban hành nhiều loại
văn bản quy phạm pháp luật khác nhau để ngăn chặn, phòng chống, xử lý triệt
để các hành vi xâm hại đến môi trường. Trong số các biện pháp pháp lý được
sử dụng để bảo vệ môi trường có biện pháp pháp lý hình sự. Trong Bộ luật
15
Hình sự năm 1999 của nước ta, lần đầu tiên nhà lập pháp nước ta đã xây dựng
một chương riêng - Chương XVII: Các tội phạm về môi trường. Điều đó thể
hiện sự phát triển của tư duy pháp lý hình sự trong việc phòng chống các hành
vi nguy hiểm xâm phạm môi trường ở nước ta.
Trong thời đại ngày nay, do sự phát triển như vũ bão của cách mạng
khoa học và công nghệ và sự tác động tiêu cực của nó đến chất lượng của môi
trường, ở nước ta cũng như ở các nước trên thế giới đã và đang đặt ra vấn đề
về khả năng và giới hạn của việc bảo vệ môi trường bằng các biện pháp pháp
lý hình sự. Vấn đề đó đã trở thành các chủ đề được thảo luận ở các hội nghị
khoa học quốc tế. Ở nước ta, trong quá trình soạn thảo Bộ luật Hình sự năm
1999, cũng như Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1999 việc
quy định các tội phạm về môi trường cũng là một chủ đề gây tranh luận rất
nhiều trên nhiều phương diện. Song nhìn chung có thể khẳng định rằng, các
biện pháp pháp lý hình sự ngày càng được sử dụng nhiều hơn để bảo vệ môi
trường và điều đó nói lên vai trò to lớn của pháp luật hình sự trong việc bảo
vệ môi trường.
Thø hai, việc bảo vệ môi trường bằng các biện pháp pháp lý hình sự
chính là việc tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm môi
trường. Phạm vi của việc bảo vệ môi trường bằng các biện pháp pháp lý hình
sự và hiệu quả của việc bảo vệ đó ở một mức độ rất lớn tuỳ thuộc vào việc tội
phạm hoá các hành vi nguy hiểm xâm phạm lĩnh vực nói trên. Do vậy, cần
phải xem xét một cách kỹ lưỡng, đầy đủ các nhân tố quyết định mức độ, tính
chất và các phương thức của việc tội phạm hoá các hành vi nguy hiểm cho xã
các mâu thuẫn đó đang còn tồn tại thì cuộc đấu tranh với các hành vi nguy
hiểm cho xã hội xâm hại môi trường cần phải được tiến hành bằng cả các biện
pháp pháp lý hình sự.
17
Thứ ba, vic ti phm hoỏ cỏc hnh vi nguy him cho xó hi xõm
phm mụi trng c xỏc nh bi c nhng nhõn t ũi hi chớnh tr thuc
c chớnh sỏch i ni ln chớnh sỏch i ngoi ca Nh nc ta.
Xột v chớnh sỏch i ni, phỏp lut hỡnh s c coi nh l mt trong
nhng bin phỏp thc hin chc nng bo v mụi trng vi t cỏch l mt
trong nhng chc nng c lp ca Nh nc ta. Trong quan h chớnh tr, vic
khng nh v cao chc nng ú th hin trỏch nhim ca Nh nc trc
nhõn dõn v vic bo m s bỡnh yờn v sinh thỏi cho cuc sng ca cỏc th
h hin nay v mai sau. Vic tha nhn quyn c sng trong mụi trng
trong lnh ca cụng dõn gn rt cht vi vic tn ti v thc hin chc nng
ú. Nh vy, vic bo v mụi trng trong lnh ca cụng dõn gn rt cht vi
vic tn ti v thc hin chc nng ú. Do ú, vic bo v mụi trng bng
phỏp lut hỡnh s khụng ch l phng tin thc hin chin lc, chng
trỡnh, chớnh sỏch bo v mụi trng quc gia m cũn l mt trong nhng m
bo cho vic thc hin quyn sng trong mụi trng trong lnh ca cụng dõn.
V chớnh iu ny lm c s cho cỏc nh lm lut nc ta ti phm hoỏ cỏc
hnh vi nguy him cho xó hi xõm phm n mụi trng.
Xột v quan h i ngoi, phỏp lut hỡnh s nc ta l phng tin
thc hin cỏc bin phỏp bo v mụi trng c quy nh trong cỏc cụng c
v vn bn quc t khỏc m Vit Nam tham gia. Cỏc cụng c quc t ú
buc cỏc quc gia ký kt, trong ú cú nc ta, quy nh v ỏp dng cỏc bin
phỏp trỏch nhim hỡnh s i vi cỏc hnh vi nguy him cho xó hi xõm
phm mụi trng. Cú mt s cụng c v vn bn quc t quy nh trỏch
nhim hỡnh s i vi cỏc hnh vi xõm phm mụi trng nht nh. Theo cỏc
cụng c v cỏc vn bn quc t ú trong B lut Hỡnh s nm 1985 trc
pháp đó bao gồm:
19
1. Các biện pháp mang tính chính trị, bao gồm cơ bản là việc xác định
các phương hướng cơ bản của chiến lược bảo vệ môi trường; 2. Các biện pháp
mang tính kinh tế, bao gồm việc tạo ra các đòn bẩy và kích thích về mặt kinh
tế cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, cũng như quy định các chế
tài kinh tế đối với việc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
đó; 3. Các biện pháp mang tính kỹ thuật, bao gồm việc soạn thảo và thực hiện
các biện pháp kỹ thuật và công nghệ để bảo vệ môi trường; 4. Các biện pháp
mang tính tổ chức; bao gồm việc xây dựng hệ thống các cơ quan quản lý việc
bảo vệ môi trường, trong đó có hệ thống các cơ quan thanh tra môi trường.
5. Các biện pháp mang tính pháp lý, bao gồm việc xây dựng và ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường; 6. Các biện pháp mang tính giáo dục, bao gồm việc
giáo dục môi trường và giáo dục cho mọi tầng lớp dân cư về pháp luật môi
trường từ trẻ em cho đến các nhà doanh nghiệp.
Hệ thống các biện pháp đó tạo ra cơ sở rất tốt cho việc phòng ngừa
các hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm môi trường và tạo ra "cái nền’ cần
thiết cho việc tội phạm hoá một cách có căn cứ những hành vi nguy hiểm nhất
cho xã hội trong số những hành vi xâm phạm môi trường. Đồng thời, các vi
phạm trong các yếu tố này hay các yếu tố khác của hệ thống đó đều có thể
làm giảm một cách cơ bản hiệu quả của các biện pháp pháp lý hình sự trong
đấu tranh với các hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm môi trường. Ở đây
cần phải nhận thức rằng tính nhất quán không đầy đủ và tính thoả hiệp,
nhượng bộ của việc tuân thủ các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực sử dụng
tài nguyên thiên nhiên của cơ chế kinh tế điều chỉnh hoạt động bảo vệ môi
trường, do sự thiếu vắng một hệ thống các kích thích và chế tài kinh tế được
lập luận đầy đủ nhằm bảo đảm cho việc tuân thủ các quy phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường.