đại học quốc gia Hà nội
Khoa luật Phạm thị hoài ph-ơng
Phòng ngừa các tội phạm xâm phạm tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con
ng-ời trên địa bàn tỉnh bắc ninh
Chuyên ngành: T- pháp hình sự
Mã số: 60 38 40
Tóm tắt Luận văn thạc sĩ luật học Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Ngọc Quang
Hà Nội - năm 2007
3
Mục Lục
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng, biểu và đồ thị
Phần mở đầu
Ch-ơng 1. Nhận thức chung về các tội xâm phạm tính
11
11 16
22
26
26
28
31
4
Ch-ơng 2. Tình hình và kết quả phòng ngừa các tội xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con
ng-ời tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2005
2.1. Một số đặc điểm chung của tỉnh Bắc Ninh
2.2. Số liệu tình hình các tội phạm xâm phạm đến tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 2000
đến 2005.
2.2.1. Số liệu tình hình tội phạm đã bị phát hiện.
2.2.2. Tình hình tội phạm ẩn.
2.3. Kết quả phòng ngừa các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời từ năm 2000 đến 2005.
2.2.1. Những kết quả đạt đ-ợc trong phòng ngừa các tội phạm xâm
63 69 85 85
87 5
khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
3.2.1. Tăng C-ờng hiệu lực quản lý công tác đấu tranh, phòng
ngừa các loại tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm của con ng-ời.
3.2.2. Tăng c-ờng ổn định và phát triển kinh tế ở địa ph-ơng.
3.2.3. Giải quyết việc làm cho ng-ời lao động.
3.2.4. Chú trọng phát triển sự nghiệp văn hoá, giáo dục.
3.2.5. Tăng c-ờng công tác quản lý trật tự an toàn xã hội.
3.3. Các giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa
các loại tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của
con ng-ời trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
3.3.1. Những giải pháp nâng cao hiệu quả của các cơ quan t- pháp.
3.3.2. Giải pháp tăng c-ờng các biện pháp phòng ngừa tội phạm
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời.
3.3.3. Nõng cao hiu qu cỏc bin phỏp phũng nga nghip v.
Con ng-ời luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của mọi chính sách
xã hội và pháp luật. Đấu tranh bảo vệ quyền con ng-ời là trách nhiệm
của nhà n-ớc và mọi cá nhân trong xã hội. Do vậy, khi có bất kỳ hành
vi nào xâm phạm đến các quyền con ng-ời đều bị trừng phạt rất nghiêm
khắc. Bộ luật hình sự năm 1999 đã dành một ch-ơng riêng quy định
trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm của con ng-ời.
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế của đất n-ớc, tình hình kinh
tế ở Bắc Ninh cũng có nhiều thay đổi. Là một tỉnh đ-ợc tách ra từ tỉnh Hà Bắc
cũ, đ-ợc tái lập theo nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 ngày 06
tháng 11 năm 1996, có đặc điểm là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng bắc bộ,
nhiều làng nghề truyền thống, giao thông thuận lợi, Bắc Ninh thu hút đ-ợc rất
nhiều nhà đầu t- n-ớc ngoài đền đầu t Nhiều khu công nghiệp đã đ-ợc xây
dựng và đi vào hoạt động nh- khu công nghiệp Tiên Sơn, khu công nghiệp
Quế Võ, ngoài ra một số khu công nghiệp khác đang tiến hành triển khai, xây
dựng nh- khu công nghiệp Đại Đồng-Hoàn Sơn, khu công nghiệp Nam Sơn-
Hạp Lĩnh, khu công nghiệp Yên Phong, khu công nghiệp D-ợc phẩm, khu
công nghiệp Kỹ thuật cao. Ngoài các khu công nghiệp trên còn có các cụm
công nghiệp vừa và nhỏ và là nơi tập trung các làng nghề tiểu thủ công nghiệp
truyền thống. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển kinh tế nói trên thì bên
cạnh đó cũng xuất hiện các loại tội phạm trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh
tế xã hội trong đó có sự gia tăng của các loại tội phạm xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời. Đây là vấn đề đ-ợc sự quan tâm
của các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân,
Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ra nhiều văn bản yêu cầu các ban, ngành,
8
đoàn thể, các tổ chức xã hội đề ra và áp dụng nhiều biện pháp cụ thể nhằm
đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm của con ng-ời. Các cơ quan bảo vệ pháp luật nh- Công an, Viện kiểm
Mục đích nghiên cứu của đề tài này nhằm làm rõ đ-ợc tình hình
các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của
con ng-ời; kết quả đấu tranh của các cơ quan bảo vệ pháp luật và đ-a ra
các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng ngừa các tội phạm
xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời trên
địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Đánh giá một cách đúng đắn tình hình tội phạm xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh trong 6 năm từ năm 2000 đến năm 2005.
- Đánh giá chính xác, hiệu quả của các biện pháp đấu tranh đối
với các loại tội phạm này.
- Xác định những nguyên nhân và điều kiện phạm tội; phân tích
các ảnh h-ởng của các yếu tố kinh tế - xã hội; từ đó dự báo tình hình tội
phạm trong thời gian tới.
- Kiến giải và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh,
phòng ngừa đối với các loại tội phạm trên không chỉ trong địa bàn tỉnh
Bắc Ninh mà ở phạm vi cả n-ớc.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu góc độ tội
phạm học về các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm con ng-ời và kết quả đấu tranh, phòng ngừa trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh từ năm 2000 đến 2005.
4. Điểm mới của luận văn.
Luận văn này là công trình khoa học đầu tiên trong khoa học hình
sự, nghiên cứu cụ thể về tình hình, nguyên nhân, điều kiện của các tội
10
phạm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con
ng-ời trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đồng thời đ-a ra biện pháp kịp thời và
có hiệu quả để đấu tranh, phòng ngừa đối với loại tội phạm này.
phạm này
1.1. Nhận thức chung về các tội xâm phạm tính mạng, sức
khoẻ, danh dự nhân phẩm con ng-ời
1.1.1. Khái niệm về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm của con ng-ời.
Con ng-ời với t- cách là một thực thể của tự nhiên và xã hội, luôn
là đối t-ợng đ-ợc quan tâm và bảo vệ hàng đầu trong mọi nhà n-ớc, đặc
biệt là ở các nhà n-ớc hiện đại vấn đề con ng-ời càng đ-ợc quan tâm
hơn bao giờ hết. Xã hội ngày càng phát triển thì việc bảo vệ con ng-ời
và các lợi ích của con ng-ời càng đ-ợc chú trọng.
Đảng và nhà n-ớc ta đã xác định con ng-ời vừa là mục tiêu, vừa
là động lực phát triển của sự nghiệp cách mạng. Mọi chủ tr-ơng, đ-ờng
lối, chính sách pháp luật của Đảng và nhà n-ớc đều phấn đấu cho mục
tiêu vì con ng-ời, từng b-ớc cải thiện chăm lo mở rộng cơ hội lựa chọn
và tăng c-ờng năng lực cho con ng-ời để bằng trí tuệ và tài năng của
mình đóng góp cho xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
bản thân con ng-ời. Vì vậy, để đạt đ-ợc các mục tiêu trên, tr-ớc hết là
bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm và tự do của họ, vì đó
là những điều có ý nghĩa và quan trọng hàng đầu đối với con ng-ời.
Những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của
con ng-ời là xâm phạm vào một trong những quyền thiêng liêng nhất-
quyền đ-ợc sống, quyền đ-ợc bảo vệ sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm.
Nếu những quyền này bị xâm phạm thì có thể tất cả các quyền khác
cũng không thể tồn tại và không thể đ-ợc thực hiện trên thực tế. Chính
12
vì lí do đó mà mục tiêu bảo vệ quyền sống của con ng-ời, quyền đ-ợc
bảo vệ sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm luôn đ-ợc đặt lên hàng đầu đối
với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kì và mọi chế độ. ở Việt Nam,
ứng nhanh chóng với biến đổi môi tr-ờng, giữ đ-ợc lâu dài khả năng lao
động và lao động có hiệu quả [39, tr835]. Xâm phạm sức khoẻ con
ng-ời là gây nên mức độ th-ơng tật hoặc làm mất khả năng lao động
trong một chừng mực nhất định. Tuỳ theo tính chất của hành vi phạm
tội và mức độ lỗi của ng-ời phạm tội mà Luật hình sự quy định mức độ
gây th-ơng tích cho ng-ời khác phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội xâm phạm sức khoẻ của
ng-ời khác tại các điều: Điều 104 (Tội cố ý gây th-ơng tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của ng-ời khác), Điều 105 (Tội cố ý gây th-ơng
tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ng-ời khác trong tình trạng thần
kinh bị kích động mạnh), Điều 106 (Tội cố ý gây th-ơng tích hoặc gây
tổn hại cho sức khoẻ của ng-ời khác do v-ợt quá giới hạn phòng vệ
chính đáng), Điều 107 (Tội gây th-ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của ng-ời khác trong khi thi hành công vụ), Điều 108 (Tội vô ý
gây th-ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ng-ời khác), Điề u
109 (Tội vô ý gây th-ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ng-ời
khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính), Điều
110 (Tội hành hạ ng-ời khác),
Danh dự của con ng-ời là phạm trù đạo đức, thể hiện lòng tôn
trọng đối với các tiêu chuẩn về hành vi đạo đức, ý thức bảo vệ và giữ
gìn những phẩm chất mà bản thân mình lấy làm tự hào và đ-ợc ng-ời
khác tôn trọng. Mất danh dự có nghĩa là mất sự tin yêu, mến phục của
ng-ời khác và đối với ng-ời có danh dự thì đấy là tổn thất lớn nhất
[39,tr647]. Còn nhân phẩm của con ng-ời là phẩm chất và giá trị của
con ng-ời [38,tr688]. Nh- vậy, danh dự, nhân phẩm con ng-ời là phẩm
14
chất và giá trị thể hiện lòng tôn trọng của ng-ời khác đối với một ng-ời.
Mất danh dự, nhân phẩm của một ng-ời là mất đi sự tin yêu, mến phục,
kính trọng của ng-ời khác và đối với ng-ời đó. Hành vi xâm hại danh
nh- vậy, Luật hình sự Việt Nam mặc nhiên thừa nhận những ng-ời đạt
độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nói chung là có năng lực trách nhiệm
hình sự. Trong thực tiễn áp dụng, các cơ quan tiến hành tố tụng không
đòi hỏi phải đánh giá từng tr-ờng hợp là có năng lực trách nhiệm hình
sự hay không mà chỉ cần xác định độ tuổi và cá biệt, nếu có sự nghi ngờ
mới cần phải kiểm tra xem ng-ời đó có thuộc tr-ờng hợp trong tình
trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự hay không. Thứ ba, ng-ời
thực hiện hành vi có lỗi. Lỗi là thái độ chủ quan của con ng-ời đối với
hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi
đó, thể hiện d-ới dạng lỗi cố ý hoặc vô ý. Ng-ời bị coi là có lỗi khi
ng-ời đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi ấy là
kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ
điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã
hội.
Tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm là những điều có ý
nghĩa và quan trọng hàng đầu đối với con ng-ời, nó liên quan đến sự
sống, sự tồn tại của con ng-ời, đến thể chất và tinh thần của họ. Mọi sự
chăm lo của nhà n-ớc và xã hội giành cho con ng-ời chỉ có ý nghĩa khi
con ng-ời sống và tồn tại trong thế giới khách quan. T-ớc đoạt tính
mạng của một con ng-ời hay làm tổn hại đến sức khoẻ của họ hay làm
tổn th-ơng đến tinh thần của họ đều có nghĩa là đã xâm phạm đến
những điều thiêng liêng, có giá trị vô cùng to lớn không chỉ đối với
ng-ời ấy mà còn ảnh h-ởng đến xã hội, đến những quan hệ xã hội đ-ợc
pháp luật bảo vệ nói chung. Bảo vệ con ng-ời chính là bảo vệ tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của ng-ời đó.
16
Nh- vậy từ những phân tích trên đây, có thể hiểu các tội xâm
phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời là
hành vi nguy hiểm cho xã hội, do ng-ời có năng lực trách nhiệm hình sự
Năm 1954, với chiến thắng Điện Biên Phủ trấn động địa cầu, cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi.
Tuy nhiên, cách mạng Việt Nam phải chuyển sang môt giai đoạn mới,
đất n-ớc bị chia cắt làm hai miền. Miền Bắc đ-ợc hoàn toàn giải phóng
tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc kháng
chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.
Do điều kiện kinh tế văn hoá, xã hội ở miền Bắc đã có những biến
đổi về căn bản so với tr-ớc đó nên toàn bộ hệ thống pháp luật của chế
độ cũ không đ-ợc phép áp dụng nữa. Năm 1955, Thủ t-ớng Chính phủ
ban hành Thông t- 442/TTg ngày 19/1/1955 về việc trừng trị một số tội
danh trên cơ sở tổng kết việc áp dụng luật cũ và án lệ. Nội dung của
Thông t- yêu cầu toà án khi xét xử các tội phạm nói chung phải theo
đ-ờng lối chính sách của Đảng. Thông t- cũng h-ớng dẫn việc xét xử
đối với những hành vi cố ý gây th-ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của con ng-ời. Cụ thể đánh bị th-ơng phạt tù từ 3 tháng đến 5
năm; Đánh bị th-ơng có tổ chức gây cố tật hay chết ng-ời có thể phạt
đến 20 năm; Cố ý giết ng-ời phạt tù từ 5 năm đến 20 năm; Nếu có
tr-ờng hợp giảm nhẹ thì có thể hạ xuống đến 1 năm; Giết có dự m-u có
thể phạt đến tử hình.
Tiếp đó trong thông báo về hội nghị Ban bí th- Trung -ơng Đảng
ngày 15
tháng 3 năm 1963 bàn về ph-ơng h-ớng nhiệm vụ công tác năm
1963 của ngành toà án ở điểm 3 có chỉ rõ Đấu tranh, chống tệ nạn xã
hội đặc biệt phải nghiêm trị tội giết ng-ời. Năm 1970, Toà án nhân
dân tối cao ra bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử về tội giết ng-ời
(kèm theo công văn số 452 ngày 10 tháng 08 năm 1970). Năm 1976, khi
18
n-ớc nhà thống nhất, Sắc lệnh số 03 ngày 15 tháng 03 năm 1976 do Hội
phòng chống tội phạm về xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm của con ng-ời tr-ớc diễn biến khá phức tạp và có chiều h-ớng
tăng của nhóm tội phạm này.
Tại lần sửa đổi bổ sung thứ nhất (năm 1989), điều 101, tội giết
ng-ời tăng thêm mức hình phạt. Điều 109, tội cố ý gây th-ơng tích bổ
sung thêm tr-ờng hợp phạm tội. Điều 114, tội giao cấu với ng-ời d-ới
16 tuổi quy định thêm một khung hình phạt. Qua lần sửa đổi này, các
điều luật đ-ợc sửa đổi đã đ-ợc quy định chặt chẽ hơn, sự phân hoá trách
nhiệm cao hơn, phù hợp với tính chất và mức độ của khách thể bị xâm
phạm.
Tại lần sửa đổi, bổ sung thứ 2 (năm 1991), Điều 103, tội xâm
phạm tính mạng sức khoẻ của ng-ời khác trong khi thi hành công vụ
đ-ợc sửa đổi nh- sau: Khoản 1 điều 103 (năm 1985) quy định Ngời
nào trong khi thi hành công vụ mà làm chết ng-ời do sử dụng vũ khí
ngoài những tr-ờng hợp pháp luật cho phép, thì bị phạt tù từ 1 năm đến
5 năm. Phạm tội làm chết nhiều ng-ời thì bị phạt tù từ 3 năm đến 15
năm. Đ-ợc sửa đổi thành ngời nào trong khi thi hành công vụ mà
làm chết ng-ời do dùng vũ lực ngoài những tr-ờng hợp pháp luật cho
phép thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Phạm tội làm chết nhiều ng-ời
hoặc trong tr-ờng hợp nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 3 năm đến
15 năm.
Điều luật đ-ợc sửa đổi này đã mở rộng phạm vi hơn so với tr-ớc
và nh- vậy rõ ràng nó phù hợp với thực tế khách quan hơn. Điều 112
quy định về tội hiếp dâm cũng đã đ-ợc sửa đổi trong đó mức hình phạt
của khung hình phạt tại khoản 4 đã đợc tăng lên Mọi tr-ờng hợp giao
cấu với trẻ em d-ới 13 tuổi đều phạm tội hiếp dâm và ng-ời phạm tội bị
phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Phạm tội trong các tr-ờng hợp quy định ở
20
khoản 2 và khoản 3 của điều này thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm,
tuổi thành tội danh Giao cấu với trẻ em ( Điều 114). Việc sửa đổi
này nhằm thể hiện rõ hơn chính sách hình sự của nhà n-ớc ta trong việc
trừng trị các hành vi xâm hại tình dục trẻ em.
- Luật sửa đổi, bổ sung quy định thêm 2 tội danh mới nhằm bảo
vệ trẻ em về mặt tình dục. Đó là tội mua dâm ng-ời ch-a thành niên và
tội dâm ô với đối với trẻ em.
Cách sửa đổi, bổ sung trên đây là cơ sở pháp lý hết sức quan trọng
cho việc bảo vệ quyền đ-ợc tôn trọng và bảo vệ của trẻ em, là vũ khí
cần thiết của cuộc đấu tranh không khoan nh-ợng đối với các tội xâm
phạm tình dục trẻ em. Đây là b-ớc tiến mới trong việc hoàn thiện hệ
thống quy phạm pháp luật hình sự n-ớc ta nhằm nâng cao hiệu quả đấu
tranh phòng chống nhóm tội xâm phạm tình dục trẻ em.
Kế thừa và phát triển những nguyên tắc, chế định pháp luật hình
sự của nhà n-ớc ta, nhất là Bộ luật hình sự năm 1985, cũng nh- những
bài học trong hoạt động tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn xây dựng và
bảo vệ tổ quốc trong nhiều thập kỷ qua, dự kiến những diễn biến mới
của tình hình tội phạm trong thời gian tới, ngày 21 tháng 12 năm 1999
Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Bộ luật hình sự năm 1999.
So với Bộ luật hình sự năm 1985, Bộ luật hình sự năm 1999 đã có
nhiều sửa đổi, bổ sung, trong đó có nhiều điều luật mới. Đặc biệt riêng
chơng XII các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm của con ngời của Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều thay đổi
so với ch-ơng II của Bộ luật hình sự năm 1985. Nếu nh- ở Bộ luật hình
sự năm 1985 chỉ gồm 20 điều luật về các tội danh này. Đến Bộ luật hình
sự năm 1999 là 30 điều t-ơng ứng với 30 tội danh khác nhau, hơn Bộ
luật hình sự 1985 m-ời điều và thêm 20 tội mới. Một số tội đ-ợc quy
định trong Bộ luật hình sự 1985 đ-ợc tách ra làm nhiều điều luật, một
22
số tội phạm ở các ch-ơng khác đ-ợc đ-a về ch-ơng các tội xâm phạm
23
phẩm. Đó là những ng-ời đang sống, đang tồn tại trong thế giới khách quan
với t- cách là một con ng-ời cụ thể-một thực thể tự nhiên và xã hội.
Mặt khách quan của các tội phạm này thể hiện ở những hành vi nguy
hiểm cho xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm của con ng-ời.
Đa số những hành vi nguy hiểm xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh
dự, nhân phẩm của con ng-ời đ-ợc thể hiện ở những hành động cụ thể, dùng
sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của ng-ời khác gây nên cái chết, hoặc
gây nên mức độ th-ơng tích, tổn hại về sức khoẻ, lây truyền HIV cho ng-ời
khác, hiếp dâm, làm nhục ngời khác v.v ; hoặc hành vi có thể thể hiện
bằng lời nói, hoặc hành động khác xâm phạm vào quyền nhân thân của con
ngời nh hành vi đe doạ giết ngời, vu khống v.v .
Bên cạnh những hành vi đ-ợc thể hiện bằng những hành động cụ thể thì
trong một số tội, hành vi phạm tội đ-ợc thể hiện bằng hình thức không hành
động, tức là phải làm một việc mà trách nhiệm phải làm nh-ng đã không làm
gây ra những tổn hại cho ng-ời khác nh- hành vi không cứu giúp ng-ời đang
trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, hành vi của ng-ời mẹ không cho
con mình để ra bú sữa gây nên cái chết của đứa trẻ
Hậu quả nguy hiểm của các tội phạm này có thể là những thiệt hại về
thể chất nh- chết ng-ời, gây tổn hại về sức khoẻ, lây truyền HIV cho ng-ời
kháchoặc gây tổn hại về tinh thần nh xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm
của con ng-ời Đa số tội phạm có cấu thành vật chất, tức là bắt buộc phải có
hậu quả thì tội phạm mới hoàn thành.
Tuy nhiên, mức độ hậu quả gây thiệt hại trong các tội xâm phạm tính
mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con ng-ời trong từng tội phạm cụ
thể có khác nhau. Đa số các tội phạm có cấu thành vật chất nên thời điểm
hoàn thành của tội phạm kể từ khi làm chết ng-ời ở các tội xâm phạm tính
mạng. Tuy nhiên, ở Tội đe doạ giết ng-ời (Điều 103), thời điểm hoàn thành kể
25
khỏe của ngời khác Ngoài ra, một số tội phạm còn đợc thực hiện với lỗi
vô ý (gián tiếp) nh- tội bức tử, tội gây th-ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe ng-ời khác trong khi thi hành công vụ.
Mục đích và động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội
phạm nh- tội giết ng-ời do v-ợt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, tội cố ý
gây th-ơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ng-ời khác do v-ợt quá
giới hạn phòng vệ chính đáng. Ngoài ra, Bộ luật hình sự còn quy định động cơ
hoặc mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tăng nặng ở một
số cấu thành tăng nặng nh-: động cơ đê hèn (điểm q khoản 2 Điều 93; điểm c
khoản 2 Điều 120); để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác, để lấy bộ phận
cơ thể của nạn nhân (điểm g, h khoản 1 Điều 93); để che giấu hoặc trốn tránh
việc bị xử lý về tội phạm khác (điểm d khoản 2 Điều 103); để cản trở ng-ời thi
hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm k khoản 1 Điều
104); vì mục đích mại dâm, để đ-a ra n-ớc ngoài (điểm a, d khoản 2 Điều
119; điểm đ, g khoản 2 Điều 120); để sử dụng vào mục đích vô nhân đạo
(điểm e khoản 2 Điều 120). Đối với các tội khác, đông cơ, mục đích phạm tội
không phải là dấu hiệu bắt buộc.
Chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ,
danh dự, nhân phẩm của con ng-ời:
Do đối t-ợng tác động của tội phạm là con ng-ời và tầm quan trọng của
các quan hệ xã hội cần đ-ợc bảo vệ, nên chính sách hình sự và đ-ờng lối xử lý
của nhà n-ớc đối với các tội xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự,
nhân phẩm của con ng-ời là rất nghiêm khắc. Trong 30 tội quy định tại
ch-ơng XII Bộ luật hình sự năm 1999, thì có 9 tội đặc biệt nghiêm trọng, có
mức cao nhất của khung hình phạt từ trên m-ời năm năm đến hai m-ơi năm,
tù chung thân hoặc tử hình (3 tội có mức hình phạt cao nhất là tử hình: các tội
quy định tại Điều 93, Điều 111, Điều 112; 4 tội có mức hình phạt tối đa là
chung thân: các tội quy định tại Điều 104, Điều 114, Điều 118, Điều 120); 6
27
Phòng ngừa tội phạm nói chung là một trong hai nội dung chủ yếu
của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Trong lý luận Tội phạm học
và thực tế giải quyết những vấn đề liên quan đến tội phạm trong xã hội
đã chỉ ra, việc phát hiện, điều tra khám phá kịp thời mỗi khi tội phạm
xảy ra nhằm đảm bảo, tội phạm không thể không bị phát hiện và bị điều
tra xử lý kịp thời, không một ng-ời phạm tội nào có thể tránh khỏi hình
phạt của phát luật, đây là vấn đề vô cùng quan trọng vì tội phạm vẫn
xảy ra hàng ngày trong một quốc gia [25,tr200]. Tuy nhiên, phải bằng
mọi biện pháp không cho tội phạm xảy ra, hay nói cách khác là phòng
ngừa tội phạm mới là điều cực kỳ quan trọng. Tầm quan trọng của nó
đ-ợc thể hiện ở chỗ, phòng ngừa đ-ợc tội phạm cũng có nghĩa không để
cho một thành viên của xã hội phải chịu hình phạt của pháp luật; xã hội
không phải chịu hậu quả của tội phạm; các cơ quan bảo vệ pháp luật
không phải có những chi phí cần thiết cho việc điều tra, khám phá, xử
lý ng-ời phạm tội và điều quan trọng hơn là đảm bảo cuộc sống bình
th-ờng cho mọi công dân trong xã hội để từ đó, làm cơ sở cho mọi công
dân có thể cống hiến sức lực của mình vào sự nghiệp xây dựng xã hội
mới. Do tội phạm còn tồn tại trong xã hội, việc điều tra khám phá kịp
thời mỗi khi tội phạm xảy ra vẫn là yêu cầu hàng ngày, góp phần đảm
bảo sự tồn tại, vững mạnh của nhà n-ớc. Nh-ng việc phát hiện, điều tra,
khám phá và xử lý nghiêm minh với ng-ời thực hiện hành vi phạm tội
cũng vì mục tiêu phòng ngừa tội phạm, không chỉ giáo dục ng-ời phạm
tội mà còn đối với những ng-ời khác đang có ý định thực hiện tội phạm.
Chính vì vậy, cần hiểu phòng ngừa tội phạm theo nghĩa rộng với nội
dung, không để cho tội phạm xảy ra và nếu tội phạm vẫn xảy ra thì phải
phát hiện, điều tra, khám phá và xử lý kịp thời. Phòng ngừa các tội xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm con ng-ời bao gồm nội
dung cơ bản: phát hiện, điều tra, khám phá, xử lý kịp thời mỗi khi tội