BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT LÊ VIỆT LONG
ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Chuyên ngành: Luật Hình sự
Mã số: 62.38.40.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Công trình đợc hon thnh tại Viện Nh nớc v Pháp luật
Ngời hớng dẫn khoa học: GS.TS Võ Khánh Vinh
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3: Luận án sẽ đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận án cấp Nhà nớc tại
Viện Nhà nớc và Pháp luật vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm đọc luận án tại Th viện Quốc gia và Th viện Viện Nhà
nớc và Pháp luật 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
“Sở hữu trí tuệ” là một thuật ngữ mang nghĩa rộng, được dùng để mô
tả “sự sáng tạo của tư duy”. Ở Việt Nam, “sự sáng tạo của tư duy” có từ rất
lâu, nhưng việc bảo hộ “sự sáng tạo của tư duy” này (hay nói cách khác là
sự bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ) được bắt đầu tri
ển khai từ rất sớm, nhưng
chỉ sau khi Bộ luật Dân sự (1995) được ban hành và đặc biệt là từ khi Bộ
luật Hình sự năm 1999 qui định các tội danh về sở hữu trí tuệ thì hoạt động
này mới thực sự được quan tâm hơn.
c lượng, đầu tư trang thiết bị và tốn rất nhiều công sức, chi phí cho việc
bảo hộ sản phẩm của mình, tuy nhiên hiệu quả cũng còn rất hạn chế. Phần
lớn các doanh nghiệp đều thống nhất cho rằng Nhà nước qui định chế tài 2
xử phạt như hiện nay chưa đủ để răn đe tội phạm trong lĩnh vực sở hữu trí
tuệ, có những qui định còn không phù với tình hình thực tế.
Để góp phần đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm sở hữu trí
tuệ trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay, việc xây dựng hệ thống pháp
luật về sở hữu trí tuệ là rất cần thiết và cấp bách. Trướ
c những yêu cầu đặt
ra đó, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Đấu tranh phòng, chống các tội xâm
phạm sở hữu trí tuệ” nhằm phân tích những cơ sở lý luận về loại tội
phạm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, những khó khăn trong công tác áp dụng
điều luật của các cơ quan chức năng, đồng thời đưa ra những giải pháp
nhằm tăng cườ
ng hiệu lực thực thi sở hữu trí tuệ.
2. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
a. Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của
đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ, luận án đưa ra
những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và đấu tranh phòng,
chống có hiệu quả các tội xâm phạm sở
hữu trí tuệ.
b. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Nghiên cứu các qui định của pháp Luật Hình sự nước ta qua các
giai đoạn để làm rõ những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại trong Bộ luật
Hình sự và các văn bản pháp Luật Hình sự khác về loại tội phạm này. Trên
cơ sở khoa học đó mạnh dạn đề xuất những quan điểm của mình nhằm
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận án được th
ực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa
Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, những
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm
trong các thời kỳ phát triển khác nhau của đất nước.
Trên cơ sở số liệu t
ổng hợp của Cục thống kê tội phạm - Viện Kiểm
sát nhân dân tối cáo cung cấp, Luận án sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, qui nạp, so sánh, khái quát,
thống kê… Đây là các phương pháp phổ biến và có độ tin cậy cao.
5. Điểm mới và ý nghĩa của luận án
Điểm mới của luận án được thể hiện ở những vấn đề
sau:
- Đây là luận án lần đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn
diện tất cả các tội danh về xâm phạm sở hữu trí tuệ, đưa ra bức tranh toàn
cảnh về các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ, từ góc độ hình sự, tội phạm học
và chỉ ra những yếu tố cấu thành các tội phạm này.
- Luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân và điều kiện
ph
ạm tội, phân tích các qui định của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm
sở hữu trí tuệ.
- Luận án góp phần chỉ ra những hạn chế trong công tác xây dựng và
áp dụng pháp luật, đồng thời đưa ra những kiến nghị hoàn thiện cả hai
phương diện này và các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm trong
lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
6. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần m
ở đầu và kết luận, luận án có ba chương:
tác đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ ở Việt Nam.
Hiện nay, các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới đều có hệ
th
ống các qui định về các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ rất rõ ràng. Như Bộ
luật Hình sự của Nhật Bản có riêng chương 16 để qui định về các tội xâm
phạm quyền sở hữu trí tuệ. Các hành vi xâm phạm tài sản trí tuệ được qui
định rất đầy đủ trong chương này.
Mỹ là một nước có nền kinh tế phát triển nhất trên thế giới hiện nay.
Tình trạng xâm phạm sở hữ
u trí tuệ ở Mỹ cũng đang ở mức báo động. Có
rất nhiều bài viết nổi bật của các tác giả Mỹ về thực trạng này. Các bài viết
tập trung làm rõ các khái niệm về sở hữu trí tuệ, xâm phạm sở hữu trí tuệ
và các giải pháp phòng, chống hiện tượng này. Một số bài viết gần đây
nhất như: “Sở hữu trí tuệ là gì?” của Thomas G.Field Jr., “Tại sao bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ lại quan trọng” của E. Anthony Wayne, “Giới thiệu
khái quát các điều ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ” của Paul E.
Salmon, “Các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo về sở hữu trí tuệ”
của Allison Areias, “GioócĐani hưởng lợi từ cải cách quyền sở hữu trí
tuệ” của Jeanne Holden, “Ra tay hành động: Các quốc gia đang chống vi
phạm quy
ền sở hữu trí tuệ như thế nào” - một bài viết đặc sắc được in
trong chuyên đề về quyền sở hữu trí tuệ, ấn phẩm Thông tin quốc tế, Bộ
ngoại giao Hoa Kỳ tháng 1/2006, “Cách tiếp cận của Hoa Kỳ: nguồn gien,
tri thức truyền thống và văn hóa dân gian” của Jeanne Holden viết về 5
những cơ chế nhằm bảo hộ nguồn gien, tri thức truyền thống và văn hóa
dân gian, ba thành tố thường bện chặt vào nhau trong đời sống hàng ngày
của con người… Có thể nói bảo hộ sở hữu trí tuệ rất được các nhà nghiên
Với bốn chính sách đó hoạt động bảo hộ quyền sở hữu củ
a Nhật Bản
đã thu được nhiều kết quả quan trọng đối với nền kinh tế đất nước cũng
như về tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ.
Chính phủ Mỹ cũng đã thành lập Văn phòng chống vi phạm sở hữu trí
tuệ toàn cầu. Văn phòng đã phối hợp hoạt động với nhiều cơ quan chức
năng trong nước để ch
ống lại tình trạng vi phạm sở hữu trí tuệ đang lan
tràn trong nước Mỹ. Văn phòng cũng đặt ra cho mình trọng trách chống lại
mọi sự xâm phạm sở hữu trí tuệ trên thế giới.
Liên minh Châu Âu EU cũng đã tiến hành rất nhiều biện pháp chống
xâm phạm sở hữu trí tuệ từ nhiều năm trước. EU đã thông qua Chỉ thị về
thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Ch
ỉ thị này hài hòa pháp luật về thực thi 6
trong nội bộ khối EU. EU cũng sửa đổi Quy chế Hải quan nhằm tăng
cường cuộc đấu tranh chống hàng giả và hàng sao chép. Ngay từ năm
2004, Ủy ban Châu Âu đã thông qua một chiến lược mới về thực thi quyền
sở hữu trí tuệ ở các nước thứ ba. Điều này giúp các nước đáp ứng đầy đủ
các yêu cầu của Hiệp định TRIPs và nâng cao nhận thức về hậu quả c
ủa
việc không đáp ứng các yêu cầu này.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu đề tài ở trong nước
Ở nước ta, có thể nói đây là đề tài khá mới mẻ. Từ trước đến nay chưa có
công trình nghiên cứu nào nghiên cứu đầy đủ về tất cả các tội xâm phạm sở hữu
trí tuệ.
Các công trình nghiên cứu chủ yếu là về lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Một
số công trình, bài viết nổi bật như :Tác gi
nghiên cứu về vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ khỏi các hành vi xâm hại nói
chung, các hành vi phạm tội nói riêng ngày càng trở nên phổ biến với số 7
lượng ngày càng nhiều. Vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ thực sự là một vấn đề
nóng bỏng, thời sự.
Đặc biệt với các đề tài, công trình nghiên cứu trong nước nhìn từ góc
độ hình sự vẫn chưa có công trình nghiên cứu tổng thể về bảy tội danh
xâm phạm sở hữu trí tuệ. Có thể nói đề tài “Đấu tranh phòng, chống các
tội xâm phạm sở hữu trí tuệ”là đề
tài đầu tiên nghiên cứu một cách tổng
thể các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ dưới góc độ hình sự. Việc nghiên cứu
đã giúp tác giả phân tích sâu hơn các khái niệm pháp lý hình sự, tìm ra
được những nguyên nhân của tình hình các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ, từ
đó đưa ra những giải pháp cần thiết về cả lý luận và thực tiễn nhằm nâng
cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các tội này.
1.2. Những vấn đề
chung về các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ
1.2.1. Khái niệm chung về sở hữu trí tuệ
Trên thế giới, sở hữu trí tuệ không phải là một khái niệm xa lạ, nhưng
ở Việt Nam, sở hữu trí tuệ còn khá mới mẻ đối với đại bộ phận nhân dân.
Ở các nước phát triển, Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành từ rất sớm, như
Luật Sở hữu trí tuệ
được ban hành ở Mỹ năm 1787, ở Pháp năm 1791, ở Bỉ
năm 1854, ở Nhật năm 1855, ở Nga năm 1870, ở Đức năm 1877… Cùng
với quá trình phát triển kinh tế thế giới, bảo hộ sở hữu trí tuệ được coi là
vấn đề đặc biệt quan trọng và là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia.
Theo nghĩa rộng, sở hữu trí tuệ là các quyền hợp pháp xuất phát từ
hoạt độ
hóa, kiểu dáng công nghiệp, các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Việt Nam đã và đang tích cực xây dựng một hệ thống pháp luật bảo hộ
sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ không ch
ỉ được ghi nhận trong Bộ luật
Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản dưới luật mà còn được bảo đảm
thực thi trong Bộ Luật Hình sự.
Hiện nay BLHS 1999 có bảy điều luật qui định về các tội xâm phạm
sở hữu trí tuệ, các điều luật đó được qui định trong các chương khác nhau
của Bộ luật hình sự. Điều đó gây không ít khó khăn cho vi
ệc nghiên cứu
và đấu tranh phòng, chống tội phạm về sở hữu trí tuệ. Vì vậy, trong thời
gian qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều biện pháp nhằm bảo đảm
sở hữu trí tuệ và việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ song hiện tượng vi
phạm sở hữu trí tuệ vẫn diễn ra rất phức tạp và vẫn không ngừng gia tăng
cả về số lượng cũng nh
ư tính chất nguy hiểm cho xã hội. Đặc biệt Việt
Nam đã gia nhập WTO, nền kinh tế hàng hóa được giao lưu mở rộng
nhưng các hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ đã làm mất ổn định thị trường,
ảnh hưởng xấu đến uy tín của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đến thời
điểm này nhiều người chưa thực sự hiểu sở hữu trí tuệ là gì, vì vậy đôi khi
họ đang vi phạm pháp luật mà chính họ cũng không nhận ra. Việc qui định
các tội phạm về xâm phạm sở hữu trí tuệ là rất cần thiết để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu trí tuệ. Có như vậy ý thức của người
dân mới được nâng cao, các hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ mới có xu
hướng giảm.
1.2.3. Các dấu hiệu pháp lý hình s
ự của các tội xâm phạm sở hữu trí
tuệ
Như đã phân tích ở trên, các hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ không
chỉ bị ràng buộc bởi các qui định tại Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ,
nhuận, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội với mong muốn thu lợi
bất chính. Trong bảy tội đó chỉ có hai tội qui định động cơ, mục đích là
dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm: Mục đích l
ừa dối người tiêu
dùng nhằm thu lợi bất chính là dấu hiệu bắt buộc của các tội sản xuất,
buôn bán hàng giả. Mục đích kinh doanh là dấu hiệu bắt buộc của cấu
thành tội phạm tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Điều 171.
* Chủ thể của tội phạm
Trong bảy tội xâm phạm sở hữu trí tuệ hầu hết chủ thể là ng
ười từ 16
tuổi trở lên và có năng lực TNHS. Riêng chủ thể của tội sản xuất, buôn bán
hàng giả theo khoản 3 Điều 156; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương
thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh theo khoản 3, khoản
4 Điều 157; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi,
phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây tr
ồng, vật nuôi
theo khoản 3 Điều 158 là người từ đủ 14 tuổi trở lên và có năng lực
TNHS.
Trong Luật Hình sự Việt Nam, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là cá
nhân. Trong thực tế có rất nhiều cơ sở sản xuất, công ty, xí nghiệp… sản
xuất hàng giả. Trường hợp này đại diện cho pháp nhân sẽ là chủ thể của tội
phạm.
Trong số bảy tội danh xâm ph
ạm sở hữu trí tuệ có một tội danh đòi hỏi
dấu hiệu chủ thể đặc biệt là Tội vi phạm các qui định về cấp văn bằng bảo 10
hộ quyền sở hữu công nghiệp (Điều 170). Chủ thể của tội phạm là người
có thẩm quyền trong việc cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
tuệ lần lượt được ra đời. Song ở thời kỳ này, mới chỉ có hành vi sản xuất,
buôn bán hàng giả bị coi là tội phạm. Nhà nước ta đã ban hành một số vă
n
bản pháp luật về các tội làm và buôn bán hàng giả như Sắc luật số 01/SL
ngày 19/4/1975, Sắc luật số 03/SL ngày 15/3/1976, Pháp lệnh trừng trị tội
đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày 30/6/1982.
1.3.2. Các qui định của Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự
1999 về xâm phạm sở hữu trí tuệ
BLHS 1985 có ba điều luật qui định về các tội xâm phạm sở hữu trí
tuệ. Đến BLHS 1999, số đ
iều luật đã tăng lên thành bảy điều, trong đó có
ba điều luật được tách ra từ một điều luật cũ và hai điều luật mới được qui
định. 11
Hai điều luật mới được qui định lần đầu tiên trong BLHS 1999 là Điều
170 và Điều 171, qui định tội phạm về sở hữu công nghiệp. Việc bổ sung
này hoàn toàn hợp lý và phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần, cũng như sự xuất hiện của các loại tội phạm mới
trong xã hội.
Theo BLHS 1985 thì người nào có hành vi chiếm đoạt hoặc có hành vi
khác xâm ph
ạm quyền tác giả đối với các tác phẩm khoa học, văn hóa,
nghệ thuật hoặc đối với sáng kiến cải tiến kỹ thuật và hợp lý hóa sản xuất,
sáng chế, phát minh thì sẽ bị truy cứu TNHS (Điều 126). Đến BLHS 1999,
điều kiện truy cứu TNHS đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả được bổ
sung thêm. Một người có các hành vi xâm phạm quyền tác giả chỉ bị coi là
tội phạm và bị
truy cứu TNHS khi gây ra hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị
12
trồng, đặc biệt là nạn sản xuất, buôn bán hàng giả. Hàng giả không chỉ
được sản xuất trong nước mà còn được sản xuất ở nước ngoài sau đó đưa
vào thị trường nội địa tiêu thụ. Trước đây, việc nhái lại kiểu dáng, nhãn
hiệu chỉ được thực hiện trong nước với quy mô nhỏ, lẻ, nhưng hiện nay
việc nhái lại các nhãn mác, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu đã được thự
c
hiện với quy mô lớn hơn nhiều, thậm chí được sản xuất ở nước ngoài. Các
nhãn hiệu nổi tiếng như dầu gội của Unilever Việt Nam; các thiết bị gia
đình của Jorden, Sanwa; phụ tùng ô tô, xe máy của Honda, Toyota,
Daewoo; mỹ phẩm của Essance, Debon, Sisheido; quần áo, giày dép của
Gucci, Nike; đồ điện gia dụng của National… luôn có số lượng hàng giả,
hàng nhái kiểu dáng lớn. Do đây là các nhãn nhiệu đã nổi tiếng và được
khách hàng tin cậy, yêu thích, vì v
ậy bọn tội phạm thường hay làm giả để
đánh lừa người tiêu dùng nhằm thu lợi bất chính.
Trước đây, đối tượng sản xuất hàng giả thường là các hộ gia đình,
làng nghề… và thường sản xuất các loại hàng hóa thông dụng như nước
mắm, bánh kẹo, thuốc lá… Các loại hàng giả thường được sản xuất thủ
công, vì vậy chất lượng và hình thức của hàng giả thường dễ
phân biệt với
hàng thật. Hiện nay, dựa vào trình độ khoa học kỹ thuật phát triển, một số
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất do hám lợi đã sử dụng nhiều thiết bị kỹ thuật
cao để sản xuất các loại hàng giả tinh xảo, đẹp mắt hơn nhằm đánh lừa
người tiêu dùng. Do đó những năm gần đây hiện tượng sản xuất hàng gi
ả
không chỉ xuất hiện ở các hộ kinh doanh cá thể mà còn tập trung ở các nhà
máy, khu công nghiệp ở các thành phố lớn. Hàng giả vì thế mà cũng khó bị
phát hiện hơn.
“hành chính hóa” các vụ án hình sự xảy ra rất nhiều.
Bảo hộ sở hữu trí tuệ hiện nay được coi là vấn đề toàn cầu, là một
trong những yêu cầu không thể thiếu để hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy
nhiên, hiện nay các mức hình phạt mà Tòa án tuyên đối với người phạm
tội chưa đủ nghiêm khắc và chưa tương xứng với hậu quả của những hành
vi phạm tội đã gây ra cho xã hội.
2.2. Thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật về xâm phạm sở
hữu trí tuệ trước khi có BLHS 1985
Mặc dù đến n
ăm 1985 BLHS đầu tiên của nước ta mới ra đời, song
giai đoạn trước đó (trước 1985) hoạt động phòng, chống tội phạm nói
chung, tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ nói riêng cũng đã đạt được một
số kết quả quan trọng. Các hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ chủ yếu xảy ra
đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Các hành vi xâm phạm khác như
xâm phạm quyền tác giả
, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có xảy ra
nhưng với số lượng không đáng kể. Một số văn bản quan trọng được ban
hành trong giai đoạn này là: Sắc luật số 03 năm 1976 của Hội đồng Nhà
nước, Thông tư số 03-BTP/TT tháng 4/1976 của Bộ Tư pháp, Pháp lệnh
trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép ngày
30/6/1982 của Hội đồng Nhà nước, Nghị định số
46-HĐBT ngày
10/5/1983 của Hội đồng Bộ trưởng … Các văn bản pháp luật này phần nào
đã đáp ứng được đòi hỏi thực tế về việc xử lý các hành vi làm và buôn bán
hàng giả. Tuy nhiên, cần sớm ban hành một Bộ luật Hình sự hoàn chỉnh để
có thể điều chỉnh toàn bộ các hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ nói riêng,
các hành vi phạm tội nói chung.
2.3. Thực tiễn áp dụng các qui định của pháp luật v
ề xâm phạm sở
hữu trí tuệ khi có BLHS 1985 và BLHS 1999
u trí tuệ chịu sự tác động mạnh mẽ của điều
kiện kinh tế - xã hội. Nền kinh tế nước ta chuyển từ chế độ bao cấp sang
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tạo ra môi trường thuận lợi cho các
tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ có cơ hội phát triển. Nền kinh tế phát
triển theo hướng mở cửa giúp cho các thành phần kinh tế khác nhau đều có
cơ hộ
i cạnh tranh, phát triển, thúc đẩy sự phát triển của xã hội về mọi mặt.
Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường chính là nguyên nhân phát
sinh tội phạm. Nhiều người xuất hiện tư tưởng cạnh tranh không lành
mạnh, làm ăn gian dối nhằm thu lợi nhuận cao. Hiện tượng “ăn cắp” các
sản phẩm sở hữu trí tuệ vì thế mà ngày càng gia tăng. Các tội phạm xâm
phạm sở hữu trí tuệ
cũng ngày càng phát triển.
Có ý kiến khác cho rằng các tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ có
nguyên nhân chính là do cơ chế quản lý kinh tế của các cơ quan nhà nước
còn thiếu chặt chẽ. Chính sự quản lý lỏng lẻo đó lại là điều kiện thuận lợi
cho các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ phát triển.
Yếu tố tâm lý - xã hội của con người cũng là một nguyên nhân làm
nảy sinh tội phạm. Chính con ng
ười là chủ thể thực hiện hành vi phạm tội.
Con người chịu sự tác động của nhiều yếu tố để dẫn đến quyết định thực
hiện các hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ, nhưng điều quan trọng nhất vẫn là 15
ở chính chủ thể đó, quyết định phạm tội hay không phạm tội là do chính ý
chí chủ quan của con người, không ai có thể quyết định thay họ được.
Lại có ý kiến cho rằng pháp luật là một trong những nguyên nhân
chính làm phát sinh, phát triển tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ. Hệ
thống pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ của nước ta hiện nay còn chồng
lý kinh tế ở nước ta vẫn còn chậm chễ trong việc hoàn thiện cơ cấu tổ chức
và còn khá lỏng lẻo trong việc quản lý việc sản xuất kinh doanh, quản lý
thị trường tiêu thụ.
Sự buông lỏng quản lý, sự thiếu trách nhiệm của các cán bộ quản lý sẽ
là tiền đề và điều ki
ện quan trọng cho tội phạm phát triển. Vì vậy, cần kiện
toàn hệ thống các cơ quan quản lý để đạt được hiệu quả cao nhất trong
công tác đấu tranh phòng, chống các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ.
2.4.4. Sự thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật về đấu tranh phòng
chống các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ 16
Hiện nay, các qui định về sở hữu trí tuệ và hành vi xâm phạm sở hữu
trí tuệ còn chưa tập trung, mà rải rác trong quá nhiều văn bản như Hiến
pháp 1992, Bộ luật Dân sự 2005, Luật Sở hữu trí tuệ 2005, Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính năm 1997 (sửa đổi bổ sung năm 2002, 2008), Bộ luật
Hình sự 1999, Luật Khoa học và Công nghệ 2000, Pháp lệnh Giống cây
trồng 2004, Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, Bộ
luật Tố tụng dân sự 2005,
Luật Hải quan 2002… và nhiều văn bản hướng dẫn khác.
Việc sửa đổi, bổ sung hệ thống các văn bản pháp luật cho phù hợp với
xu hướng phát triển của tình hình tội phạm có ý nghĩa quyết định đối với
diễn biến của tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ.
2.4.5. Những hạn chế từ phía các cơ quan bảo vệ
pháp luật
Hiện nay nước ta có đến sáu loại cơ quan cùng có thẩm quyền xử phạt
vi phạm về xâm phạm sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa các cơ
quan này trong công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm xâm phạm
sở hữu trí tuệ còn chồng chéo, mạnh ai nấy làm, chưa thực sự phù hợp. Để
phạm;
- Những kết quả nghiên cứu về nguyên nhân và điều kiện của tình
hình tội phạm, những thay đổi của chúng trong tương lai;
- Hệ thống pháp luật hiện hành và việc hoàn thiện nó trong tương lai
ảnh hưởng đối với tình hình tội phạm;
- Những tư liệu về kết quả đấu tranh chống tội phạ
m cũng như hiệu
quả hoạt động phòng, chống tội phạm của hệ thống tội phạm hình sự;
- Những tư liệu về kinh tế, chính trị và tâm lý xã hội đã, đang và sẽ
ảnh hưởng đối với tình hình tội phạm.
Dự báo tình hình tội phạm phải thực sự được coi là một trong những
hoạt động quan trọng của Nhà nước trong việc hoạch định chính sách kinh
tế, xã hội.
3.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến tình hình các tội xâm phạm sở hữu
trí tuệ
Trong những năm tới nền sản xuất của nước ta vẫn ở trong tình trạng
cung không đủ cầu, lượng hàng hóa sản xuất ra ngày càng phong phú và đa
dạng, nhiều người đã biết nắm bắt cơ hội để làm ăn kinh tế và giàu lên
nhanh chóng. Nhưng cũng có một số lượng không nh
ỏ những người lâm
vào tình trạng phá sản, bần cùng hóa. Đây có thể là một lực lượng bổ sung
vào những đường dây sản xuất, buôn bán hàng giả, sao chép, xuất bản sách
báo, băng đĩa lậu. Khi đó tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ sẽ
gia tăng rất mạnh và diễn biễn phức tạp hơn nhiều.
Nhiều cơ sở sản xuất đã lợi dụng chính sách mở c
ửa hội nhập của
Đảng và Nhà nước ta để móc nối với các cơ sở sản xuất ở nước ngoài nhập
nguyên liệu rẻ tiền vào trong nước hoặc sản xuất hàng giả ngay ở nước
ngoài rồi nhập khẩu vào trong nước để đánh lừa người tiêu dùng.
Tổng hợp các yếu tố có tác động mạnh mẽ đến tình hình các tội xâm
công nghiệp, khu chế xuất, khu vực giáp ranh giữa thành thị và nông thôn,
khu đông dân cư, các làng nghề tập trung ở các thành phố lớn…
Từ các dự báo về tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ trong
thời gian tới hy vọng các cơ quan chức năng sẽ sớm có biện pháp giải
quyết để công tác đấu tranh phòng, chố
ng tội phạm xâm phạm sở hữu trí
tuệ đạt kết quả cao nhất.
3.2. Nhu cầu và quan điểm hoàn thiện các giải pháp nhằm đấu
tranh phòng, chống có hiệu quả các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ
Nhà nước phải coi pháp Luật Hình sự là công cụ sắc bén nhất của
mình trong việc bảo hộ sở hữu trí tuệ và việc thực thi quyền của các chủ sở
hữu trên thực t
ế. Việc hoàn thiện hệ thống pháp Luật Hình sự đang là yêu
cầu cấp thiết cần được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đẩy mạnh hơn nữa.
Một xã hội không có tội phạm không chỉ là một xã hội bình yên mà còn là
một xã hội giàu mạnh và ổn định về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa và
xã hội.
3.3. Hoàn thiện pháp Luật Hình sự nhằm đấu tranh phòng, chống
các tội xâm phạm sở hữ
u trí tuệ
3.3.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự qui định về các tội xâm phạm sở
hữu trí tuệ
Theo tác giả nên sửa đổi, bổ sung các qui định của BLHS về cấu thành
các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ như sau:
Thứ nhất, nên qui định bảy tội xâm phạm sở hữu trí tuệ trong cùng
một chương.
Thứ hai, đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả Điều 156 BLHS
1999.
Điều luật qui định số lượng hàng giả phải tương đương với số lượng
của hàng thật có giá trị từ 30 triệu đồng trở lên hoặc dưới 30 triệu đồng
đến quyền tác giả và tội xâm phạm quyền đối với giống cây trồng.
Thứ tám, cần có sự phân biệt rõ ràng giữa tội sản xuất, buôn bán hàng
giả Điều 131 với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp Điều 171 BLHS
1999. Như vậy, hàng giả hiện nay có thể chia thành ba loại: hàng giả về
nội dung, hàng giả về hình thức, hàng giả cả
về nội dung và hình thức. Tuy
nhiên, hàng giả về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc,
xuất xứ hàng hóa, nhãn hàng hóa lại là đối tượng bảo vệ của Điều 171, tội
xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Trên thực tế các nhà thực thi pháp
luật chưa phân định rõ ràng hai loại tội phạm này.
3.3.2. Hoàn thiện hoạt động áp dụng pháp luật
Ngoài việc sửa đổi, bổ sung các qui định của BLHS về các t
ội xâm
phạm sở hữu trí tuệ cần tiếp tục hoàn thiện các qui định pháp luật về sở
hữu trí tuệ và xử lý vi phạm sở hữu trí tuệ trong các hệ thống pháp luật
chuyên ngành khác cũng như việc áp dụng pháp luật trong thực tế. Hiện
nay, các qui định về các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều điểm
yếu, dẫn đến hiệu quả thực thi còn h
ạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu 20
bảo vệ sở hữu trí tuệ một cách đầy đủ. Đây sẽ là một trong những bất lợi
cho Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
3.4. Hoàn thiện một số giải pháp khác nhằm đấu tranh phòng,
chống có hiệu quả các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ
3.4.1. Giải pháp về Kinh tế - Xã hội
Mục đích chủ yếu của người phạm tội khi thự
c hiện các hành vi xâm
phạm sở hữu trí tuệ là vì lợi nhuận do những hành vi đó đem lại là vô cùng
Nâng cao vai trò của ngành Công an.
Cơ quan Công an là cơ quan đầu tiên tiế
p nhận các nguồn tin tố giác
về tội phạm. Vì vậy, cần tổ chức hệ thông tiếp nhận thông tin một cách
thuận tiện nhất như đường dây điện thoại nóng, hòm thư tố giác tội
phạm… 21
Cần nâng cao trình độ chuyên môn và đặc biệt là biện pháp nghiệp vụ
trong công tác điều tra cho cơ quan Công an.
Trong quá trình điều tra, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa hoạt động
của lực lượng cảnh sát điều tra với lực lượng cảnh sát kinh tế. Các tội
phạm xâm phạm sở hữu trí tuệ có mục đích phạm tội chủ yếu là lợi nhuận,
gây ảnh hưở
ng trực tiếp đến nền kinh tế. Vì vậy, phải có sự phối hợp trao
đổi thông tin nhịp nhàng giữa cảnh sát điều tra và cảnh sát kinh tế để thực
hiện tốt nghiệp vụ điều tra. Cần trang bị đầy đủ cho lực lượng cảnh sát
điều tra các thiết bị máy móc hiện đại để phục vụ tốt hoạt động giám định
chất lượng hàng hóa.
Nâng cao vai trò củ
a hệ thống cơ quan Viện kiểm sát.
Viện kiểm sát cũng có trách nhiệm tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội
phạm do các cơ quan, tổ chức và cá nhân chuyển đến. Vì vậy, ngành kiểm
sát cần làm tốt công tác xử lý các thông tin về tội phạm đã tiếp nhận, đưa
ra các biện pháp xử lý kịp thời, đúng đắn.
Viện kiểm sát cũng cần chủ động tiến hành các biện pháp kiểm tra,
giám sát th
ị trường để kịp thời phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật.
Từ đó có biện pháp xử lý nhanh chóng, đúng đắn, giảm tối thiểu hậu quả
hữu trí tuệ cho các Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân là một đòi hỏi có tính
cấp bách cần thực hiện.
Nâng cao vai trò của hệ thống các cơ quan quản lý thị trường
Không nằm trong hệ thống các cơ quan tư pháp nhưng vai trò của cơ
quan quản lý thị tr
ường đối với công tác đấu tranh phòng, chống các tội
xâm phạm sở hữu trí tuệ. Nâng cao vai trò của các cơ quan quản lý thị
trường trong công tác đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng
vi phạm sở hữu trí tuệ là một yêu cầu cấp thiết.
Nâng cao vai trò của cơ quan Hải quan.
Trên thực tế, Hải quan các nước trên thế giới đều có vai trò là cơ quan
duy nhất có chức năng, quyền hạn làm thủ tục hải quan và kiể
m tra, kiểm
soát hàng hóa xuất, nhập khẩu, hành khách, phương tiện vận tải xuất cảnh,
nhập cảnh, quá cảnh. Chính vì vậy, Hải quan là cơ quan có lợi thế nhất
trong việc thực hiện các biện pháp kiểm tra, kiểm soát biên giới chống vi
phạm sở hữu trí tuệ. Hải quan là cơ quan có thể ngăn chặn ngay từ biên
giới các hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ.
3.4.4. Giải pháp về tuyên truyền, phổ biến, giáo d
ục pháp luật cho
người dân
Vai trò của người tiêu dùng trong cuộc đấu tranh phòng, chống các tội
xâm phạm sở hữu trí tuệ là vô cùng to lớn. Do đó cần tăng cường công tác
tuyên truyền, phổ biến giáo dục người dân tích cực tham gia phòng ngừa
và đấu tranh chống sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng hóa xâm phạm sở
hữu trí tuệ. Nên đưa nội dung giáo dục vào nhà trường, tổ chức các cuộc
thi tìm hiểu pháp luật về sở hữu trí tuệ trong các doanh nghi
ệp, cơ quan,
đoàn thể, đồng thời kết hợp với các phương tiện thông tin đại chúng để
tuyên truyền. Từ đó xây dựng ý thức, trách nhiệm của người dân trong