Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ yếu là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh đắk lắk) - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN DUY THUẤN

C¸C TéI X¢M PH¹M HO¹T §éNG T¦ PH¸P Mµ CHñ THÓ
Lµ NH÷NG NG¦êi TRONG C¸C C¥ QUAN TIÕN HµNH Tè TôNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN DUY THUẤN

C¸C TéI X¢M PH¹M HO¹T §éNG T¦ PH¸P Mµ CHñ THÓ
Lµ NH÷NG NG¦êi TRONG C¸C C¥ QUAN TIÕN HµNH Tè TôNG

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. ĐỖ NGỌC QUANG

HÀ NỘI - 2015



1.1.2.

Khái niệm hoạt động tư pháp ............................................................ 10

1.1.3.

Khái niệm người trong các cơ quan tiến hành tố tụng ...................... 12

1.1.4.

Khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là
người tiến hành tố tụng ...................................................................... 16

1.2.

Quá trình phát triển của pháp luật hình sự về các tội xâm
phạm hoạt động tƣ pháp mà chủ thể là ngƣời trong các cơ
quan tiến hành tố tụng ..................................................................... 18

1.2.1.

Giai đoạn 1945 đến 1975................................................................... 18

1.2.2.

Giai đoạn 1976 đến 1999................................................................... 22

1.3.

Quy định của bộ luật hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm

2.1.1.

Kết quả và những tồn tại trong điều tra, truy tố và xét xử đối
với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người
trong các cơ quan tiến hành tố tụng .................................................. 56

2.1.2.

Những nguyên nhân gây nên những tồn tại trong việc áp dụng
pháp luật đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ
thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng ................................. 67

Chƣơng 3: NHỮNG ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CÁC TỘI
XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP MÀ CHỦ THỂ LÀ
NGƢỜI TRONG CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG ....... 74
3.1.

Quan điểm của Đảng và nhà nƣớc trong đấu tranh với các
tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp mà chủ thể là ngƣời
trong các cơ quan tiến hành tố tụng .............................................. 74

3.2.

Hoàn thiện pháp luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tƣ
pháp mà chủ thể là ngƣời trong các cơ quan tiến hành tố tụng .......... 80

3.4.

Các đề xuất, kiến nghị khác ............................................................ 92


Cải cách tư pháp là một đòi hỏi khách quan, cấp thiết và mang tính quy
luật để có thể thích ứng với những đổi mới về văn hóa, kinh tế, xã hội và hệ
thống chính trị. Vấn đề này đã chính thức được đặt ra tại nhiều Đại hội của
Đảng, đồng thời đã được đánh dấu và ghi nhận trong các Nghị quyết 8 Trung
ương khóa VII, Nghị quyết 3 và 7 Trung ương khóa VIII và đặc biệt là Nghị
quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác
tư pháp trong thời gian tới”; Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,
định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ
Chính trị “Về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.
Do tố tụng hình sự được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền mà hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng là hoạt động quyền lực
Nhà nước do những người đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng thực
hiện như: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra
viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên; Chánh án,
Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án. Những năm
qua, trong tiến trình tổng thể cải cách đất nước nói chung và cải cách tư pháp
nói riêng thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở nước ta đã đạt
được những thành tựu đáng kể, nhất là trong công tác phát hiện, đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm đã hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà
nước giao cho. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong khi
thực hiện nhiệm vụ tư pháp đã xuất hiện không ít hành vi xâm phạm hoạt
động tư pháp của người tiến hành tố tụng trong các cơ quan tiến hành tố tụng.
Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả của hoạt động tư pháp, mà còn gây

1


mất lòng tin của nhân dân vào các cơ quan tư pháp, vào công lý, lẽ phải. Vì
vậy, việc nghiên cứu các tội xâm phạm hoạt động tư pháp nói chung và với

nay hoặc nghiên cứu các tội xâm phạm hoạt động tư pháp với tư cách là đối
tượng của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Chưa có công
trình khoa học nào nghiên cứu sâu về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà
chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận những nội dung cơ
bản của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ
quan tiến hành tố tụng và thực trạng đấu tranh chống các tội phạm này theo
quy định của Luật hình sự Việt Nam trong những năm gần đây. Trên cơ sở
đó, luận văn đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống các
tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến
hành tố tụng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Về mặt lý luận: trên cơ sở nghiên cứu quy định về các tội xâm phạm
hoạt động tư pháp trong lịch sử phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam và
các quy định về người tiến hành tố tụng và các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp trong Luật hình sự một số nước trên thế giới, phân tích khái niệm, các
yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là
người trong các cơ quan tiến hành tố tụng trong Bộ luật hình sự năm 1999
hiện hành để làm sáng tỏ bản chất pháp lý và những nội dung cơ bản của các
tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến
hành tố tụng theo luật tố tụng hình sự Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: nghiên cứu, phân tích và đánh giá những vụ việc của
các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã có những sai phạm trong quá trình
thực thi pháp luật. Đồng thời phân tích những hạn chế, tồn tại và vướng mắc

3



Về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần vào việc xác định đúng đắn những
yếu tố cấu thành tội phạm của từng tội danh cụ thể trong chương Các tội xâm
phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng
cũng như nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy phạm pháp luật này và nêu ra
các đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh chống các
tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành
tố tụng. Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa tham khảo cho cán bộ và học viên
trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập về vấn đề này.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề chung về các tội xâm phạm hoạt động tư
pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng
Chương 2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm
hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan tiến hành tố tụng
Chương 3. Những đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả đấu tranh với
các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là người trong các cơ quan
tiến hành tố tụng

5


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
HOẠT ĐỘNG TƢ PHÁP MÀ CHỦ THỂ LÀ NGƢỜI
TRONG CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG
1.1. Những khái niệm có liên quan
1.1.1. Khái niệm cơ quan tư pháp
Quyền tư pháp cùng với quyền lập pháp và quyền hành pháp hợp thành
quyền lực nhà nước thống nhất của một quốc gia. Cơ quan tư pháp, với những

126 Hiến pháp năm 1992 quy định: Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân
dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của
mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội
chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của
tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công
dân. Hiến pháp năm 2013 không có điều luật chung quy định về Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân, nhưng có các điều luật riêng xác định chức năng
của các cơ quan này. Tại Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: Tòa án
nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền tư pháp. Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ
quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Điều 107
Hiến pháp 2013 quy định: Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố,
kiểm sát hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp
luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống
nhất. Như vậy, tuy không nêu rõ, nhưng Tòa án nhân dân và Viện Kiểm sát
nhân dân được gọi là các cơ quan tư pháp.

7


Trong thực tế, tại các văn kiện của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt
động của bộ máy nhà nước nói chung hay Nghị quyết về công tác tư pháp nói
riêng, cụm từ cơ quan tư pháp được sử dụng nhiều, nhưng cũng không có văn
bản nào xác định một cách thống nhất, rõ ràng cơ quan tư pháp gồm những cơ
quan nào. Ở mỗi thời điểm khác nhau, thuật ngữ cơ quan tư pháp được xác
định và thể hiện trong các văn bản cũng khác nhau. Nghị quyết số 08NQ/TW, ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác tư pháp trong thời gian tới”, khi đề cập đến việc nâng cao chất lượng

chứng, giám định tư pháp...). Ngoài ra, trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, Bộ
Tư pháp được giao chủ trì xây dựng một số văn bản luật liên quan trực tiếp
đến hoạt động tư pháp (như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật thi hành án,
Luật luật sư...), là thành viên tham gia và thẩm định tất cả các văn bản pháp
luật làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Điều này đặt ra cần hiểu đúng thế nào là cơ quan tư pháp.
Theo lý luận nhà nước và pháp luật, bộ máy quyền lực nhà nước của
các quốc gia trên thế giới nói chung gồm có các cơ quan chủ yếu là: Cơ quan
lập pháp (Quốc hội), Cơ quan hành pháp (Chính phủ) và Cơ quan tư pháp
(Tòa án). Các cơ quan này độc lập với nhau để kiềm chế sự lạm quyền của
mỗi cơ quan. Tuy nhiên, do đặc điểm của nước ta, ngoài những điểm chung
như các quốc gia khác trên thế giới còn có những đặc điểm riêng. Các cơ quan
quyền lực của nhà nước ta có Cơ quan lập pháp là Quốc hội, Cơ quan hành
pháp là Chính phủ, bộ máy chính quyền địa phương và Cơ quan tư pháp thì
ngoài Tòa án còn có Viện Kiểm sát. Quan điểm của Đảng và nhà nước ta là
các cơ quan này như Điều 2 Hiến pháp 2013 khẳng định: Quyền lực nhà nước
là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Cho nên
việc phân chia quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước mang tính chất
tương đối. Tất cả các hoạt động của các cơ quan này đặt dưới sự lãnh đạo của

9


Đảng Cộng sản Việt Nam như Điều 4 Hiến pháp năm 2013 quy định: Đảng
Cộng sản Việt nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.
Như vậy, có thể hiểu các cơ quan tư pháp tại Việt Nam là Cơ quan Tòa
án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân những cơ quan thực hiện chức năng
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp và xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành
chính theo quy định của pháp luật có liên quan.

phủ hoặc những tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp.
Trong quá trình phát triển của đất nước, khái niệm “hoạt động tư pháp”
luôn có những thay đổi theo các giai đoạn lịch sử, gắn liền với quá trình hình
thành, phát triển của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu
theo tinh thần của Hiến pháp năm 1946, với quy định về cơ quan tư pháp là
toà án thì, hoạt động tư pháp thuần tuý được hiểu chỉ là hoạt động xét xử của
toà án. Từ Hiến pháp năm 1992 trở đi, khái niệm “hoạt động tư pháp” từng
bước được mở rộng và đến nay đã gồm nhiều hoạt động khác nhau, như: khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Cho nên, các hoạt động tư pháp hiện
nay được thực hiện bởi nhiều chủ thể, như: Toà án; Viện kiểm sát; Cơ quan
điều tra thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng; các cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ
thi hành bản án, quyết định của Toà án như cơ quan Công an, các cơ quan thi
hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ
quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, làm việc.... Ngoài ra còn có những
cơ quan khác cũng được giao tiến hành một số hoạt động điều tra, như: Bộ
đội biên phòng, Hải quan, Kiểm Lâm, lực lượng Cảnh sát Biển... thực hiện
các hoạt động tư pháp có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của
tập thể, bảo vệ các quyền tự do, tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của
công dân... Cho nên, khái niệm hoạt động tư pháp thường được hiểu theo
nghĩa rộng, không chỉ là hoạt động của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án và Cơ quan thi hành án trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và

11


thi hành đối với các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và giải quyết các
quan hệ pháp luật khác được phát sinh theo quy định của pháp luật, nhằm bảo
vệ các quyền của Nhà nước, của các tổ chức, của công dân. Các hoạt động
này do người đại diện của các cơ quan tư pháp nhân danh Nhà nước trực tiếp

hợp thành quan trọng của hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng, tiến hành
điều tra các vụ án hình sự làm cơ sở cho hoạt động truy tố, xét xử đối với
người phạm tội trước Toà án. Trong Công an nhân dân có các cơ quan điều
tra sau đây: Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an; Cơ quan cảnh sát điều tra
Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an cấp tỉnh); Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện); Cơ
quan An ninh điều tra Bộ Công an; Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (Cơ quan An ninh điều tra Công an cấp tỉnh).
Trong Quân đội nhân dân có cơ quan điều tra hình sự Bộ Quốc phòng; cơ
quan điều tra hình sự quân khu và tương đương; cơ quan điều tra hình sự khu
vực; Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc phòng; Cơ quan An ninh điều tra
quân khu và tương đương. Ở Viện kiểm sát nhân dân tối cao có cơ quan điều
tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự
trung ương. cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra một
số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc
các cơ quan tư pháp [39].
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Viện kiểm
sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Viện kiểm sát quân sự.
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước hợp thành
quan trọng của hệ thống tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền
công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và
pháp luật nhằm góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã

13


hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước,
của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm

tố, xét xử. Đối với vụ án dân sự, hành chính, quá trình tố tụng được bắt đầu
khi có đơn khởi kiện của nguyên đơn dân sự tại Tòa án. Những người có trách
nhiệm giải quyết vụ án này được gọi là người tiến hành tố tụng.
Nếu như các cơ quan tiến hành tố tụng là cơ quan điều tra, viện kiểm
sát, tòa án thì người tiến hành tố tụng là người làm việc trong các cơ quan này
được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án. Họ là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ
quan điều tra và Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát
và Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm
nhân dân và Thư ký Toà án. Họ là những người có chức danh tư pháp. Vì
quan niệm chức danh tư pháp bao gồm những người thực thi nhiệm vụ trong
các cơ quan tư pháp (điều tra, truy tố, xét xử) được đào tạo kỹ năng thực hành
và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có chức danh, được bổ nhiệm
hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện
xác định theo quy định của pháp luật.
Do hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng gắn liền với việc giải
quyết vụ án do người tiến hành tố tụng thực hiện. Hoạt động của họ với tư
cách người tiến hành tố tụng đều nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam nên hoạt động của họ gắn liền với việc bảo vệ quyền và lợi ích của
nhà nước, xã hội, công dân. Chính vì vậy, hoạt động của người tiến hành tố
tụng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Vụ án có được giải quyết đúng pháp luật
hay không, nhanh hay chậm; quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân có được bảo vệ hay không; công lý và công bằng
có được bảo đảm hay không... tùy thuộc vào khả năng, trình độ, năng lực, đạo
đức và ý thức nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng. Khi thực hiện nhiệm
vụ, người tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật để xử lý các hành vi vi phạm
pháp luật; được trực tiếp sử dụng quyền lực Nhà nước trong khi thi hành công

15




hình sự người có tội; Tội ra bản án trái pháp luật; Tội ra quyết định trái pháp
luật; Tội dùng nhục hình; Tội bức cung).
Loại chủ thể thứ hai trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được
thực hiện bởi những người tham gia tố tụng. Những người tham gia tố tụng là
những người với tư cách người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nguyên đơn, bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người giám định.
Họ là chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại các
Điều 304, 307, 308, 311 (Tội không chấp hành án; Tội khai báo gian dối hoặc
cung cấp tài liệu sai sự thật; Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định
hoặc từ chối cung cấp tài liệu; Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị
dẫn giải, đang bị xét xử).
Loại chủ thể thứ ba trong các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được
thực hiện bởi bất kỳ người nào khi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ
tuổi theo luật định. Họ có thể là những người có chức vụ quyền hạn nhất định
trong bộ máy nhà nước nói chung, hoặc họ là những người làm việc trong các
cơ quan thi hành án. Đó là các tội được quy định tại các Điều 297, 300, 301,
302, 303, 305, 306, 309, 310, 312, 313 và 314 (Tội ép buộc nhân viên tư pháp
làm trái pháp luật; Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án; Tội thiếu trách nhiệm để người
bị giam, giữ trốn; Tội tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ; Tội lợi dụng
chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật; Tội không thi hành án; Tội
cản trở việc thi hành án; Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian
dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản;
Tội đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử;
Tội che giấu tội phạm; Tội không tố giác tội phạm).
Như phần trên đã trình bày, hoạt động của những người tiến hành tố tụng
chiếm vị trí đặc biệt quan trọng vì vụ án có được giải quyết đúng pháp luật hay
không, nhanh hay chậm; quyền lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp

17

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status