1
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về
tuổi chịu trách nhiệm hình sự
theo Luật Hình sự Việt Nam
Theoretical and practical issues of ages bearing criminal responsibility in Vietnam Criminal Law
NXB H. : Khoa Luật, 2012 Số trang 111 tr. +
Trần Thị Hoàng Lan
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Hình sự; Mã số: 60 38 40
Người hướng dẫn: GS.TS. Võ Khánh Vinh
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Phân tích các quy định của BLHS năm 1999 về chế định tuổi chịu TNHS trong
sự so sánh với quy định của một số nước trên thế giới, sự ảnh hưởng của lịch sử có dựa
trên các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và đặc điểm tâm-sinh lý của con người trong
từng thời kỳ để từ đó đưa ra một số nhận xét có giá trị tham khảo cho các nhà làm luật Việt
Nam. Đánh giá thực tiễn áp dụng chế định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự (TNHS), những
bất cập, vướng mắc và phân tích chúng trên cơ sở lý luận và thực tiễn. Đưa ra giải pháp
khắc phục và kiến giải nhằm hoàn thiện chế định tuổi chịu TNHS trong pháp luật hình sự
Việt Nam trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay và những dự báo trong tương lai.
Keywords: Luật hình sự; Trách nhiệm hình sự; Pháp luật Việt Nam; Tội phạm chưa thành
niên
Content
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Theo các kết quả nghiên cứu và thống kê mới của tội phạm học cho thấy rằng: tình hình tội
phạm ở nước ta trong những năm gần đây có gia tăng về số lượng, số vụ với tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội cao, cũng như sự xuất hiện nhiều loại tội phạm mới trong điều kiện nền
phạm pháp luật, chiếm đến 70% tội phạm vị thành niên và năm 2007, 2008 thì trung bình cũng
chiếm hơn 8.100 vụ vi phạm pháp luật. Con số này là một lời cảnh báo về tình trạng trẻ em nhỏ
tuổi phạm tội. Ngoài ra, một vấn đề cũng đáng lo ngại là cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội của
đất nước, thời gian gần đây (hầu hết là ở những thành phố lớn, nơi đô thị có điều kiện kinh tế xã
hội phát triển) đã nổi lên tình trạng một số thanh niên, học sinh, sinh viên, độ tuổi từ 14 đến 18, tụ
tập ăn chơi thác loạn hoặc hình thành các băng nhóm tội phạm có tổ chức, tổ chức các vụ đánh
nhau, cướp giật, giết người, sử dụng ma tuý hết sức nghiêm trọng, gây xôn xao dư luận mà các
phương tiện thông tin đại chúng đã thường xuyên đăng tải.
Những con số trên cho thấy tội phạm chưa thành niên diễn biến khá phức tạp, có nhiều
hướng gia tăng và ngày càng nguy hiểm. Đặc biệt, cũng cần chú ý đến hiện tượng phạm tội ở
những người cao tuổi đang tăng dần. Nguyên nhân của những hiện tượng nêu trên bắt nguồn từ
tính chất và đặc biệt của sự phát triển kinh tế - xã hội và theo đó là các điều kiện tương ứng văn
hóa, giáo dục, đạo đức, lối sống. Bên cạnh đó, Việt nam cũng là một nước đang phát triển. Do đó,
ngoài tiếp thu những tiến bộ khoa học kỹ thuật, văn hóa tinh hoa nhân loại nhiều chiều với nhiều
màu sắc, mở rộng giao lưu với các nền văn minh thế giới trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa,
bên cạnh đó là sự tồn tại của nền văn hóa truyền thống với nhiều tư tưởng, tập quán đậm đà bản
sắc dân tộc những cũng không thiếu những hủ tục phong kiến, lạc hậu. Với sự thay đổi diễn ra
trong các quy chuẩn lối sống, đạo đức, giá trị trực tiếp tác động đến cơ chế hành vi, tạo ra tình thế
khi mà trong cùng một môi trường nhưng đa số thì tuân theo pháp luật, nhưng một số người đã vi
phạm pháp luật và phạm tội. Cộng hưởng với các vấn đề này còn là sự thiếu ý thức của con người,
một số yếu kém trong giáo dục, đào tạo, sự đua đòi theo nếp sống phương Tây không lành mạnh,
3
sự sa sút đạo đức con người, sự thiếu vắng tình cảm gia đình, con người chạy theo sức hút đồng tiền
và đặc biệt là hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, không đủ sức mạnh để hướng con người theo những
chuẩn mực và giá trị chung.
Vấn đề trẻ hóa độ tuổi phạm tội cũng như hiện tượng phạm tội ở những người cao tuổi đặt
ra cho nhiều ngành khoa học (tâm lý - xã hội học, luật tố tụng hình sự… ) đặc biệt là luật hình sự
nên chăng có sự điều chỉnh về độ tuổi chịu TNHS khi độ tuổi của những người thực hiện hành vi
phạm tội ngày càng thấp hoặc là quá cao so với trước đây. Hơn nữa, thực tiễn áp dụng Bộ luật hình
nghiên cứu về người chưa thành niên phạm tội. Các nghiên cứu khoa học khác cũng rất ít đề cập
đến việc nghiên cứu về tuổi hay cách xác định tuổi của con người trong mối quan hệ với TNHS.
Tuy nhiên, cũng có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: 1) Sách chuyên khảo
Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung) của GS.TSKH. Lê
Văn Cảm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; 2)Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi và
bổ sung) của GS.TS. Võ Khánh Vinh, NXB Công an nhân dân; 3) Bình luận khoa học Bộ luật
hình sự 1999 – Phần chung, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 của ThS. Đinh Văn Quế; 4) Tội
phạm và cấu thành tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2006 của GS.TS. Nguyễn Ngọc
Hòa; 5) Luận văn thạc sĩ luật học “Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam” của tác giả
Lê Đăng Doanh, Trường đại học Luật Hà Nội, 1999…
Ngoài ra, còn rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí có liên quan đến tuổi chịu TNHS, ví
dụ như: Nhân thân người phạm tội với việc quyết định hình phạt của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Thuỷ; bài về Xác định tuổi của người chưa thành niên như thế nào cho đúng? của tác giả Lưu
Đình Nghĩa; Nhân thân người phạm tội - Một số vấn đề lý luận cơ bản của TSKH. PGS. Lê Cảm;
Tiếp tục hoàn thiện những quy định của BLHS trước yêu cầu mới của đất nước của tác giả Trịnh
Tiến Việt… đã được đăng trên Tạp chí Toà án nhân dân và Tạp chí Kiểm sát.
3. Nhiệm vụ của luận văn
Tuổi chịu TNHS là một trong những dấu hiệu quan trọng thuộc chủ thể của tội phạm của
cấu thành tội phạm và là đặc điểm thiết yếu thuộc về nhân thân người phạm tội. Nghiên cứu tuổi
chịu TNHS có ý nghĩa to lớn trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, dựa trên đặc điểm về
tâm lý độ tuổi.
Tuổi của người phạm tội là dấu hiệu cho phép xác định tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm, ảnh hưởng của độ tuổi đến việc thực hiện tội phạm, mà nó còn là dấu hiệu
mang tính chất pháp lý có ý nghĩa quan trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội. Tuổi
chịu TNHS là vấn đề vô cùng quan trọng khi người phạm tội là người chưa thành niên, nó liên
quan đến vấn đề có TNHS hay không. Vì vậy, khi nghiên cứu về chế định này, cần phải giải quyết
được một số vấn đề sau:
1) Phân tích các quy định của BLHS năm 1999 về chế định tuổi chịu TNHS trong sự so
sánh với quy định của một số nước trên thế giới, sự ảnh hưởng của lịch sử có dựa trên các điều
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương
chính với nội dung:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong hoạt động áp
dụng pháp luật hình sự ở Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện chế định tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong pháp luật
hình sự Việt Nam.
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và các đặc điểm cơ bản của tuổi chịu TNHS
1.1.1. Khái niệm tuổi chịu TNHS
Theo Đại từ điển Tiếng Việt – NXB Văn hóa thông tin năm 1998 tr.1750 thì tuổi là: “Năm,
dùng làm đơn vị tính thời gian sống của người, là khoảng thời gian từ khi sinh ra đến thời điểm
xác định nào đó”.
6
Trách nhiệm hình sự là “trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí
bất lợi về hành vi phạm tội của mình”
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là yếu tố không thể thiếu trong quá trình xem xét truy cứu
trách nhiệm hình sự đối với một người.
Trên cơ sở phân tích về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như trên, có thể rút ra định nghĩa về
tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được luật hình sự
quy định nhằm xác định khi một người phát triển đến độ tuổi đó mới có thể phải chịu trách nhiệm
hình sự hoặc loại trách nhiệm, mức trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do mình gây ra
1.1.2. Các đặc điểm cơ bản của tuổi chịu TNHS
1.1.2.1. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự do luật hình sự quy định
Mỗi ngành luật có cách xác định khác nhau về dộ tuổi. Chính vì vậy, về nguyên tắc, khi xác
ra một số thời kỳ chủ yếu trong sự phát triển tâm sinh lý của con người.
Mỗi thời kì có một vị trí, vai trò nhất định trong quá trình chuyển từ đứa trẻ mới sinh sang
một nhân cách trưởng thành. Một thời kì phát triển có nét tâm sinh lý đặc trưng của mình, mà đứa
trẻ phải trải qua. Sự chuyển từ thời kì này sang thời kì khác bao giờ cũng gắng với sự xuất hiện
những cấu tạo tâm sinh lý mới về chất.
Đến 18 tuổi thì các bộ phận và các hệ của con người cơ bản đã phát triển hoàn chính, con
người phát triển bình thường có thể hoàn toàn tự chủ trong việc thực hiện hành vi của mình cả về
lý trí, ý chí lẫn xử sự trên thực tế.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm là cơ sở thực tiễn để xác định và quy định độ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự.
Ở nước ta, trong các giai đoạn phát triển khác nhau, cũng xuất phát từ chính sách hình sự và
xác định khách thể bảo vệ khác nhau mà tuội chịu trách nhiệm hình sự cũng khác nhau.
Trong giai đoạn hiện nay, từ thực tiễn đấu tranh đối với những hành vi xâm phạm khác thể
bảo vệ luật hình sự cho thấy, người từ dưới 14 tuổi thực hiện hành vi xâm phạm vào quan hệ xã
hội được luật hình sự bảo vệ là rất ít. Từ thực tiễn đó cho nên luật hình sự Việt Nam hiện hành xác
định người dưới 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về bất kỳ hành vi nguy hiểm nào do
họ gây ra.
Lứa tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi là lứa tuổi đã hình thành cơ bàn về nhân cách, các xử sự
của họ đã thể hiện tính độc lập cao hơn rất nhiều so với lứa tuổi dưới 14. Vì vậy, trách nhiệm hình
sự đối với lứa tuổi này cũng chỉ được xác định trong những trường hợp nhất định.
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cũng cho thấy những người từ 16 tuổi trở lên là
lứa tuổi phổ biến nhất thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm và các quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ. Vì vậy pháp lật hình sự nước ta mới xác định từ lứa tuổi này trở lên họ
phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm do họ gây ra.
Tóm lại để xác định các vấn đề liên quan đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luạt hình
sự, các nhà làm luật cần phải căn cứ vào cả hai yếu tố là cơ sở tâm sinh lý học và cơ sở thực tiễn
công tác đấu tranh phòng chống tội phạm
1.2.3. Mối quan hệ giữa tuổi chịu TNHS với năng lực TNHS và với chủ thể của tội phạm
Năng lực trách nhiệm hình sự là điều kiện cần thiết để có thể xác định con người có lỗi khi
lý Đàng trong, Đàng ngoài và thống nhất đất nước bằng cuộc khởi nghĩa Tây Sơn do ba anh em
nhà Nguyễn lập lên triều đại Tây Sơn của Hoàng đế Quang Trung - Nguyễn Huệ. Thời kỳ này, về
cơ bản Bộ Luật Hồng Đức vẫn được sử dụng nhất là phần hình sự, có bổ sung một số lĩnh vực
kinh tế, tài chính
Trong thời gian thế kỷ XIX, Nhà Nguyễn ánh trị vì đất nước, việc xây dựng pháp luật được
quan tâm đặc biệt. Năm 1815, Bộ Hoàng Triều Luật lệ (thường được gọi là Bộ Luật Gia Long)
được xây dựng trên cơ sở Bộ Luật Hồng Đức và Luật lệ Đại Thanh (Trung Quốc). Trong Hoàng
Triều Luật lệ, phần hình sự được cấu tạo tương tự như Bộ Luật Hồng Đức. Nhưng diện trừng trị
của Hoàng Triều Luật lệ mở rộng hơn, đặc biệt là nguyên tắc tập thể chịu hình phạt được áp dụng
đối với tội quan trọng xâm phạm vào lợi ích Nhà nước, lợi ích của nhà vua.
Trong suốt thời gian từ 1858 đến 1945 thực dân Pháp đã thiết lập chính quyền thuộc địa ở
Việt Nam. Đây là thời kỳ, ở nước ta cùng lúc sử dụng hai loại Luật hình. Luật hình sự của Pháp áp
dụng cho người Pháp và người nước ngoài phạm tội ở Việt nam. Luật hình sự của Nhà Nguyễn áp
dụng cho người bản xứ.
9
1.3.2. Thời kỳ từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến trước pháp điển hóa lần thứ
nhất - BLHS năm 1985
Sự hình thành và phát triển các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam về độ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự gắn liền với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung
từ ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1945).
Trong những ngày đầu mới thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 47/SL ngày
10/10/1945 cho phép áp dụng một số văn bản pháp luật của đế quốc phong kiến, với điều kiện
không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa. Do ba vùng Bắc,
Trung, Nam áp dụng ba Bộ luật hình sự khác nhau cho nên việc xử lý tội phạm ở ba vùng cũng
không thống nhất. Điều này là không phù hợp với chính thể cộng hòa, chính vì vậy việc ban hành
các văn bản pháp luật là một đòi hỏi khách quan. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa dã ban
hành nhiều văn bản pháp luật tay thế, trong đó có nhiều văn bản quy định liên quan đến tuổi chịu
2- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.”
Thống nhất cách tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự được hướng dẫn chi tiết tại nội dung A,
mục IX trong Nghị quyết 02/HĐTP ngày 05-01-1986 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao
hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự.
1.4. Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tuổi chịu trách
nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng
1.4.1. Những quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Phần chung BLHS năm 1999
Tiếp tục kế thừa, hoàn thiện và bổ sung những quy định trong BLHS 1985 kết hợp với thực
tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, theo đó tại Điều 12 BLHS 1999 quy định tuổi chịu
trách nhiệm hình sự như sau:
“1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
Sau khi BLHS 1999 được ban hành trước khi chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể vẫn áp dụng
cách tính tuổi chịu trách nhiệm hình sự được hướng dẫn chi tiết tại nội dung A, mục IX trong
Nghị quyết 02/HĐTP ngày 05-01-1986 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp
dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự như đã trình bày ở phần trên.
Ngoài quy định tại Điều 12, trong phần chung BLHS 1999 còn chứa đựng những quy định
khác bao hàm nội dung tuổi chịu trách nhiệm hình sự, cụ thể về đường lối xử lý người chưa thành
niên phạm tội được quy định tại chương X của BLHS 1999.
Như vậy có thể phần chung của BLHS 1999 đã quy định cụ thể tuổi chịu trách nhiệm hình
sự, đồng thời quy định những vấn đề liên quan đến giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
1.4.2. Những quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Phần các tội phạm BLHS
năm 1999
Phần tội phạm cụ thể trong BLHS 1999 bao gồm 276 điều luật với 272 điều luật quy định về các
tội phạm và 4 điều luật khác (Điều 92, Điều 277, Điều 292, Điều 315). Phần lớn các điều luật đều
không quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự cụ thể, tức là chỉ cần đạt độ tuổi theo theo quy định tại
phần chung, cụ thể tại điều 12: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm và người từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố
hiểm cho xã hội xâm phạm các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng hành vi của họ
không bị coi là tội phạm vì họ chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Xét về cơ cấu thì chúng ta phải đánh giá tình trạng của tất cả những người từ dưới 14 tuổi
thực hiện hành vi phạm phạm tội và nhưng người từ 14 đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi
phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý. Do không có số liệu
thống kê của các cơ quan chức năng nên không thể đánh giá hết mà tác giả chỉ có thể phân tích
thông qua số liệu các đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã,
phường thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng do chưa đủ tuổi chịu TNHS. Nghiên cứu cho thấy,
sự trẻ hóa của hành vi phạm tội đã làm cho Nhà nước và cả xã hội quan tâm.
2.2. Thực trạng áp dụng các quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong thời gian qua
2.2.1. Về cách tính tuổi
Nhìn chung, từ khi luật hình sự được pháp điển hóa thành bộ luật đến nay, cách tính tuổi
đã có sự thống nhất theo quy định của Bộ luật hình sự. Nghiên cứu quá trình áp dụng pháp
luật hình sự từ năm 2006 đến nay cho thấy, các cơ qua tiến hành tố tụng hình sự, người tiến
hành tố tụng đã nhận thức rõ về các quy định tuổi trong Bộ luật hình sự, các quy định về độ
13
tuổi đã được thi hành cơ bản đúng yêu cầu. Tuy nhiên vẫn có những sai lầm nhất định. Mặc dù
không còn phổ biến, nhưng cách tính tuổi để xác định trách nhiệm hình sự vẫn còn những trường
hợp chưa thực hiện đúng quy định của BLHS và chưa đúng tinh thần có lợi cho đương sự.
2.2.2. Về thời điểm tính tuổi
Về nguyên tắc, xác định năng lực của chủ thể là xác định vào thời điểm thực hiện hành vi. Tuy
nhiên, xung quanh vấn đề này, trong thực tiễn xuất hiện các tình huống dẫn đến có các quan điểm
khác nhau khi xác định độ tuổi. Điều này đỏi hỏi phải có quan điểm thống nhất về vấn đề này.
2.2.3. Căn cứ xác định tuổi
Nghiên cứu cách tính tuổi của người phạm tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cho
thấy, hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất trong việc lấy căn cứ nào, ưu tiên căn cứ nào để xác định
tuổi. Hơn nữa thực tiễn xã hội Việt Nam cũng gây khó khăn không ít cho việc xác định tuổi trong
quá trình giải quyết các vụ án hình sự.
2.3. Đánh giá việc áp dụng các quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong thời gian qua
một hiệu ứng tiêu cực trong xã hội đối với lứa tuổi này.
Bên cạnh đó, một bộ phận trong xã hội vẫn cho rằng việc người chưa thành niên phạm
tội vẫn là cá biệt, đặc biệt là lứa tuổi từ 14 đến dưới 15, thậm chí là dưới 16 vẫn chưa hoàn
chỉnh về phát triển nhân cách, tâm sinh lý và trình độ hiểu biết xã hội, cho nên cần có các biện
pháp để giáo dục họ mà không năng về trừng phạt như hiện nay.
CHƢƠNG 3
NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH TUỔI
CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
3.1. Dự báo tình hình có liên quan đến vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình sự
3.1.1. Xu hướng độ tuổi của những người thực hiện hành xâm phạm vào các quan
hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ trong thời gian tới
“Tội phạm được trẻ hóa” – đó là vấn đề được các phương tiện thông tin đại chúng đề
cập đến rất nhiều.
3.1.2. Xu hướng xác định tuổi chịu trách nhiệm hình sự của các nước trên thế giới.
Nhìn chung, trên thế giới đang có sự xung đột giữa vấn đề nhân quyền và vấn để đảm
bảo thực tiễn trật tự xã hội, nên vẫn đang có hai xu hướng là tăng tuổi chịu trách nhiệm hình
sự và giảm tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
3.1.3. Các yếu tố khác tác động đến vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Bên cạnh những yếu tố tác động đến nội dung của chế định tuổi chịu trách nhiệm hình
sự trong thời gian tới, một số yếu tố khác tác động đến luật hình thức trong vấn đề xác định
độ tuổi các yếu tố này bao gồm:
- Tình trạng một bộ phận dân cư không đăng ký hộ tịch, hộ khẩu, không làm chứng
minh nhân dân vẫn còn phổ biến; Người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam ngày càng
tăng; Vẫn còn tồn tại một bộ phận các bộ công chức còn non kém về nghiệp vụ hoặc bị thoái
hóa sẽ làm sai lệch các thông tin tuổi của đương sự; khoa học công nghệ tiếp tục phát triển, là
điều kiện thuận lợi cho việc xác định chính xác độ tuổi.
3.2. Các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện những quy định của PLHS Việt Nam hiện
hành về tuổi chịu TNHS
3.2.1. Sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam năm 1999
Những vấn đề trước mắt cần tiến hành để giải quyết những vấn đề của thực tiễn
hiện nay
-
Ban hành văn bản quy định cụ thể giá trị pháp lý của các loại giấy tờ được sử dụng để xác
định tuổi.
-
Sửa đổi quy định hiện hành về xác định tuổi của đương sự trong trường hợp không có căn
cứ cụ thể để xác định
- Xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp mã số cá nhân cho mỗi công dân
3.2.3.
Nâng cao trình độ các bộ công chức làm công tác đăng ký quản lý hộ tịch, hộ
khẩu và người tiến hành tố tụng
3.2.2.1. Nâng cao chất lượng bộ tư pháp- hộ tịch
Tác giả kiến nghị cần xây dựng và chuẩn hóa chức danh Hộ tịch viên cho các cán bộ làm công
tác hộ tịch từ cấp xã trở lên.
3.2.2.2. Đào tạo bồi dưỡng và tăng cường đội ngũ người tiến hành tố tụng đủ năng lực trình độ
và chuyên mộn nghiệp vụ thực hiện chức năng giải quyết các vụ án hình sự. 16
Bên cạnh tạo cơ sở pháp lý vững chắc, cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ những người
trực tiếp áp dụng pháp luật trong truy cứu trách nhiệm hình sự để họ nhận thức đúng đắn, và nắm
chắc trình tự thủ tục và những yêu cầu cần phải làm sáng tổ để chứng minh độ tuổi của các đương sự
trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự.
yếu tố khác tác động đến vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó, luận văn đưa
ra các kiến nghị đề xuất liên quan đế tuổi chịu trách nhiệm hình sự bao gồm : sửa đổi bộ
luật hình sự hiện hành để đảm bảo tính đồng bộ thống nhất, phù hợp với thực tiến cuộc
17
sống ; sửa đổi một số quy định khác trong các văn bản hướng dẫn về luật hình sự, luật tố
tụng hình sự liên quan đến vấn đề tuổi chịu trách nhiệm hình sự ; Nâng cao trình độ của cán
bộ hộ tịch, hộ khẩu và người tiến hành tố tụng là những người góp phần hình thành nên các
thông tin làm căn cứ xác định tuổi và những người có trách nhiệm khai thác thông tin để
chứng minh tuổi mọt con người cụ thể.
Với kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả hy vọng sẽ góp phần tích cực vào hoàn
thiện hệ thống lý luận về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, góp phần hoàn thiện các quy định
của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự trong thờì gian tới./.
References
1. Báo An ninh thủ đô số cuối tuần Chủ nhật ngày 29/4/2007 (số 128).
2. Ban chỉ đạo thi hành Bộ luật hình sự; Tài liệu Tập huấn chuyên sâu về Bộ luật hình sự
năm 1999; Nhà in Bộ Công an, Hà Nội, 2000.
3. Bộ luật hình sự của chính quyền Nguỵ Sài Gòn; NXB Thần Chung, Sài Gòn, năm 1973.
4. Bộ luật hình sự Liên bang Nga; Tạp chí Dân chủ và pháp luật, 1998.
5. Bộ luật hình sự Nhật Bản (bản dịch tiếng Việt); người dịch Hatsukano; nguồn: Ban soạn
thảo Bộ luật hình sự năm 1999.
6. Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; NXB Tư pháp, 2005.
7. Bộ luật Hồng Đức di sản văn hóa pháp lý đặc sắc của Việt Nam; NXB Tư pháp.
8. Lê Văn Cảm (2000); Các đặc điểm của tội phạm & tính quyết định xã hội của chúng - Tạp
chí Dân chủ và pháp luật, số 7/2000.
9. Lê Văn Cảm (2000); Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự (Tập III);
NXB Công an nhân dân, H. 2000.
10. Lê Văn Cảm (2001); Nhân thân người tội phạm; Một số vấn đề lý luận cơ bản. Tạp chí
Tòa án nhân dân; số 10/2001.
25. Lưu Đình Nghĩa (2000); Xác định tuổi của người chưa thành niên như thế nào cho đúng?;
Tạp chí Toà án nhân dân, số 1/2000.
26. Đinh Văn Quế (2000) Bình luật khoa học BLHS năm 1999 - Phần chung; NXB Tp. Hồ
Chí Minh, năm 2000.
27. Quốc Hội (1985); Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1985.
28. Quốc hội (1992); Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992; NXB
Chính trị quốc gia, H. 1998.
29. Quốc hội(1999); Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999.
30. Quốc hội(1999); Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21/1/1999 của Quốc hội nước Cộng
hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc thi hành Bộ luật hình sự.
31. Quốc hội(2003); Bộ luật tố tụng hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 2003; NXB Chính trị quốc gia, H. 2004.
32. Quốc hội(2004); Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam năm 2004; NXB Chính trị
quốc gia, H.2005.
33. Tạp chí Dân chủ pháp luật năm 2000 – 2009.
34. Tạp chí Dân chủ và pháp luật; Số chuyên đề về luật hình sự các nước trên thế giới; tháng
3/1998.
35. Tạp chí Tòa án nhân dân 2000 – 2009.
36. Đặng Thị Thanh (2000); Trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội và
nguyên tắc xử lý của Bộ luật hình sự năm 1999; Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2000.
19
37. Thông tư liên ngành số 05/TTLN ngày 26/12/1986 của TANDTC-VKSNDTC-BNV
hướng dẫn về việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt và chấm dứt thời hạn
chấp hành hình phạt tù.
38. Kiều Đình Thụ (1996); Tìm hiểu luật hình sự Việt Nam; NXB TP. Hồ Chí Minh, 1996;
NXB Đồng Nai, 1998.
39. Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2005); Nhân thân người phạm tội với việc quyết định trách
nhiệm hình sự; Tạp chí Toà án nhân dân, số 8/2005
20
56. Võ Khánh Vinh; Tìm hiểu trách hình sự đối với các tội phạm về chức vụ; NXB Chính trị
quốc gia 1996.
57. Võ Khánh Vinh; giáo dục quyền con người – Những vấn đề lý luận và thực tiễn; NXB
Khoa học Xã hội 2010.
58. Võ Khánh Vinh; Quyền con người, tiếp cận đa ngành và liên ngành KHXH; NXB Khoa
học Xã hội 2010.
59. Võ Khánh Vinh; Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực
tiễn; NXB Tư pháp 2006.