Đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp - Pdf 25

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
*** NGUYỄN THỊ HOÀNG YẾN

ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG CÁC TỘI XÂM PHẠM
HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 60 38 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. ĐỖ NGỌC QUANG


hoạt động tư pháp 45
Chương 3 : NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG
CHỐNG CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
3.1. Nhóm giải pháp về hoàn thiện hệ thống pháp luật 68
3.2. Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp 73
3.3. Nhóm giải pháp về công tác cán bộ của các cơ quan tư pháp 78
3.4. Nhóm giải pháp về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
đối với các cơ quan tư pháp 84
3.5. Nhóm giải pháp về phát hiện, điều tra, khám phá, xử lý 88
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO

4
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài.
Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã
khẳng định nhiệm vụ mang tính chiến lược là xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực sự của dân, do dân và vì dân. Trước nhiệm
vụ xây dựng nhà nước pháp quyền nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ Công
nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định
quyết tâm chính trị mạnh mẽ về thực hiện chủ trương và triển khai các nhiệm
vụ cải cách tư pháp nhằm một mục tiêu nâng cao chất lượng công tác tư pháp
vì sự phát triển chung của đất nước.
Trên cơ sở cải cách kinh tế - thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta đang từng bước tiến hành
cải cách hệ thống chính trị (cải cách lập pháp, cải cách nền hành chính Quốc

nền kinh tế thị trường cũng làm nảy sinh hàng loạt các vấn đề mà chúng ta
cần quan tâm. Đó là vấn đề gia tăng của tình hình tội phạm nói chung cũng
như việc gia tăng các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp. Ngoài những ưu
điểm đem lại cho sự phát triển kinh tế, nền kinh tế thị trường cũng mang trong
mình những mặt tiêu cực của xã hội: sự suy đồi về đạo đức, đánh mất đạo đức
nghề nghiệp, tham nhũng, đua đòi theo lối sống xa hoa, buông thả, vô trách
nhiệm, của một số cá nhân trong các cơ quan công quyền cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng của tội phạm xâm phạm hoạt động
tư pháp trong những năm gần đây.
Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị ngày 02 tháng 06 năm 2005
"về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" đã nói nên tình hình công tác
tư pháp trong những năm vừa qua: "Trong những năm qua, thực hiện các
Nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết 08-NQ/TW, ngày 02/01/2002 của
Bộ Chính trị "về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
6
tới", công cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, tổ chức lãnh đạo và tổ
chức thực hiện với những quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả. Nhận thức
và sự quan tâm đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích
cực; chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên một bước, góp phần giữ
vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự
phát triển kinh tế, hội nhập quốc tê, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, những kết quả đó mới chỉ là bước đầu và mới tập trung vào
giải quyết những vấn đề bức xúc nhất. Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn
chế, Chính sách hình sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng tư
pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung. Tổ chức bộ máy, chức
năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý.
Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản

và thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp ở nước ta trong những năm qua để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và yêu
cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn.
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
và thông qua thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm hoạt
động tư pháp. Trên cơ sở giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn diễn biến
của các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp từ năm 2000 đến năm 2005, từ
đó đánh giá thực trạng tình hình loại tội phạm này, những kết quả đã đạt
được, những điểm còn tồn tại, và làm rõ nguyên nhân gây nên những tồn tại
trong đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp.
Nghiên cứu và tìm hiểu những quy luật vận động nội tại, qua đó đưa ra một số
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm
phạm hoạt động tư pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
8
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về các tội xâm
phạm hoạt động tư pháp, thống nhất quan điểm về đấu tranh phòng chống các
tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, thực tiễn công tác đấu tranh phòng
chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong thời gian qua và một số giải
pháp đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.
9
5. Cơ sở khoa học của đề tài.
- Cơ sở lý luận: Đề tài thực hiện dựa trên: những cơ sở lý luận là thành

về mặt lý luận, tiếp đến là những vấn đề thực tiễn và cuối cùng, đưa ra các
giải pháp đấu tranh phòng chống các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
- Chương 1: Thống nhất quan điểm về đấu tranh phòng, chống các tội
phạm xâm phạm hoạt động tư pháp
- Chương 2: Tình hình và kết quả đấu tranh phòng chống các tội phạm
xâm phạm hoạt động tưpháp từ năm 2000 đến năm 2005
- Chương 3: Những giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống
các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp.
11
Chương 1: THỐNG NHẤT QUAN ĐIỂM VỀ ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG
CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

1.1. Nhận thức chung về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
1.1.1. Vài nét lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội
phạm xâm phạm hoạt động tư pháp.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong những năm tháng đầu
tiên sau khi giành được độc lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non
trẻ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Nền kinh tế đất nước vốn rất nghèo
nàn, lạc hậu, vừa trải qua nạn đói năm 1945, nền tài chính kiệt quệ, hầu như
không có gì, 95% dân số toàn quốc hoàn toàn mù chữ. Trong khi đó, nguy cơ
ngoại xâm từ bên ngoài lấy danh nghĩa đồng minh vào giải giáp quân đội
Nhật. Khoảng 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch mượn danh nghĩa Đồng Minh
vào giải giáp quân đội Nhật. Ở miền Nam, quân đội Pháp được quân Anh yểm
trợ xâm lược chiếm Sài Gòn. Bên trong đất nước, bọn phản động người Việt
được sự trợ giúp của đế quốc ngoại bang và tàn quân của chế độ cũ nổi dậy
chống phá nhằm lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ để thành lập một chính
phủ phản động làm tay sai cho chúng. Đứng trước tình hình đó, nhân dân ta

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất
nước ta bị chia làm hai miền: miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, còn miền
Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai Ngô Đình Diệm thống trị. Trước
tình hình đó, pháp luật hình sự thời kỳ này phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến
lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và tiến hành cách
mạng dân tộc giải phóng miền Nam. Miền Bắc tiến hành cách mạng xã hội
chủ nghĩa, xây dựng miền Bắc thành căn cứ vững mạnh của cách mạng cả
nước. Đảng và Nhà nước tiến hành cuộc cải cách ruộng đất rộng khắp trên
toàn miền Bắc. Để đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm
đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân, Chính phủ đã ban hành Luật số
13
103/SL-005 ngày 20/5/1953. Sắc lệnh này quy định trách nhiệm hình sự đối
với hành vi tra tấn, dùng nhục hình cũng như một số hành vi khác xâm phạm
đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tư pháp, cụ thể Điều 14 quy định: "Đối
với những người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam tuyệt đối nghiêm cấm tra tấn
hoặc dùng bất cứ nhục hình nào", "Nếu phạm tội tra tấn, dùng nhục hình sẽ
bị xử theo hình luật chung". Điều 16 Sắc lệnh cũng quy định chế tài đối với
hành vi bắt, giam người, khám đồ vật, nhà ở thư tín trái đạo luật này thì tùy
trường hợp có thể bị thi hành kỷ luật hành chính hoặc bị xử phạt từ 15 ngày
đến ba năm tù. Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967,
Điều 17 quy định: "Kẻ nào biết rõ phần tử phản cách mạng mà chưa chấp
che giấu, tiếp tế, giúp đỡ cho chúng lẩn trốn hoặc cất giấu tang vật thủ tiêu
chứng cứ phạm tội của chúng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm".
Kể từ khi miền Bắc tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, số
lượng tài sản Nhà nước chiếm tỷ lệ lớn trong nền kinh tế quốc. Mặt khác, thời
kỳ này, nền kinh tế Việt Nam mang đậm tính chất kinh tế bao cấp, tội phạm
về kinh tế và tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa gia tăng nhiều.

xử phạt từ 1 năm đến 7 năm tù". Trong nội dung của Thông tư này cũng có
một số quy định về những hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp khác như:
các hành vi bắt, giam người trái phép, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật
trái phép do người có chức vụ quyền hạn thực hiện thì bị xử theo quy định của
Điều 7 Sắc luật số 03/SL-76 ngày 15/3/1976, cụ thể như sau: "Tội lạm dụng
chức vụ, quyền hạn và tội nhận hối lộ có hai mức hình phạt từ 6 tháng đến 5
năm hoặc đến 15 năm"; hoặc hành vi trốn trại giam hoặc tổ chức cho kẻ khác
trốn trại giam không vì mục đích phản cách mạng thì bị xử theo Điều 9 Sắc
luật số 03 về tội xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng với hình
phạt tù từ ba tháng đến năm năm, phạt tiền đến 1000 đồng và có thể bị tịch
thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
15
Như vậy, từ năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần
thứ nhất (năm 1985), các tội xâm phạm hoạt động tư pháp cũng đã được pháp
luật hình sự quy định. Tuy nhiên, những quy định này mới chỉ nằm rải rác ở
một số văn bản pháp luật hình sự đơn hành chứ chưa có một văn bản quy
phạm pháp luật hình sự nào quy định về nhóm tội phạm này một cách có hệ
thống và cụ thể những hành vi nào là hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp.
Do vậy, quy định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp chưa có tính hệ thống, thiếu cụ thể, còn thiếu nhiều, tản mạn và chưa đề
cập được hết các khía cạnh và sự phức tạp của các hành vi xâm phạm hoạt
động tư pháp dẫn đến việc gặp nhiều khó khăn trong quá trình xử lý các tội
phạm này. Đứng trước yêu cầu của tình hình mới, khi đất nước hoàn toàn
thống nhất, cả nước thực hiện nhiệm vụ bảo vệ những thành quả cách mạng,
bảo vệ chế độ chủ nghĩa xã hội, xây dựng nền kinh tế nước nhà, cùng với việc
hoàn thiện hệ thống các cơ quan tư pháp thì vấn đề đấu tranh phòng chống tội
phạm nói chung và phòng chống các hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn

- Tội bức cung (Điều 235);
- Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án (Điều 236);
- Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn (Điều 237);
- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn tha trái pháp luật người bị tạm giam
(Điều 238);
- Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn giam người trái pháp luật (Điều
239);
- Tội không chấp hành án (Điều 240);
- Tội cản trở việc thi hành án (Điều 240);
- Tội cung cấp tài liệu sai sự thật (Điều 241);
- Tội khai báo gian dối (Điều 241);
- Tội từ chối khai báo (Điều 242);
- Tội từ chối kết luận giám định (Điều 242);
17
- Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác cung cấp tài liệu sai sự
thật, khai báo gian dối (Điều 243);
- Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản (Điều 244);
- Tội trốn khỏi nơi giam (Điều 245);
- Tội che giấu tội phạm (Điều 246);
- Tội không tố giác tội phạm (Điều 247).
Lần đầu tiên khái niệm pháp lý về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp
được ghi nhận một cách hoàn chỉnh trong Bộ luật hình sự. Trong các văn bản
trước khi có Bộ luật hình sự chưa đưa ra khái niệm về các tội phạm này mà
mới chỉ quy định các hành vi cụ thể bị nghiêm cấm. Theo Điều 230 Bộ luật
hình sự năm 1985 quy định: "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những
hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét
xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của tổ chức xã

Trên cở sở thực tiễn và tình hình tội phạm đã xảy ra trong những năm
trước và dự báo tình hình tội phạm trong những năm tiếp theo, Bộ luật hình
sự năm 1985 lần đầu tiên quy định một cách thống nhất, tổng thể và có hệ
thống về tội phạm và hình phạt, quy định khá đầy đủ các hành vi nguy hiểm
cho xã hội ở mức độ đáng kể bị coi là tội phạm. Việc quy định các tội phạm
xâm phạm hoạt động tư pháp thành một chương riêng trong Bộ luật cho thấy
ý nghĩa quan trọng cụ thể hóa những quy định về chức năng, nhiệm vụ, vị trí,
vai trò của các cơ quan tư pháp bằng các quy phạm pháp luật hình sự nhằm
bảo vệ cho hoạt động của các cơ quan này khỏi các hành vi xâm hại.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, phù hợp với những đổi mới
của xã hội, Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào
các năm 1989, 1991, 1992 và 1997. Tuy nhiên, riêng về chương các tội xâm
phạm hoạt động tư pháp thì vẫn tương đối ổn định, chỉ có tội không tố giác
tội phạm và tội che giấu tội phạm là có thay đổi chút ít.
19
Qua 15 năm thực hiện, Bộ luật hình sự năm 1985 đã góp phần to lớn vào
công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có
những đóng góp không nhỏ vào thành công chung của đất nước, giữ vững an
ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1985 bộc
lộ những hạn chế nhất định, chưa phù hợp với tình hình thực tiễn, chưa chính
xác về mặt khoa học. Nhiều tội danh quy định quá chung chung, bố cục một
số chương, điều chưa hợp lý; những hành vi phạm tội có tính chất, mức độ
nguy hiểm khác nhau lại được để cùng một điều luật, một tội danh với một
chế tài xử phạt; khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa trong khung
hình phạt của nhiều điều luật quá dài đã tạo ra những sơ hở nhất định, dẫn đến
sự tùy tiện khi áp dụng, hiệu quả xử lý không nghiêm, không thống nhất trong
việc áp dụng hình phạt.

luật tách các hành vi được quy định trong cùng một điều (trong Bộ luật hình
sự trước đây) thành những điều luật riêng biệt. Cụ thể: tách tội không chấp
hành án, tội cản trở việc thi hành án (Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985)
thành 2 điều: tội không chấp hành án (Điều 304) và tội cản trở việc thi hành
án (Điều 306); tách tội ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật (Điều 232 Bộ
luật hình sự năm 1985) thành 2 điều: tội ra bản án trái pháp luật (Điều 295) và
tội ra quyết định trái pháp luật (Điều 296). Lý do của việc tách thành 2 điều
riêng biệt là chủ thể và mặt khách quan của hai tội không giống nhau cho nên
quy định trong cùng một điều là không khoa học và hợp lý.
Về chính sách xử lý, hình phạt áp dụng đối với các tội phạm này, đặc biệt
là các tội phạm do cán bộ tư pháp thực hiện bị xử lý nghiêm khắc hơn so với
quy định của Bộ luật hình sự năm 1985. Ví dụ, các tội truy cứu trách nhiệm
hình sự người không có tội, tội bức cung, tội dùng nhục hình, v.v đều tăng
mức hình phạt lên so với trước đây. Hầu hết các điều luật được quy định thêm
nhiều khung hình phạt, cách quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho việc cá
thể hóa hình phạt đối với các loại tội phạm khác nhau căn cứ vào mức độ
21
nguy hiểm của hành vi. Hình phạt bổ sung không quy định thành một điều
luật riêng biệt mà được quy định ngay trong từng điều luật cụ thể.
Một điểm rất quan trọng thuộc chính sách hình sự của Nhà nước ta đối
với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là loại trừ trách nhiệm hình sự về
việc không tố giác tội phạm trong những trường hợp là ông bà, cha mẹ, con
cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội. Điều này thể hiện
nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nhà nước ta.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm phạm hoạt động
tư pháp trong Bộ luật hình sự 1999.
Trong cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

292 đến Điều 314). Với việc quy định trong Bộ luật hình sự các hành vi cụ
thể bị coi là tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp trong một chương riêng và
các chế tài pháp lý hình sự tương ứng là điều rất cần thiết và hợp lý, đã tạo
điều kiện cho công tác phòng ngừa tội phạm và xử lý được chính xác. Tại
Điều 292 Bộ luật hình sự năm 1999 có quy định về khái niện tội xâm phạm
hoạt động tư pháp "Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi
xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và
thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân". Từ khái niệm và các tội phạm được quy định ở
chương này, các dấu hiệu pháp lý các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được
thể hiện ở những điểm chính sau đây:
Thứ nhất, khách thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là sự xâm
phạm vào hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và
thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, công dân.
Điểm chung có tính chất phổ biến trong các nhà luật học nước ta là khi
đề cập đến tư pháp, hoạt động tư pháp có nghĩa đề cập một trong ba quyền cơ
bản nhất của hệ thống quyền lực Nhà nước (quyền lập pháp, quyền hành
23
pháp, quyền tư pháp) liên quan đến những công việc bảo vệ pháp luật, đảm
bảo pháp luật đã được ban hành phải được tuân thủ một cách nghiêm chỉnh
trên các lĩnh vực khác nhau của sinh hoạt xã hội, mà đỉnh cao của tư pháp thể
hiện bằng hoạt động xét xử của Tòa án trong việc nhân danh Nhà nước đưa ra
bản án, quyết định và đảm bảo các biện pháp thi hành bản án, quyết định đó.
Nếu như tư pháp là những công việc bảo vệ pháp luật, thì hoạt động tư
pháp, không có gì khác là hoạt động bảo vệ pháp luật, trong đó họat động xét
xử của Tòa án được thừa nhận là nơi biểu hiện tập trung nhất quyền tư pháp

tuân thủ quy định của pháp luật. Các cơ quan này có nhiệm vụ đấu tranh
chống và phòng ngừa tội phạm cũng như các vi phạm pháp luật khác, giải
quyết các vụ án dân sự, hành chính, lao động, kinh tế v.v , đảm bảo việc thi
hành các bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án. Không một cơ quan hay
bất kỳ một cá nhân nào được phép xâm hại đến hoạt động đúng đắn của các
cơ quan tư pháp, những hành vi can thiệp, gây khó khăn, cản trở. Việc xâm
phạm ở đây chính là làm cho hoạt động của các cơ quan này bị sai lệch,
không đúng quy định của pháp luật, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại
cho quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công
dân. Đối tượng bảo vệ của Luật hình sự không chỉ là hoạt động của Tòa án
trong việc thực hiện nhiệm vụ xét xử mà còn bao gồm cả những hoạt động
của các cơ quan Viện kiểm sát, Công an, Thi hành án và một số cơ quan, tổ
chức bổ trợ tư pháp.
Thứ hai, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp thể hiện bằng những hành
vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử
và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của tổ chức, công dân.
Tội phạm nói chung bao giờ cũng thể hiện bằng hành vi nguy hiểm cho
xã hội. Tính nguy hiểm của hành vi được thể hiện ở chỗ, hành vi này gây hậu
quả nghiêm trọng cho quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Trong
25
các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, hành vi nguy hiểm được thể hiện ở chỗ:
hành vi này tác động đến hoạt động tư pháp cụ thể là làm cho hoạt động điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án không được thực hiện theo đúng quy định
của pháp luật. Có thể phân chia hành vi nguy hiểm trong các tội xâm phạm
hoạt động tư pháp thành hai loại: loại thứ nhất, hành vi biểu hiện dưới dạng
lợi dụng chức vụ quyền hạn hoặc lạm dụng quyền của những người có chức

cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc. Đa số các tội phạm xâm phạm hoạt động tư
pháp đều có cấu thành tội phạm hình thức, trừ tội thiếu trách nhiệm để người
bị giam, giữ trốn (Điều 301).
Đối với nhóm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, hậu quả của hành
vi nguy hiểm thể hiện ở chỗ, gây thiệt hại cho quyền lợi của Nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, cụ thể là làm cho hoạt động tư
pháp không được thực thi theo pháp luật, dẫn đến bỏ lọt tội phạm, làm oan
người vô tội, làm cho cán cân công lý bị sai lệch, pháp chế xã hội chủ nghĩa
bị vi phạm, cản trở công cuộ xaay dựng nhà nước pháp quyền, vi phạm hiến
pháp: “Mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” (Điều 12 Hiến
pháp).
Thứ ba, các hành vi trong tội xâm phạm hoạt động tư pháp đều là
những hành vi có lỗi, được thực hiện với nhiều động cơ, mục đích khác nhau.
Trong cuộc sống xã hội, mọi hành vi của con người bao giờ cũng có ý
thức, là sự phản ánh trạng thái tâm lý bên trong của con người đó. Khoa học
luật hình sự coi lỗi là dấu hiệu định tội của tất cả các cấu thành tội phạm.
Nguyên tắc có lỗi là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự,
không ai bị coi là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự nếu người đó
không có lỗi. Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho
xã hội và đối với hậu quả của hành vi ấy gây ra cho xã hội thể hiện dưới dạng

Trích đoạn Nhóm giải pháp về tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp Nhóm giải pháp về công tác cán bộ của các cơ quan tư pháp Nhóm giải pháp về công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối với các cơ quan tư pháp Nhóm giải pháp về phát hiện, điều tra, khám phá, xử lý
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status