[ Bản Full ] Các tội xâm phạm tính mạng của con người trong Quốc triều hình luật và sự kế thừa trong Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành - Pdf 29


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT VŨ GIA HÂN
CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI
TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ SỰ KẾ THỪA
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2014

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Gia Hân
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1:CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI TRONG
QUỐC TRIỀU HÌNH…… 6
1.1. Giới thiệu khái quát về Quốc triều hình luật 6
1.1.1. Sự ra đời, hình thành và phát triển của Quốc triều hình luật 6
1.1.2. Bố cục và nội dung cơ bản của Quốc triều hình luật 12
1.2.Các tội xâm phạm tính mạng của con người trong Quốc triều hình luật 16.
1.3. Các giá trị lập pháp của các tội xâm phạm tính mạng của con người
trong Quốc triều hình luật 19
1.3.1. Khách thể của tội phạm 19
1.3.2. Mặt khách quan của tội phạm 19
1.3.3. Mặt chủ quan của tội phạm 22
1.3.4. Chủ thể của tội phạm 26
1.3.5. Hình phạt và quyết định hình phạt 27
1.3.6. Các quy định khác liên quan đến chính sách hình sự 32
Chương 2:CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG CỦA CON NGƯỜI TRONG

3.1.1. Những hạn chế về kỹ thuật lập pháp 74
3.1.2. Những ưu điểm cần được kế thừa 76
3.3. Những vấn đề đặt ra để hoàn thiện Bộ luật hình sự hiện hành trong các
tội xâm phạm tính mạng của con người 79
3.3.1. Những bất cập trong các quy định của BLHS hiện hành 79
3.3.2. Những đề xuất hoàn thiện BLHS hiện hành 83
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 88
PHỤ LỤC 91

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : BỘ LUẬT HÌNH SỰ
TANDTC : TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TNHS : TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan điểm đường lối xây dựng đất nước của Đảng ta là xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Một trong nội dung này là vấn đề xây
dựng nền văn hóa pháp lý. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật
phong kiến cần phải làm sáng tỏ tinh thần pháp luật và sự kế thừa truyền thống
lập pháp để học tập cái hay, các đặc sắc trong cách làm luật của cha ông ta, từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm để giải quyết vấn đề pháp luật của ngày nay.
Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển lập pháp của các triều đại
phong kiến Việt Nam, hầu hết các nhà cầm quyền đều chú trọng tới việc xây

pháp, một trong số đó là việc sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 vào năm 2009.
Tuy nhiên, trước những diễn biến của tình hình tội phạm trong thời gian gần đây,
BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập
của nó trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh. Một trong những
hạn chế đó, liên quan đến kỹ thuật lập pháp, quyền con người, tính nhân đạo,
tính pháp chế
Hiện nay, Quốc hội đang có chương trình nghiên cứu sửa đổi một cách
toàn diện và cơ bản BLHS năm 1999, trong đó có việc sửa đổi, bổ sung nội dung
những quy định của các tội xâm phạm tính mạng của con người. Do vậy, việc
tiếp tục nghiên cứu những giá trị pháp lý của Quốc triều hình luật trong đó có nội
dung về quy định các tội xâm phạm tính mạng của con người nhằm sửa đổi, bổ
sung để hoàn thiện các quy định của BLHS là vấn đề cấp thiết.
Trên cơ sở đó, tác giả chọn đề tài: “Các tội xâm phạm tính mạng
của con người trong Quốc triều hình luật và sự kế thừa trong BLHS Việt
Nam hiện hành” làm đề tại luận văn thạc sĩ là hết sức cấp thiết trong tình
hình hiện nay. 3

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh những vấn đề có liên quan đến các tội xâm phạm tính mạng
con người đã có nhiều học giả, luật gia nghiên cứu và có nhiều sách báo dưới
nhiều góc độ khác nhau đề cập đến vấn đề này. Tuy nhiên, đề tài “Các tội xâm
phạm mạng con người trong Quốc triều Hình luật và sự kế thừa trong BLHS
Việt Nam hiện hành” là một đề tài mới, từ trước đến nay chưa có một công trình
nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Chỉ có một số các công trình nghiên
cứu có liên quan như: Quốc triều hình luật lịch sử hình thành, nội dung và giá
trị của tác giả Lê Thị Sơn; Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam –
Những suy ngẫm của tác giả Bùi Xuân Đính; Quy định về tội giết người trong Bộ

hình luật và BLHS hiện hành. Trên cơ sơ đúc kết những thành tựu lập pháp của
Quốc triều hình luật để từ đó đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện các quy
định về các tội xâm phạm tính mạng con người trong BLHS hiện hành, từ đó
góp phần nâng cao chất lượng giải quyết vụ án hình sự.
- Nhiệm vụ: Để đạt được những mục đích trên, trong quá trình nghiên
cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:
1- Nghiên cứu làm rõ những quy định về các tội xâm phạm tính mạng
con người trong Quốc triều hình luật;
2-Làm rõ những quy định về các tội xâm phạm tính mạng con người
trong BLHS hiện hành;
3-So sánh các quy định giữa các tội xâm phạm tính mạng con người
trong Quốc triều hình luật với BLHS hiện hành;
4- Chỉ rõ những điểm đã kế thừa và cần tiếp tục kế thừa của BLHS hiện
hành từ Quốc triều hình luật;
5- Đưa ra đề xuất, kiến nghị và giải pháp để hoàn thiện các quy định
trong các tội xâm phạm tính mạng của con người trong BLHS hiện hành.

5

5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời những chính sách của Đảng, Nhà nước ta về đấu
tranh phòng chống tội phạm nói chung, trong đó có các tội xâm phạm tính mạng
của con người. Một số phương pháp nghiên cứu cụ thểđược luận văn sử dụng
là:phương pháp hệ thống, phương pháp logic, phương pháp phân tích,phương
pháp tổng hợp,phương pháp so sánh và phương pháp lịch sử.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Việc làm rõ những nội dung của luận văn có ý nghĩa quan trọng trong
việc giúp các nhà nghiên cứu, các nhà lập pháp có thêm một nguồn tài liệu
tham khảo trong việc nghiên cứu để hoàn thiện các quy định của BLHS hiện

kỳ xây dựng nền độc lập, tự do dân tộc. Vì vậy, nhà nước mang đậm màu sắc
tù trưởng quân sự. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn đến luật pháp. Từ những
tư liệu ít ỏi, chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét đối với pháp luật thời kỳ
này như sau: Triều đình chủ yếu dùng uy lực để răn dạy và chế ngự nhân dân,
nhằm củng cố quyền lực trung ương. Các biện pháp rất cụ thể như vua Đinh:
“Muốn dùng uy chế ngự thiên hạ bèn đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ
trong cũi, hạ lệnh rằng: kẻ nào trái phép phải chịu tội vạc dầu, cho hổ ăn.
Mọi người đều sợ phục, không ai dám phạm”[32, tr.59].
Thời kỳ nhà Lý – Trần – Hồ (1010 -1407):Năm 1010, Lý Công Uẩn lên
ngôi lập ra nhà Lý, đặt nền móng cho một trong những triều đại thịnh trị của lịch
sử phong kiến dân tộc. Các nhà nghiên cứu đã thống nhất cho rằng trước thời Lý,
ở Việt Nam chưa có luật thành văn, pháp luật chủ yếu còn tồn tại dưới dạng các
7

hương ước và tục lệ. Như vậy, Hình thư là bộ luật đầu tiên của Việt Nam. Về lý
do ban hành Hình thư, sách Đại Việt sử ký toànthưchép:
Trước kia việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ
luật pháp phải câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt, thậm chí có
người bị oan uổng quá đáng. Vua lấy làm thương xót, sai trung thư
san định luật lệnh, châm trước cho thích dụng với thời thế, chia ra
muôn loại, biên thành điều khoản, làm thành sách Hình thư của một
triều đại, để cho người xem dễ hiểu [32, tr.98-99].
Từ những tư liệu trên cho thấy, người đứng đầu triều đại nhà Lý đã nhận
thức được sự cần thiết phải có luật thành văn để dân biết mà điều chỉnh hành vi,
“quan lại có căn cứ để xét xử, tránh việc tùy tiện dẫn đến oan sai, nhà nước có cơ
sở để kiểm tra, giám sát” [18, tr.15]. Trong các tội xâm phạm tính mạng, nhà Lý
có chính sách rất nhân đạo, cụ thể: Năm 1142, Lý Anh Tông xuống chiếu “Nếu
tranh nhau ruộng ao, mà lấy binh khí nhọn, sắc đánh chết hay làm bị thương
người thì đánh 80 trượng, xử tội đồ, đem ruộng ao trả cho người chết hoặc bị
thương”. Có thể nói, hình phạt đối với tội giết người trong pháp luật nhà Lý quá

luật thì sẽ loạn. Cho nên học tập đời xưa đặt ra pháp luật là để dạy
các tướng hiệu, quan lại, dưới đến dân chúng trăm họ biết thế nào
là thiện, là ác, điều thiện thì làm, điều chẳng lành thì tránh, chớ để
đến nỗi phạm pháp[32, tr.361].
Trong thời gian tồn tại của mình từ năm 1428 đến năm 1789, triều đại
nhà Lê đã để lại những thành tựu đáng kể trên lĩnh vực pháp luật và điển chế.
Theo thứ tự thời gian, có thể kể đến các văn bản pháp luật quan trọng sau đây:
Quốc triều hình luật gồm có 6 quyển; Luật thư gồm có 6 quyển do Nguyễn
Trãi soạn (1440 – 1442); Lê triều quan chế (1471); Thiên Nam dư hạ tập gồm
100 quyển (1483); Hồng Đức thiện chính thư (1470 – 1497); Sĩ hoạn châm
quy (1470 – 1497); Quốc triều chiếu lệnh thiện chính (1619 – 1705); Quốc
triều điều luật; Cảnh Hưng điều luật (1740 – 1786 ) [33, tr.11].Trong tất cả
9

các văn bản trên, Quốc triều hình luật được coi là bộ luật quan trọng nhất và
tiêu biểu cho hệ thống pháp luật phong kiến Việt Nam nói chung và hệ thống
pháp luật của triều Lê sơ nói riêng. Quốc triều hình luật được các nhà nghiên
cứu cổ luật trong và ngoài nước đánh giá cao. Trong các công trình nghiên
cứu tùy thuộc vào góc độ tiếp cận, các nhà nghiên cứu cổ luật đều thống nhất
đánh giá rằng: “Tính thực tiễn và những yếu tố luật tục chứa đựng trong
nhiều chế định là nét đặc sắc của Bộ luật” [29, tr.43].
Thời kỳ nhà Mạc (1527 – 1593), Lê Trung hưng(1533-1789), nhà Tây
Sơn (1788-1802):Sau giai đoạn thịnh trị của nhà nước Đại Việt là khoảng thời
gian xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng từ cuối thế kỷ XV đến cuối thế kỷ
XVIII. Các cuộc chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến với nhau, các cuộc
khởi nghĩa nông dân từ Đàng ngoài đến Đàng trong là những sự kiện nổi bật
nhất.Thời kì này, luật pháp chủ yếu theo pháp luật nhà Lê sơ. Ở Đàng ngoài
xuất hiện thêm bộ “Khánh tụng điều lệ” qui định các thủ tục rõ ràng chặt chẽ
hơn. Ngoài ra, luật pháp Đàng ngoài có thêm những qui định về cấm đạo
Thiên chúa. Triều đại Tây Sơn tồn tại ngắn ngủi nên pháp luật không có điểm

Quốc triều hình luật không thể ban hành vào năm này được.
Theo tác giả Đinh Gia Trinh cho rằng “Quốc triều hình luật được ban
hành dưới triều vua Lê Thánh Tông trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470
– 1497) trên cơ sở tập hợp có hệ thống các luật lệ của các vua Lê trước đó và
có sửa đổi, bổ sung thêm một số điều khoản mới. Ông gọi là Bộ luật 1483”
[11, tr.155-156].
Theo quan điểm của tác giả Vũ Văn Mẫu dựa vào ý kiến của Phan
Huy Chú viết về việc ban hành dưới thời Lê bộ Quốc triều hình luật và lời đề
tựa bộ Hoàng Việt luật lệ (bộ luật Gia Long) của vua Gia Long đầu triều
Nguyễn đánh giá cao Quốc triều hình luật và trên cơ sở một số sách chuyên
khảo về cổ luật Việt Nam cho rằng: “Bộ luật này được ban bố lần đầu tiên
11

trong khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497) và phần chắc vào những
năm cuối của niên hiệu Hồng Đức, dưới thời Lê Thánh Tông” [33, tr.15].
Theo học giả Nguyễn Quang Quýnh cho rằng:“Quốc triều hình luật
được điển chế vào khoảng năm 1470 dưới triều vua Lê Thánh Tông. Hiện
tại, nhiều người thường gắn Bộ Quốc triều hình luật triều Lê với niên hiệu
Hồng Đức”[22, tr.73].
Một số tác giả khác như Nguyễn Ngọc Huy, Yamamoto Tatsuro và
Insun Yu lại cho rằng “Quốc triều hình luật được khởi thảo ngay dưới
triều vua Lê Thái Tổ và được sửa đổi, bổ sung nhiều dưới triều vua Lê
Thánh Tông”[27, tr.44].
Theo quan điểm Viện Sử học Việt Nam cho rằng: “Quốc Triều hình
luật được khởi thảo từ thời Lê Thái Tổ, sau đó tiếp tục được bổ sung dưới các
triều Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông. Tới thời Lê Thánh Tông thì bộ luật
được hoàn chỉnh”[33, tr.260].
Theo tác giả Vũ Thị Nga cho rằng: “Quốc triều hình luật được ban
hành vào năm 1428 dưới triều vua Thái Tổ ngay khi vừa thiết lập triều
đại ”[27, tr.49].Trong đó, Quốc triều hình luật được phát triển trên cơ sở là

Quyển
Chương
STT các điều luật
Số điều
luật
I
Danh lệ (Tên gọi luật lệ)
Vệ cấm (Canh giữ bảo vệ)
1 – 49
50 – 59
49
47
II
Vi chế (Làm trái pháp luật)
Quân chính
97 – 240
241 – 283
144
43
III
Hôn hộ (hôn nhân gia đình)
284 – 341
58
13

Điền sản
- Điền sản mới tăng thêm
- Bổ sung thêm về luật hương hỏa
- Châm chước bổ sung về luật
hương hỏa

13
65 Tổng số
722

* Nội dung cơ bản của Quốc triều hình luật được phân thành các
phần sau đây:
Trước khi đi vào các chương, điều thì Quốc triều hình luật quy định
các đồ biểu quy định về 5 hạng để tang và tang phục, biểu đồ để tang 9 bậc họ
nội, quy định các loại hình cụ, bao gồm: roi, trượng, trượng để tra tấn, gông,
dây sắt.
- Chương 1: Các quy định chung của tội phạm và hình phạt. Chương
này có tên gọi là Danh lệ, gồm có 49 điều quy định về những vấn đề cơ bản
có tính chất chi phối nội dung các chương điều khác như: quy định về thập
ác tội, ngũ hình, bát nghị
14

- Chương 2: Nhóm các tội xâm phạm hoặc đe dạo tính mạng, quyền
lực của nhà vua, sự an toàn của hoàng cung và sự toàn vẹn lãnh thổ. Chương
này có tên gọi là chương Cấm vệ, gồm có 47 Điều quy định về việc bảo vệ
cung cấm, kinh thành và các tội về cấm vệ. Các điều luật này được quy định
từ Điều 50 đến Điều 96, với các tội như: Tự tiện vào thái miếu (Điều 50), Tự
tiện vào hoàng thành (Điều 51); Ngủ đêm tại cung điện không đúng phận sự
(Điều 54);
- Chương 3: Nhóm tội xâm phạm lễ nghi, quan hệ vua tôi và chế độ
quân chủ triều Lê. Chương này có tên gọi là Vi chế (làm trái pháp luật), gồm
có 144 điều quy định về hình phạt cho các hành vi sai phạm của quan lại, các
tội phạm về chức vụ. Các quy định này được ghi nhận từ Điều 97 đến Điều

- Chương 8: Nhóm tội đạo tặc. Nhóm tội này có tên gọi là Đạo tặc,
gồm có 54 điều quy định về các tội trộm cướp, giết người và một số các tội
phạm chính trị, được quy định từ Điều 411 đến Điều 464, với các tội như:
Mưu mô làm việc đại nghịch (Điều 411); Giết người (Điều 415); cướp của
giết người (Điều 426);
- Chương 9: Nhóm tội đấu tụng, gồm có 50 điều quy định về các
nhóm tội đánh nhau (ẩu đả) và các tội vu cáo, lăng mạ , được quy định từ
Điều 465 đến Điều 514, với các tội như: Cố ý đánh chết người (Điều 467);
Đánh người trong hoàng tộc (Điều 474); Đánh lại người thi hành công vụ
(Điều 493);
- Chương 10: Nhóm tội trá ngụy. Tên gọi của nhóm tội này là Trá
ngụy, gồm 38 điều quy định về các tội giả mạo, lừa dối, được quy định từ
Điều 515 đến Điều 552, với các tội như: Làm giả chiếu chế của triều đình
(Điều 519); Giả mạo công văn giấy tờ (Điều 553);
- Chương 11: Nhóm tạp luật, gồm có 92 điều quy định những tội phạm
khác nhau về mọi mặt của đời sống xã hội phong kiến. Về thực chất chương
16

này mang tính hỗn hợp, nhằm bổ sung cho những loại tội phạm được quy định
trong các chương khác của Quốc triều hình luật. Nó gồm có 92 điều, từ Điều
553 đến Điều 644, với các tội như: Đặt cạm bẫy (Điều 556); Tự tiện dời cầu,
đổi bến (Điều 575); Để xảy ra hỏa hoạn trong kinh thành (Điều 617);
- Chương 12: Nhóm tội bộ vong, gồm có 12 điều quy định về việc bắt
tội phạm chạy trốn và các tội phạm thuộc lĩnh vực này, được quy định từ Điều
645 đến Điều 657, với các tội như: Không giúp sức đuổi bắt tội phạm (Điều
647); Để lộ việc truy bắt tội phạm (Điều 648);
- Chương 13: Nhóm tội đoán ngục, gồm có 65 điều quy định về việc
xử án, giam giữ can phạm và các tội phạm trong lĩnh vực này, được quy định
từ Điều 658 đến Điều 722, với các tội như: Tự tiện giam tội nhân ở nơi không
đúng quy định (Điều 659); Tra khảo tội phạm quá ba lần (Điều 669); Xử án

9. Bất nghĩa, là giết quan bản phủ và các quan đương chức tại
nhiệm; giết thày học [33].
* Chương Đạo tặc (trộm cướp): Đây là chương tập trung nhiều nhất
các quy định về các tội xâm phạm tính mạng của con người, gồm có 25 điều
được quy định từ Điều 415 đến Điều 429, như: Tội chủ mưu giết người (Điều
415); Tội chủ mưu giết bậc tôn trưởng hay ông bà, cha mẹ (Điều 416); Tội nô
tỳ mưu giết chủ (Điều 417); Ví dụ: Điều 415 quy định về tội chủ mưu giết
người: “Những kẻ mưu giết người, thì xử tội lưu đi châu gần; đã làm người ta
bị thương, thì xử tội lưu đi châu ngoài; nếu vì bị thương mà chết, thì xử tội
giảo; đã chết xử tội chém; tòng phạm đều bị xử nhẹ hơn tội trên một bậc;
phải trả tiền đền mạng và tiền thương tổn như luật”.
* Chương Đấu tụng (Đánh nhau kiện cáo): Trong chương này, mặc
dù là chương có tên gọi là đánh nhau kiện cáo, liên quan đến các nhóm tội
xâm phạm sức khỏe của con người nhưng nó có rất nhiều quy định liên quan
đến các tội xâm phạm tính mạng của con người ở các Điều 467, 479, 469,
18

475, 476, 477, 478, 480, 481, 482, 483,484, 484, 486, 490, 493, 494, 497,
498, 499 Ví dụ: Điều 467 quy định về Tội cố ý đánh chết người:
Đánh nhau mà chết người thì phải tội giảo, lấy gươm giáo cố ý
giết người thì phải tội chém. Dù vì đánh nhau mà dùng gươm giáo
đánh chết người, thì cũng phải tội cố sát. Không vì đánh nhau mà cố ý
đánh bị thương thì xử nặng hơn tội đánh nhau bị thương một bậc;
đánh nhau đã xong rồi mỗi bên đi mỗi ngả mà trở lại đánh chết, hay
làm bị thương người ta thì xử tội cố sát [33].
* Chương Bộ vong (bắt tội phạm chạy trốn): Chương này có một số
quy định liên quan đến các tội xâm phạm tính mạng của con người, quy định
ở các Điều 645, Điều 646, Điều 649, Điều 652. Ví dụ: Điều 646 quy định:
Đi bắt tội nhân mà tội nhân chống cự bị người đi bắt đánh
chết, hay là vì tội nhân bỏ chạy, đuổi mà chết, hay là tội nhân cùng

Mặc dù, Quốc triều hình luật không có quy định ghi nhận đảm bảo
quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người như
trong pháp luật hiện hành, nhưng thông qua các quy định của nhóm các tội
xâm phạm tính mạng của con người thì những quyền này được pháp luật triều
Lê sơ bảo vệ rất nghiêm ngặt. Nghiên cứu nhóm tội xâm phạm tính mạng cho
thấy, những người phạm phải các tội này đều phải gánh chịu những hậu quả
pháp lý rất nặng nề, như: hình phạt chém bêu đầu, chém, giảo, đồ, lưu Đây
đều là những hình phạt rất nặng, thể hiện quan điểm của nhà làm luật bấy giờ
đối với việc trấn áp nhóm tội phạm này.
1.3.2. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm theo quan điểm của luật hình sự hiện đại
gồm có: hành vi phạm tội, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm
tội và hậu quả phạm tội:

Trích đoạn Mặt khách quan của tội phạm Mặt chủ quan của tội phạm Hình phạt và quyết định hình phạt Những bất cập trong các quy định của BLHS hiện hành Những đề xuất hoàn thiện BLHS hiện hành
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status