những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự việt nam hiện hành - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------&----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
(NIÊN KHOÁ: 2009 – 2013)

Đề tài:

NHỮNG TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Giảng viên hướng dẫn :
Nguyễn Thu Hương

Sinh viên thực hiện:
Dương Thị Kiều Thảo
MSSV: 5095465
Lớp: Luật Tư pháp 1 – K35

Cần Thơ, tháng 5/2013


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian theo học tại trường Đại Học Cần Thơ, người viết đã
nhận được sự giúp đỡ hết sức chân tình của tập thể giảng viên, cán bộ, nhân viên
của Nhà trường, đặc biệt là những thầy cô công tác tại khoa Luật không những

...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................

GVHD: Nguyễn Thu Hương

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN



MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................................. 1
1.Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................... 2
3. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................................... 2
4. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 3
5. Bố cục của đề tài ......................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ
NHỮNG TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về tội phạm ................................................................................. 5
1.1.1. Khái niệm về tội phạm ..................................................................................... 5
1.1.2. Đặc điểm của tội phạm .................................................................................... 6
1.1.3. Các yếu tố cấu thành tội phạm ...................................................................... 11
1.2. Khái quát chung về trách nhiệm hình sự ............................................................ 15
1.2.1. Khái niệm về trách nhiệm hình sự ................................................................ 15
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự ................................................... 16
1.2.3. Cơ sở và điều kiện của trách nhiệm hình sự ................................................ 18
1.3. Khái quát chung về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự ............. 19
1.3.1. Khái niệm về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự................... 19
1.3.2. Đặc điểm cơ bản của những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự ..... 20
1.3.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu về những trường hợp loại trừ trách nhiệm
hình sự ........................................................................................................................... 22
1.4. Lịch sử hình thành các quy định của pháp luật về những trường hợp loại trừ
trách nhiệm hình sự ...................................................................................................... 22

GVHD: Nguyễn Thu Hương

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo

2.1.2.3. Phân biệt giữa sự kiện bất ngờ và lỗi vô ý do cẩu thả ........................... 40
2.1.3. Loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp chưa đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự (Điều 12 Bộ luật hình sự hiện hành) .................................................. 41
GVHD: Nguyễn Thu Hương

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

2.1.3.1. Khái niệm sự chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự .......................... 41
2.1.3.2. Căn cứ và điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự do người chưa đủ
tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện ......................................................................... 42
2.1.4. Loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp không có năng lực trách
nhiệm hình sự (Khoản 1 Điều 13 Bộ luật hình sự hiện hành) ................................... 46
2.1.4.1. Khái niệm về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự .......... 46
2.1.4.2. Căn cứ và điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự do người không có
năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện ......................................................................... 46
2.1.4.3. Phân biệt giữa người không có năng lực trách nhiệm hình sự với người
bị hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự ...................................................................... 49
2.1.5. Loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp phòng vệ chính đáng
(Khoản 1 Điều 15 Bộ luật hình sự hiện hành) ............................................................ 50
2.1.5.1. Khái niệm về phòng vệ chính đáng ........................................................ 50
2.1.5.2. Căn cứ và điều kiện loại trừ trách nhiệm hình sự do phòng vệ chính
đáng ............................................................................................................................. 51
2.1.5.3. Phân biệt giữa hành vi phòng vệ chính đáng và hành vi vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng ................................................................................................ 58
2.1.6. Loại trừ trách nhiệm hình sự trong trường hợp tình thế cấp thiết (Khoản 1
Điều 16 Bộ luật hình sự hiện hành) ............................................................................. 61
2.1.6.1. Khái niệm về tình thế cấp thiết ............................................................... 61

thực tiễn ......................................................................................................................... 76
3.1.1. Những bất cập phát sinh từ quy định của Bộ luật hình sự về những trường
hợp loại trừ trách nhiệm hình sự .................................................................................. 76
3.1.2. Những bất cập phát sinh từ quá trình áp dụng những trường hợp loại trừ
trách nhiệm hình sự trong thực tiễn ............................................................................. 81
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả cho việc áp dụng những trường hợp loại trừ
trách nhiệm hình sự ...................................................................................................... 89
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về những trường hợp loại
trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành .............................. 90
3.2.2. Giải pháp trong thực tiễn áp dụng những trường hợp loại trừ trách nhiệm
hình sự ........................................................................................................................... 95
KẾT LUẬN ................................................................................................................... 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: Nguyễn Thu Hương

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý và được thể hiện
bằng việc người phạm tội bị áp dụng một hoặc nhiều các biện pháp cưỡng chế hình
sự khác nhau của Nhà nước do luật hình sự quy định. Tuy nhiên, trên thực tế không
phải tất cả các tội phạm và các trường hợp phạm tội đều giống nhau. Do đó, để công
cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm đạt hiệu quả cao, cùng với việc phân loại
tội phạm, luật hình sự Việt Nam cũng đồng thời phân hóa các trường hợp phạm tội,
các đối tượng phạm tội khác nhau để có đường lối xử lý phù hợp, nhanh chóng,



Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

trục lợi làm mất lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước, gây nhiều hậu quả nguy
hiểm không đáng có cho xã hội.
Đúc kết những vấn đề nêu trên cho thấy, việc nghiên cứu đề tài: “Những
trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành”
là cần và mang tính cấp thiết để hoàn thiện về mặt pháp luật tạo sự thống nhất ở các
cơ quan tư pháp và nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân nên hành động như
thế nào là đúng góp phần phòng chống và ngăn chặn tội phạm đạt hiệu quả cao. Đó
cũng chính là lý do thúc đẩy người viết lựa chọn và nghiên cứu đề tài luận văn này.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Việc đi sâu nghiên cứu, giải thích và làm sáng tỏ chế định loại trừ trách
nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt
động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cũng như giúp cho chúng ta thêm
những kiến thức bổ ích khi tìm hiểu về những quy định của Bộ luật hình sự. Từ đó,
làm cho mọi người trong xã hội nhận thức được khi nào thì hành vi gây thiệt hại của
một người sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và khi nào thì hành vi gây thiệt hại
được loại trừ trách nhiệm hình sự nhằm phát huy quyền làm chủ của công dân góp
phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Khi một người biết rõ mình được làm gì,
không được làm gì mà pháp luật quy định thì xã hội thật sự trở thành một xã hội có
kỷ cương, Nhà nước thật sự là Nhà nước pháp quyền.
Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là làm rõ những vấn đề lý
luận, thực tiễn và cơ sở pháp lý của những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
trong luật hình sự Việt Nam. Sau đó, luận văn chỉ ra những bất cập của pháp luật
hiện hành về chế định này, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng
chế định này trong thực tiễn. Từ đó, người viết đề xuất những giải pháp, kiến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về chế định này trong thời gian sắp tới.
3. Phạm vi nghiên cứu

chuyên khảo có giá trị và bình luận luật học kết hợp sưu tầm và tham khảo các tạp
chí chuyên ngành; thông tin trên mạng Internet và các tài liệu khác liên quan đến đề
tài để từ đó tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu làm rõ cơ sở lý luận và
thực tiễn áp dụng về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong pháp luật
hình sự Việt Nam.
5. Bố cục của đề tài
Để việc nghiên cứu và tìm hiểu luận văn này một cách có khoa học và dễ
hiểu thì ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm ba chương:
- Chương 1: Lý luận chung về những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình
sự.
- Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về những
trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự.
- Chương 3: Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện những trường hợp loại
trừ trách nhiệm hình sự.
Đề tài nghiên cứu “Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong
luật hình sự Việt Nam hiện hành” là một vấn đề khá phức tạp, nó đòi hỏi người
nghiên cứu đề tài cần có kiến thức sâu rộng cả về lý luận lẫn thực tiễn. Ngoài ra, nó
còn đòi hỏi người viết phải biết nắm bắt được những vấn đề cốt lõi, những tồn tại và
vướng mắc còn gặp phải, để từ đó đề xuất giải pháp giải quyết. Là một sinh viên

GVHD: Nguyễn Thu Hương

3

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành


không nghiên cứu về tội phạm, các đặc điểm và các yếu tố cấu thành tội phạm. Bởi
để xác định một hành vi có được xem là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
hay không thì trước tiên cần phải xác định hành vi đó có bị coi là tội phạm và có đủ
yếu tố cấu thành tội phạm hay không? Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi nó hội
đủ bốn yếu tố cấu thành tội phạm, ngược lại sẽ không phải tội phạm và hành vi ấy
sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.1.1. Khái niệm về tội phạm
Cùng với ba chế định chủ yếu khác của luật hình sự - Đạo luật hình sự (1),
trách nhiệm hình sự (2), và hình phạt (3), tội phạm cũng là một chế định chủ yếu và
quan trọng thứ tư, đồng thời là một trong những phạm trù cơ bản của luật hình sự. 1
Từ trước đến nay, khi nghiên cứu về khái niệm tội phạm cũng như định nghĩa khái
niệm tội phạm luôn luôn được nhà nghiên cứu luật học cũng như nhà lập pháp hình
sự quan tâm. Tuy nhiên, sự ghi nhận khái niệm tội phạm trong luật của mỗi nước
cũng như quan điểm khoa học về khái niệm tội phạm của các nhà khoa học Việt
Nam nói riêng và của thế giới nói chung không hoàn toàn thống nhất với nhau. Mặc
dù, các quan điểm đó khác nhau nhưng vẫn có điểm chung là đều dựa trên cơ sở
1

Cao Thị Oanh: Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, phần chung, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr.
47.

GVHD: Nguyễn Thu Hương

5

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành


do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện và do người đủ tuổi chịu trách
nhiệm hình sự thực hiện.

2

Phạm Văn Beo: Luật hình sự Việt Nam, phần chung, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009, tr. 113.

GVHD: Nguyễn Thu Hương

6

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

Đặc điểm thứ nhất, tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm là dấu hiệu cơ bản và quan trọng
nhất quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm, bởi nó là thuộc tính và là nội
dung của tội phạm. Một hành vi sở dĩ bị quy định là tội phạm vì bản thân nó có
“tính nguy hiểm”.
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm về khách quan là gây ra hoặc đe doạ
gây ra thiệt hại cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là những quan hệ
xã hội gắn liền với lợi ích của Nhà nước, công dân và xã hội có tính tương đối quan
trọng và một khi có sự xâm hại có thể gây ra thiệt hại hoặc ảnh hưởng đáng kể cho
điều kiện tồn tại và phát triển của chế độ xã hội.
Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm hoàn toàn có tính khách quan,
không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của cơ quan lập pháp cũng như của cơ quan
giải thích và áp dụng luật. Tính nguy hiểm cho xã hội là căn cứ phân biệt hành vi
phạm tội với hành vi vi phạm khác và cũng là cơ sở đánh giá mức độ nghiêm trọng

Đặc điểm thứ hai, tính trái pháp luật hình sự của tội phạm
Theo Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hiệp Quốc tại Khoản 2, Điều 11
khẳng định: “Không ai bị kết án về hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia
hay quốc tế không quy định là tội phạm”. Vì vậy, tính trái pháp luật hình sự là một
dấu hiệu được quy định trong luật hình sự của tất cả các nước trên thế giới. Theo
luật hình sự Việt Nam, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi pháp
luật quy định trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự. Vì vậy, tính trái pháp
luật hình sự được hiểu là sự ngăn cấm việc thực hiện tội phạm bởi một quy phạm
pháp luật hình sự tương ứng bằng việc đe doạ áp dụng sự trừng phạt về hình sự đối
với người phạm tội.4 Tính trái pháp luật hình sự theo cách hiểu của luật hình sự Việt
Nam hiện hành, là hành vi phạm tội trái với quy định của Bộ luật hình sự. Nghĩa là,
khi Bộ luật hình sự quy định một hành vi nào đó bị cấm thì người phạm tội là người
thực hiện hành vi đó. Ngược lại, khi Bộ luật hình sự quy định hành vi đó phải được
làm thì người phạm tội không làm hoặc làm không hết trách nhiệm và khả năng của
mình. Tuy nhiên, không phải tất cả trường hợp thực hiện hành vi được quy định
trong Bộ luật hình sự đều là trái luật hình sự vì trong đó có thể thuộc trường hợp
luật cho phép thực hiện. Tính “trái pháp luật hình sự” tuy chỉ là đặc điểm về hình
thức, phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội và tính có lỗi là đặc điểm về nội dung của
tội phạm nhưng đặc điểm này vẫn có tính độc lập tương đối và có ý nghĩa quan
trọng đặc biệt là đối với cơ quan áp dụng luật hình sự. Các cơ quan điều tra, truy tố,
xét xử khi xác định hành vi có phải là tội phạm hay không và là tội gì đều phải bắt
đầu bằng việc kiểm tra tính “trái luật hình sự” hay nói cách hiểu khác là kiểm tra
hành vi đó có thoả mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể hay không
và nếu có thì có thuộc trường hợp có căn cứ hợp pháp không.
Đặc điểm thứ ba, tính có lỗi của tội phạm
Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận hình thức quy tội khách quan tức là
không chấp nhận quy tội đối với một người mà chỉ căn cứ vào hành vi nguy hiểm
cho xã hội của họ chứ không xem xét hành vi đó có lỗi hay không. Hay nói cách
khác, tội phạm phải là hành vi tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan. Về
3

có tính chất lỗi và tại thời điểm thực hiện hành vi người đó phải có năng lực trách
nhiệm hình sự và đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người đó bị coi là người
phạm tội. Có thể nói, năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự
là hai điều kiện cần và đủ của dấu hiệu tính có lỗi của tội phạm.
Tóm lại, sự thừa nhận tính có lỗi của tội phạm là một nguyên tắc cơ bản của
luật hình sự Việt Nam – nguyên tắc có lỗi. Khi xác định hành vi có phải là tội phạm
hoặc không phải là tội phạm chúng ta cần dựa trên cơ sở thống nhất yếu tố chủ quan
và khách quan. Bởi vì việc áp dụng hình phạt không phải trừng trị người có hành vi
nguy hiểm cho xã hội mà còn nhằm mục đích cải tạo, giáo dục họ trở thành người
có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Đặc điểm thứ tư, tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm
hình sự thực hiện
Đây là một trong ba đặc điểm thuộc bình diện chủ quan của tội phạm được
quy định trong định nghĩa lập pháp của khái niệm tội phạm theo pháp luật hình sự
Việt Nam (Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự hiện hành), nhưng khái niệm như thế
nào là “người có năng lực trách nhiệm hình sự” và nó cần có những tiêu chí nào thì
vẫn chưa được ghi nhận chính thức trong luật. Trong khoa học luật hình sự, có thể
hiểu khái niệm này như sau: “Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người mà
tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm ở trong

GVHD: Nguyễn Thu Hương

9

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

trạng thái bình thường và hoàn toàn có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất

5

Lê Cảm: Các nghiên cứu chuyên khảo về phần chung luật hình sự, tập IV, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2002, tr. 31.
6
Cao Thị Oanh: Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, phần chung, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr.
54.

GVHD: Nguyễn Thu Hương

10

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

vi là người không những chỉ có năng lực trách nhiệm hình sự mà phải đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự theo luật định. Ngược lại, hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật
hình sự cấm không phải là tội phạm khi chủ thể đó tại thời điểm thực hiện hành vi
thiếu một trong hai dấu hiệu đó là: tuổi chịu trách nhiệm hình sự hoặc năng lực
trách nhiệm hình sự.
1.1.3. Các yếu tố cấu thành tội phạm
Tội phạm là hiện tượng xã hội có tính lịch sử, được đặc trưng bởi tính nguy
hiểm cho xã hội, tính có lỗi và tính trái pháp luật hình sự và do người có năng lực
trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện. Trong thực tiễn,
tội phạm được thực hiện rất đa dạng và phức tạp. Các trường hợp phạm tội khác
nhau có thể khác nhau về tính chất của loại tội phạm, tính nguy hiểm cho xã hội hay
các tình tiết diễn biến cụ thể. Để có thể xử lý một cách phù hợp tất cả hành vi đó đòi
hỏi các nhà làm luật phải xác định và quy định trong luật khuôn mẫu pháp lý riêng


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

nguy hiểm cho xã hội không thể bị coi là tội phạm và đặt vấn đề trách nhiệm hình
sự đối với hành vi đó nếu như nó không xâm hại hoặc có nguy cơ thực tế xâm hại
đến quan hệ xã hội được bảo vệ bằng pháp luật hình sự.
Yếu tố thứ hai, mặt khách quan của tội phạm:
Mặt khách quan của tội phạm là tất cả những xử sự của con người được biểu
hiện ra thế giới khách quan dưới những hình thức nhất định, gây thiệt hại hoặc đe
doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ.8
Luật hình sự Việt Nam khẳng định: “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã
hội…” (Khoản 1 Điều 8 Bộ luật hình sự). Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều
có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà con người có thể trực tiếp
nhận biết bằng các giác quan. Những biểu hiện của tội phạm ra bên ngoài bao gồm:
hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân
quả giữa hành vi và hậu quả, các dấu hiệu khác biểu hiện sự thực hiện hành vi phạm
tội và gắn liền với hành vi phạm tội như: công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian,
địa điểm, hoàn cảnh phạm tội. Tổng hợp các biểu hiện trên tạo thành mặt khách
quan của tội phạm. Tuy nhiên, trong cấu thành tội phạm của các tội phạm cụ thể
không phải tất cả các dấu hiệu nói trên của mặt khách quan đều được quy định là
dấu hiệu của tội phạm. Trong các dấu hiệu đó hành vi nguy hiểm cho xã hội được
quy định là dấu hiệu bắt buộc của tất cả các tội, không có hành vi nguy hiểm cho xã
hội thì không có tội phạm. Còn các dấu hiệu khác của mặt khách quan chỉ được quy
định là dấu hiệu của những tội phạm nhất định trong cấu thành tội phạm cơ bản
hoặc cấu thành tội phạm tăng nặng, giảm nhẹ.
Hành vi phạm tội – là hành vi xử sự của con người ra bên ngoài thế giới
khách quan nhưng gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ chỉ được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội với ý nghĩa
là dấu hiệu của mặt khách quan của tội phạm. Khi xử sự đó được chủ thể nhận thức
và điều khiển được theo ý chí của mình và có nội dung trái với các yêu cầu hay đòi

quy định là căn cứ xác định hành vi đã thực hiện là tội phạm, khi hậu quả được quy
định chưa xảy ra thì hành vi không bị coi là tội phạm. Có những tội phạm, hậu quả
không được quy định là dấu hiệu của tội phạm – đó là tội cấu thành hình thức. Đối
với những tội phạm này hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu định
tội. Tuy nhiên, nếu thực tế hậu quả nguy hiểm cho xã hội đã được xảy ra thì việc
xác định tính chất và mức độ hậu quả có ý nghĩa trong việc xác định mức độ, nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Một người chỉ có thể phải chịu
trách nhiệm hình sự về tội phạm nhất định chỉ khi nào hậu quả của tội phạm xảy ra
có mối quan hệ nhân quả với hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm
được thực hiện do lỗi (cố ý hoặc vô ý) của người đó – hành vi ấy là nguyên nhân
gây nên hậu quả vì thiếu điều này thì hành vi không thể có cấu thành tội phạm. Và
do vậy, cũng không thể đặt ra vấn đề trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà người
đó thực hiện.
Yếu tố thứ ba, chủ thể của tội phạm:
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự do luật quy định đã thực hiện hành vi mà luật hình sự quy
định là tội phạm.9
Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể là con
người cụ thể. Nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm khi
thực hiện hành vi được quy định trong luật hình sự. Tội phạm theo luật hình sự Việt
9

Cao Thị Oanh: Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, phần chung, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, 2010, tr.
96.

GVHD: Nguyễn Thu Hương

13


chủ quan của tội phạm chính là mặt bên trong của tội phạm. Vì vậy, luật hình sự
Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là truy cứu trách nhiệm
hình sự chỉ căn cứ vào biểu hiện của hành vi nguy hiểm cho xã hội, không kể hành
vi đó bắt nguồn từ đâu, diễn biến tâm lý của người thực hiện hành vi ra sao. Hoạt
động định tội phải là sự kết hợp giữa mặt khách quan và chủ quan của tội phạm,
giữa hành vi biểu hiện và thái độ bên trong của người thực hiện hành vi. Mặt chủ
quan của tội phạm được tạo thành bởi ba yếu tố: lỗi, động cơ phạm tội và mục đích
phạm tội. Mỗi yếu tố giữ vai trò khác nhau trong việc phản ánh tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Trong đó lỗi luôn là dấu hiệu quan trọng phản
ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và do đó, đối với mọi cấu
GVHD: Nguyễn Thu Hương

14

SVTH: Dương Thị Kiều Thảo


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

thành tội phạm nó là dấu hiệu bắt buộc. Động cơ và mục đích phạm tội giữ vai trò ít
quan trọng hơn nên chúng chỉ phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm trong một số trường hợp. Vì vậy, hai dấu hiệu này chỉ được quy định trong
một số cấu thành tội phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm là yếu tố mà chúng ta không thể trực tiếp xác
định như các yếu tố khác của cấu thành tội phạm mà chỉ có thể gián tiếp xác định
thông qua các biểu hiện khách quan. Chính vì vậy, việc xác định đúng các dấu hiệu
thuộc mặt chủ quan, đặc biệt dấu hiệu lỗi là rất phức tạp. Tuy nhiên, một khi xác
định được các dấu hiệu của mặt chủ quan thì có thể xác định được tính chất, mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã được thực hiện. Từ đó, giúp chúng ta có thể
phân biệt được hành vi nào là phạm tội với hành vi nào là không phải tội phạm.


Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam hiện hành

Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ
người đã gây ra tội phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước.10
Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của
một người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp
luật hình sự bằng một hậu quả bất lợi do Toà án áp dụng tuỳ thuộc vào tính chất và
mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện.11
Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ
phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội,
chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp)
và chịu mang án tích.12
Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được
thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng
chế của Nhà nước do pháp luật hình sự quy định.13
Như vậy, có thể hiểu trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp
lý, buộc người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về hành vi phạm tội
của mình, được thể hiện bằng việc Toà án nhân danh Nhà nước, tuân theo một thủ
tục tố tụng riêng, kết án người phạm tội.14
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của trách nhiệm hình sự
Tuy các nhà hình sự học đưa ra các quan điểm khác nhau về khái niệm trách
nhiệm hình sự, nhưng tựu trung lại đều thống nhất cho rằng, trách nhiệm hình sự có
những đặc điểm cơ bản sau:
Đặc điểm thứ nhất là, trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý tất yếu của
việc thực hiện tội phạm. Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm hoặc không thực hiện nghĩa vụ mà
pháp luật hình sự yêu cầu phải thực hiện. Tuy nhiên, không phải bất kỳ người nào
thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội cũng đều phải chịu trách nhiệm
hình sự. Có những hành vi về mặt khách quan là rất nguy hiểm, gây thiệt hại hoặc

tự, thủ tục nhất định bởi cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền mà trình tự thủ
tục đó phải do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Không phải bất kỳ cơ quan Nhà
nước hay công dân nào cũng có quyền tiến hành các trình tự, thủ tục để xác định
trách nhiệm hình sự cho một người nào đó mà chỉ có cơ quan tư pháp hình sự mới
có thẩm quyền (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án). Tuy nhiên, thẩm quyền
trên không phải thực hiện một cách tùy tiện mà phải theo một trình tự đặc biệt do
Bộ luật tố tụng hình sự quy định – giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể tương ứng với cơ
quan nào thì cơ quan đó mới có thẩm quyền khẳng định vấn đề trách nhiệm hình sự
của một công dân bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm.
Đặc điểm thứ ba là, trách nhiệm hình sự được thực hiện bằng biện pháp
cưỡng chế Nhà nước đặc biệt là hình phạt. Đây là một dạng trách nhiệm pháp lý
nghiêm khắc nhất so với bất kỳ dạng trách nhiệm pháp lý nào khác. Vì các dạng
trách nhiệm pháp lý khác không đưa ra hậu quả bất lợi và nghiêm trọng đối với chủ
thể của hành vi vi phạm đến mức chịu trách nhiệm hình sự. Người chịu trách nhiệm
hình sự phải bị tước bỏ hoặc hạn chế các quyền tự do, các quyền về thể chất, về vật
chất hoặc tinh thần và thậm chí tước bỏ cả tính mạng của chủ thể đó (nếu bị áp dụng
hình phạt tử hình). Hình phạt chỉ là một biểu hiện sinh động nhất của trách nhiệm
hình sự. Ngoài hình phạt, trách nhiệm hình sự còn có thể biểu hiện qua các biện
pháp tư pháp khác như: tịch thu tang vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều
41 của Bộ luật hình sự); bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 của Bộ luật hình sự); giáo dục
tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành
niên phạm tội (Điều 70 của Bộ luật hình sự)…
Đặc điểm thứ tư là, trách nhiệm hình sự luôn luôn được thực hiện trong
phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên mang tính chất là chủ thể
có các quyền và nghĩa vụ nhất định – Nhà nước và một bên là người phạm tội.
Trách nhiệm này không được thực hiện đối với chủ thể mà quyền và lợi ích bị xâm
hại bởi tội phạm mà là đối với Nhà nước. Nhà nước với tư cách là chủ thể của quan
hệ pháp luật hình sự, có quyền thông qua cơ quan bảo vệ pháp luật truy cứu trách
nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự đối với người phạm tội.
Tuy nhiên, họ có nghĩa vụ là chỉ xử lý dựa trên các căn cứ và trong các giới hạn do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status