Khái niệm những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Công bằng, nhân đạo, dân chủ, pháp chế là giá trị chung của nền văn minh nhân
loại, là mục tiêu mà Đảng, Nhà nước hướng tới. Điều này đồng nghĩa rằng, mọi
hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người, của công dân đều
phải được xử lý kịp thời, công minh nhằm tạo lập trật tự pháp luật, duy trì sự ổn
định của đời sống xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để cá nhân hoàn thiện và phát
triểnbản thân, sáng tạo và cống hiến không hạn chế. Việc nghiên cứu làm sáng tỏ
bản chất của một số chế định trong Luật Hình sự góp phần nâng cao khả năng nhận
thức pháp luật, tư duy pháp lý và kỹ năng thực hành, đặc biệt những việc làm mà
pháp luật không cấm (công dân được phép và có quyền làm trong tình huống nhất
định) là việc làm hết sức cần thiết. Bài viết này, tác giả tập trung nghiên cứu làm
sáng tỏ sự cần thiết của các quy định về những trường hợp loại trừ trách
nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015.
Khái niệm những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
Xét dưới góc độ lịch sử lập pháp hình sự, chế định các trường hợp loại trừ trách
nhiệm hình sự (TNHS) đã được ghi nhận khá sớm trong pháp luật hình sự, được
đánh dấu bằng sự ra đời của Chỉ thị số 07 ngày 22/12/1983 của TANDTC về việc
chỉ đạo Tòa án các cấp thống nhất xét xử hành vi xâm phạm sức khỏe, tính mạng
của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc trong khi thi hành
công vụ (1). Trong lần pháp điển hóa BLHS năm 1985 đã quy định 04 trường hợp
được coi là trường hợp loại trừ TNHS bao gồm: Phòng vệ chính đáng (Điều
13), tình thế cấp thiết (Điều 14), sự kiện bất ngờ (Điều 11), tình trạng không có
năng lực TNHS (Điều 12) nằm trong chương Tội phạm(chương III). BLHS năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) tiếp tục quy định 04 trường hợp nói trên trong
chương Tội phạm (chương III). Đến BLHS năm 2015, quy định về các trường hợp
loại trừ TNHS đã được hoàn thiện với việc chính thức quy định thống nhất một
chương – Chương các trường hợp loại trừ TNHS (chương IV) bao gồm 04 trường
hợp như trong BLHS năm 1999, bổ sung thêm 03 trường hợp mới.
nhóm: Nhóm các trường hợp loại trừ TNHS do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm,
do vậy vấn đề TNHS không được đặt ra, bao gồm: Sự kiện bất ngờ; tình trạng
không có năng lực TNHS và Nhóm các trường hợp loại trừ TNHS đủ hoặc có thể
đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng có những “căn cứ” làm cho hành vi gây thiệt
hại có tính hợp pháp, không còn tính trái pháp luật hình sự nên không coi là tội
phạm bao gồm: Phòng vệ chính đáng; Tình thế cấp thiết; Gây thiệt hại trong khi
bắt giữ tội phạm; rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật và công nghệ và Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên.
Sự cần thiết của việc quy định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự
trong Bộ luật hình sự năm 2015
Tội phạm là một hiện tượng xã hội, có tính lịch sử và tính giai cấp. Việc quy định
một hành vi nào đó là tội phạm hay không phải là tội phạm phụ thuộc vào ý chí
của giai cấp thống trị xã hội, phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện kinh tế trong từng
giai đoạn nhất định. Ở Việt Nam, Điều 8 BLHS quy định: tội phạm được hiểu là
hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực
trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô
ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền,
lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp
luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự. Nhận
thức và quy định về tội phạm như đã nêu trên thể hiện rõ chính sách hình sự của
Đảng và Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; cụ thể hóa
các nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội và hành vi phạm tội; tạo tiền đề cho
việc xây dựng và hoàn thiện các chế định khác trong Luật hình sự. Đồng thời, là cơ
sở thực tiễn cho việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật hình sự
trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự; phân biệt tội phạm với
các hành vi vi phạm pháp luật khác.
Xuất phát từ những bất cập trên, việc nghiên cứu bổ sung thêm các trường hợp loại
trừ trách nhiệm hình sự trong
BLHS là cần thiết đảm bảo các mục tiêu: Phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng,
chống tội phạm, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; đảo đảm tốt hơn quyền
con người, quyền cơ bản của công dân; thể hiện chính sách nhân đạo của Đảng và
Nhà nước trong điều kiện mới; góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của xã
hội, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước và đề cao trách nhiệm của cán
bộ, công chức trong việc thi hành công vụ.
Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình
sự năm 2015
– Sự kiện bất ngờ
Điều 20 BLHS năm 2015 khẳng định: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy
hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy
trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu TNHS. So với BLHS năm 1999,
quy định về sự kiện bất ngờ trong BLHS năm 2015 không có sự thay đổi về bản
chất pháp lý, mà chỉ là sự sửa đổi, bổ sung về mặt kỹ thuật lập pháptheo hướng quy
định trực tiếp một người thực hiện hành vi được coi là sự kiện bất ngờ và hậu quả
pháp lý của nó.
Bản chất pháp lý của trường hợp sự kiện bất ngờ là người thực hiện hành vi không
có lỗi do họ không tự lựa chọn thực hiện hành vi gây thiệt hại. Họ đã không thấy
trước được tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra. Hoàn cảnh
khách quan không cho phép họ có thể thấy trước hậu quả của hành vi. Họ cũng
không có nghĩa vụ phải thấy trước việc gây ra hậu quả đó. Do vậy, tính có lỗi – cơ
sở để xem xét một hành vi có là tội phạm không, có cần phải xử lý hình sự không
đã không được thỏa mãn. Như vậy, trong trường hợp sự kiện bất ngờ, việc chủ
thể đã không thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà hành vi của mình
đã gây ra là do khách quan. Đây chính là điểm khác biệt so với các trường hợp như
sự kiện bất khả kháng, tình trạng không thể khắc phục được hoặc đối với trường
nước, của tập thể, tổ chức, quyền và lợi ích chính đánh của người phòng vệ hoặc
của người khác (cơ sở phát sinh quyền phòng vệ chính đáng). Thứ hai: Hành vi
phòng vệ gây thiệt hại cho người xâm phạm là cần thiết (nội dung và phạm vi của
phòng vệ chính đáng);
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần
thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu TNHS
theo quy định của Bộ luật này. Đây là trường hợp người phòng vệ do đánh giá sai
tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm phạm, do đó người phòng vệ đã
dùng những phương tiện và phương pháp gây ra thiệt hại quá đáng cho người xâm
hại mà tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại cũng như hoàn cảnh cụ
thể chưa đòi hỏi phải dùng các phương tiện và phương pháp đó. Người phòng vệ
vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu TNHS do lỗi vượt quá của mình.
Tuy nhiên, TNHS của họ được giảm nhẹ hơn so với các trường hợp bình thường.
Mức độ TNHS được giảm nhẹ nhiều hay ít phụ thuộc vào mức độ vượt quá giới
hạn phòng vệ và các trường hợp giảm nhẹ khác.
– Tình thế cấp thiết
Khoản 1 điều 23 BLHS 2015 quy định: Tình thế cấp thiết là một trong những
trường hợp loại trừ TNHS, đó là tình thế của người đứng trước sự đe dọa đến một
lợi ích được pháp luật bảo vệ, và để bảo vệ lợi ích này, người đó không còn cách
nào khác là phải gây một thiệt hại cho một lợi ích khác được pháp luật bảo vệ. Để
được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và không phải chịu TNHS thì phải
có đầy đủ các điều kiện sau đây: Thứ nhất: Phải có sự đe dọa hiện hữu và thực tế
xâm phạm đối với lợi ích được pháp luật bảo vệ (tức là lợi ích của Nhà nước, của
tổ chức, lợi ích chính đáng của bản thân người thực hiện hành vi hay của người
khác); Thứ hai: Hành vi gây thiệt hại là biện pháp duy nhất để khắc phục sự nguy
hiểm; Thứ ba: Thiệt hại trong tình thế cấp thiết gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần
ngăn ngừa.
Hành vi dùng vũ lực gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải là biện pháp cuối cùng,
không còn cách nào khác để bắt giữ người phạm tội; Thứ ba: Hành vi dùng vũ lực
gây thiệt hại cho người bị bắt giữ phải là cần thiết.
Bên cạnh đó, để tránh tình trạng lạm dụng quy định này mà những người bắt giữ
người phạm tội đã sử dụng vũ lực quá mức cần thiết gây tổn hại sức khỏe, thể chất
của người bị bắt giữ cũng như các quyền, lợi ích hợp pháp khác của họ, Khoản 2
Điều 24 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Trường hợp gây
thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại
phải chịu trách nhiệm hình sự”. Quy định này được xây dựng dựa trên tinh thần
của Hiến pháp năm 2013 về quyền được bảo vệ về sức khỏe, về thân thể kể cả khi
người đó là người bị bắt giữ: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo
lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể,
sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Đồng thời, quy định này cũng thể hiện
tính ưu việt của hoạt động nội luật hóa Công ước Liên hợp quốc về chống tra tấn
và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo vô nhân đạo hoặc hạ nhục con
người
Tuy nhiên, đối với trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá
mức cần thiết cho người bị bắt giữ, thì người gây thiệt hại tuy phải chịu trách
nhiệm hình sự nhưng pháp luật hình sự Việt Nam vẫn xác định đó là một trong
những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm đ Khoản 1 Điều 51
và trong một số tội phạm liên quan đến việc bắt giữ người phạm tội, thì mức độ
trách nhiệm hình sự cũng được quy định theo hướng giảm nhẹ, cụ thể: Tội giết
người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết
khi bắt giữ người phạm tộiquy định tại Điều 126 và Tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội quy định tại Điều
136 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quy định này thể hiện
tuân thủ đúng quy trình, quy phạm, áp dụng đầy đủ biện pháp phòng ngừa để ngăn
chặn thiệt hại có thể xảy ra cho các lợi ích hợp pháp được pháp luật hình sự bảo vệ.
Việc quy định trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự này có ý nghĩa hết sức quan
trọng, tạo ra động lực mới cho sự phát triển, tiến bộ không ngừng của nền khoa
học, kỹ thuật nước nhà, khơi dậy tinh thần và ngọn lửa đam mê nghiên cứu, thử
nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới của các nhà khoa
học, các chuyên gia và của mọi người dân trong xã hội.
Bên cạnh đó, không được thừa nhận là rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp
dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ nếu người nào đó trước khi tiến hành
hoạt động nghề nghiệp, sản xuất hoặc nghiên cứu khoa học đã nhìn thấy trước
nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đe dọa gây ra thảm họa môi trường hoặc tai
họa cho xã hội và không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ
biện pháp phòng ngừa mà gây thiệt hại thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy
định này góp phần khắc phục tình trạng thiếu trách nhiệm trong các hoạt động
nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, góp phần
giảm thiểu đến mức thấp nhất những nguy cơ xảy ra thiệt hại của các hoạt động
nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ.
– Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên
Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên là một trường hợp loại trừ
TNHS chính thức được quy định trong BLHS năm 2015, đó là hành vi gây thiệt hại
trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong
lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã
thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh
vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó. Hành vi gây thiệt hại trong trường hợp này
không phải chịu TNHS. Việc quy định, bổ sung trường hợp thi hành mệnh lệnh của
người chủ huy hoặc cấp trên là một trường hợp loại trừ TNHS sẽ góp phần đảm
bảo tuân thủ tuyệt đối, triệt để nguyên tắc “cấp dưới phải phục tùng cấp trên” đối
với mệnh lệnh, chỉ thị hay quyết định trong lực lượng vũ trang nhân dân (9), đảm
trách nhiệm hình sự của người thi hành mệnh lệnh. Nói cách khác, nếu người thi
hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên không biết hoặc không có
nghĩa vụ phải biết rõ mệnh lệnh là bất hợp pháp thì họ không phải chịu trách nhiệm
hình sự. Ngược lại, trách nhiệm hình sự có thể được đặt ra đối với người thi hành
mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên có tính chất trái pháp luật và nguy
hiểm đáng kể gây thiệt hại cho xã hội, nếu người thi hành mệnh lệnh nhận thức
được và buộc phải nhận thức được tính trái pháp luật của mệnh lệnh mà không
thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người chỉ huy hoặc cấp trên đã ra mệnh lệnh.
Đặc biệt, quy định về loại trừ trách nhiệm hình sự trong khi thi hành mệnh lệnh của
người chỉ huy hoặc của cấp trên không được áp dụng đối với các trường hợp quy
định tại Khoản 2 Điều 421 (Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược),
Khoản 2 Điều 422 (Tội chống loài người) và Khoản 2 Điều 423 (Tội phạm chiến
tranh) chương XXVI (Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm
chiến tranh) của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
BLHS năm 2015 đã chính thức quy định các trường hợp loại trừ TNHS thành một
chương thống nhất với 07 trường hợp cụ thể thay vì, quy định mang tính chất tản
mạn như trong BLHS năm 1999. Điều này đã góp phần vào việc nhận thức thống
nhất về phạm vi các trường hợp được coi là trường hợp loại trừ TNHS. Tuy nhiên,
nên sử dụng thống nhất thuật ngữ quy định về hậu quả pháp lý của các trường hợp
loại trừ TNHS là không phải chịu TNHS thay vì có trường hợp quy định không
phải chịu TNHS (Sự kiện bất ngờ, tình trạng không có năng lực TNHS, Thi hành
mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên), có trường hợp quy định không phải là
tội phạm (04 trường hợp còn lại). Bởi lẽ, suy cho cùng dù có thuộc trường hợp
không phải là tội phạm hay trường hợp đã hoặc có thể là tội phạm, nhưng được coi
không phải là tội phạm thì đều không đặt ra vấn đề TNHS đối với người có hành vi
gây thiệt hại, vì hành vi gây thiệt hại của họ thuộc các trường hợp được loại trừ
TNHS.
Có thể nói, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thể chế hóa chính
sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong bối cảnh cải cách tư pháp, đáp ứng
yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, tiếp thu những giá
chí
Dân
chủ
và
pháp
luật,
trang
87(6),
94(3)
4. Bộ Tư pháp, (2016), Tài liệu hội nghị Quán triệt, phổ biên BLHS năm 2015
và Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật hình sự, Tháng 4/2016,
trang
16(4)
5. GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (2010), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (tập 1 – chủ
biên),
Nxb Công
annhân
dân,
trang
124(5).
6. GS.TSKH. Lê Văn Cảm, Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản
trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005,
trang
579(6).
7. Bộ Tư pháp (2016), Tài liệu hội nghị Quán triệt, phổ biên BLHS năm 2015 và
Nghị quyết số 109/2015/QH13 về việc thi hành Bộ luật hình sự, Tháng 4/2016,
trang
11(7)
8. Luật Công an nhân dân năm 2005(8).
biên bản vi phạm hành chính.
Việc lập biên bản vi phạm hành chính nếu không được thực hiện hoặc thực hiện
không đúng thẩm quyền pháp luật quy định sẽ dẫn đến hậu quả là quyết định xử
phạt vi phạm hành chính được ban hành trái quy định pháp luật vì vi phạm trình tự,
thủ tục. Đây cũng là một trong những sai sót thường gặp trong quá trình áp dụng
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính[2].
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, làm rõ các nội dung pháp lý
liên quan đến thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhằm bảo đảm tính hợp
pháp của việc ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức liên quan. Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả
cũng chỉ ra một số bất cập trong các quy định pháp luật hiện hành, đồng thời, kiến
nghị, đề xuất hướng xử lý nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật về vấn
đề này.
1. Những người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính
1.1. Việc quy định các chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành
chính
Điều 4 Luật XLVPHC quy định: “Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ quy
định hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc
phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền xử phạt, mức
phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm
hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước…”.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi,
bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) thì người có thẩm quyền lập biên bản
vi phạm hành chính gồm: “người có thẩm quyền xử phạt, công chức, viên chức và
người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đang thi hành công
vụ, nhiệm vụ theo văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản hành chính do cơ
quan, người có thẩm quyền ban hành; người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng,
trưởng tàu và những người được chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu giao
Quốc hội giao Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành
chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Theo đó, nghị định quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước quy định cụ thể các
chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính. Tuy nhiên, hiện nay,
một số nghị định của Chính phủ[3] chưa có quy định liệt kê cụ thể các chức danh
có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà
nước dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong việc xác định người có thẩm quyền lập
biên bản vi phạm hành chính[4], ví dụ như:
– Điều 101 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ
thông tin và tần số vô tuyến điện quy định: “Các chức danh nêu tại các điều 95,
96, 97, 98, 99 và 100 Nghị định này, công chức, viên chức đang thi hành công vụ
trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện
có quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định”.
– Điều 94 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định:
Người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế bao
gồm:
1. Người có thẩm quyền xử phạt.
2. Công chức, viên chức thuộc ngành y tế, bảo hiểm xã hội đang thi hành công vụ,
nhiệm vụ được giao…
Trong thời gian tới đây, khi tiến hành sửa đổi, bổ sung, thay thế các nghị định quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, Chính phủ
cần quan tâm, chỉ đạo các bộ, ngành về vấn đề này:
Thứ nhất, yêu cầu các bộ, ngành được giao chủ trì xây dựng, trình Chính phủ ban
hành các nghị định sửa đổi, bổ sung, thay thế nêu trên nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ
sung quy định cụ thể các chức danh có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành
chính trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng
thanh tra về hành vi vi phạm hành chính, Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành mới
lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối
với tổ chức bán đấu giá tài sản. Việc lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết
định xử phạt vi phạm hành chính của Trưởng đoàn thanh tra trong trường hợp này
là không đúng thẩm quyền pháp luật quy định, việc này lẽ ra phải được thực hiện
trong vòng 10 ngày của thời hạn thanh tra, nếu ngoài thời hạn thanh tra thì Đoàn
thanh tra chuyên ngành phải chuyển vụ việc cho người có thẩm quyền xử lý. Lúc
này, người có thẩm quyền lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính cần ghi căn
cứ “kết luận thanh tra” vào phần căn cứ lập biên bản vi phạm hành chính.
b) Đối với chức danh Trưởng đoàn kiểm tra liên ngành
Khoản 5 Điều 30 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định về thẩm quyền của Chủ
tịch Ủy ban nhân dân các cấp trong việc “thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để
thực hiện kiểm tra liên ngành về tình hình thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành
chính trong trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản 2 Điều 21 của Nghị
định này”. Tuy nhiên, Luật XLVPHC và các văn bản quy định chi tiết thi hành
Luật không có quy định về việc Trưởng đoàn kiểm tra liên ngành được lập biên
bản vi phạm hành chính. Do vậy, trên thực tế, trong quá trình kiểm tra, nếu phát
hiện hành vi vi phạm hành chính thì đoàn kiểm tra liên ngành cần tham mưu cho
người đã ra quyết định thành lập đoàn kiểm tra kiến nghị cơ quan, người có thẩm
quyền xử lý theo quy định pháp luật.
c) Việc lập biên bản vi phạm hành chính của cấp phó của các chức danh có
thẩm quyền xử phạt trong trường hợp được cấp trưởng giao quyền xử phạt vi
phạm hành chính
Hiện nay, Luật XLVPHC không có quy định cụ thể về việc cấp phó của các chức
danh có thẩm quyền xử phạt trong trường hợp được cấp trưởng giao quyền xử phạt
vi phạm hành chính thì có được lập biên bản vi phạm hành chính hay không.
Khoản 1 Điều 54 Luật XLVPHC chỉ quy định: Người có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính có thể giao cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt vi phạm
quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền xử phạt” chỉ
có quyền lập biên bản về những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ
được giao. Quy định này dường như chỉ hạn chế quyền lập biên bản của người có
thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm quyền xử phạt
đối với những hành vi vi phạm hành chính không thuộc phạm vi thi hành công vụ,
nhiệm vụ mà họ được giao và điều này dẫn đến cách hiểu rằng: Người có thẩm
quyền lập biên bản vi phạm hành chính đồng thời là các chức danh có thẩm quyền
xử phạt sẽ đương nhiên được lập biên bản đối với tất cả các hành vi vi phạm hành
chính, kể cả những hành vi vi phạm hành chính không thuộc phạm vi thi hành công
vụ, nhiệm vụ mà họ được giao[9].
Về vấn đề này, theo tác giả, cần đặt quy định tại đoạn 1 khoản 2 Điều 6 Nghị định
số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP)
trong mối liên hệ với với quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 6 Nghị định số
81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP).
Toàn bộ khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung
theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) quy định về trường hợp vụ việc vi phạm vừa
có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản, vừa có hành
vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử phạt hoặc vượt quá thẩm quyền xử phạt
của người lập biên bản (tức là chỉ đề cập đến thẩm quyền lập biên bản vi phạm
hành chính của các chức danh có thẩm quyền xử phạt đối với vụ việc có nhiều
hành vi vi phạm hành chính, trong đó vừa có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền xử
phạt của người lập biên bản, vừa có hành vi vi phạm không thuộc thẩm quyền xử
phạt của người lập biên bản; không đề cập thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành
chính của các chức danh có thẩm quyền xử phạt đối với vụ việc có nhiều hành vi vi
phạm hành chính mà trong đó không có hành vi vi phạm nào thuộc thẩm quyền xử
phạt của họ). Hay nói cách khác, chỉ trong vụ việc vi phạm có nhiều hành vi vi
phạm, trong đó vừa có hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền, vừa có hành vi vi phạm
không thuộc thẩm quyền xử phạt của chức danh có thẩm quyền xử phạt thì chức
danh có thẩm quyền xử phạt mới được thực hiện việc lập biên bản đối với tất cả
lý của người lập biên bản). Theo đó, người có thẩm quyền lập biên bản phải tiến
hành lập biên bản vi phạm hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm liên quan
đến vụ việc để bảo đảm nguyên tắc “mọi hành vi vi phạm phải được phát hiện,
ngăn chặn kịp thời” (quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC), sau đó,
biên bản phải được chuyển ngay đến người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử
phạt theo quy định tại khoản 3 Điều 58 Luật XLVPHC. Tuy nhiên, thẩm quyền lập
biên bản đối với tất cả hành vi vi phạm trong trường hợp này chỉ được pháp luật
trao cho người có thẩm quyền lập biên bản đồng thời là người có thẩm quyền xử
phạt vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được
sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) không trao thẩm quyền này
cho người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có thẩm
quyền xử phạt. Do đó, khó khăn, vướng mắc liên quan đến xử lý những vụ việc vi
phạm có nhiều hành vi vi phạm hành chính thuộc các lĩnh vực quản lý khác nhau
vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để.
Từ thực tế nêu trên, tác giả cho rằng, cần thiết phải nghiên cứu, sửa đổi quy định
tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo
Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) theo hướng: (i) Quy định rõ, tất cả những người có
thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đều chỉ có quyền lập biên bản về
những vi phạm thuộc phạm vi thi hành công vụ, nhiệm vụ được giao (chứ
không giới hạn chỉ người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính nhưng
không có thẩm quyền xử phạt như quy định hiện hành); (ii) mở rộng phạm vi điều
chỉnh của đoạn 2 khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi,
bổ sung theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) bao gồm những người có thẩm quyền
lập biên bản vi phạm hành chính nói chung, cả người có thẩm quyền xử phạt và
người không có thẩm quyền xử phạt đều được thực hiện việc lập biên bản vi phạm
hành chính đối với tất cả các hành vi vi phạm trong một vụ việc mà họ phát hiện.
Theo đó, khoản 2 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung
theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP) có thể được sửa đổi như sau:
với một hành vi vi phạm hành chính thuộc lĩnh vực quản lý khác, không thuộc
phạm vi lĩnh vực quản lý được giao thì về mặt nguyên tắc, biên bản đó không được
coi là biên bản vi phạm hành chính, vì biên bản đó không do người có thẩm quyền
lập theo quy định pháp luật. Trong trường hợp này, người có thẩm quyền lập biên
bản vi phạm hành chính theo quy định pháp luật (quy định tại các nghị định xử
phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản nhà nước) vẫn được quyền lập
biên bản vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm (nếu vụ việc còn thời hiệu xử
phạt vi phạm hành chính) mà không vi phạm nguyên tắc “một hành vi vi phạm
hành chính chỉ bị lập biên bản và ra quyết định xử phạt một lần” quy định tại
khoản 3 Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP.
Có thể nói, biên bản vi phạm hành chính là một trong những căn cứ để ban hành
quyết định xử phạt, là cơ sở quan trọng cho việc tiến hành xử phạt vi phạm hành
chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính đòi hỏi phải đáp ứng các yêu cầu,
điều kiện khác nhau do pháp luật quy định (về hình thức, trình tự, thủ tục, nội
dung,…), trong đó có yêu cầu về việc đúng thẩm quyền. Quy định pháp luật hiện
hành về vấn đề này mặc dù đã tương đối đầy đủ nhưng vẫn còn bộc lộ những
khiếm khuyết nhất định, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Do vậy,
việc tiếp tục nghiên cứu, làm rõ những nội dung liên quan, đánh giá những khó
khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng để từ đó có cơ sở hoàn thiện pháp luật về
vấn đề này là nhiệm vụ cần tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới./.
Nguyễn Hoàng Việt, Ths Luật học – CỤC QLXLVPHC&TDTHPL
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
2. Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.
3. Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 quy định
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính.
địa
chỉ: https://soxd.vinhphuc.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/TinTrongNganh/View_
Detail.aspx?ItemID=205, Nguyễn Bá Toàn thực hiện ngày 19/07/2017.
11. Tài liệu “Hội thảo tăng cường cơ chế giám sát thi hành Luật XLVPHC” do
Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội ngày 26/7/2018: Tham luận “Tổng quan thực
trạng thực hiện các quy định của Luật XLVPHC và đề xuất, kiến nghị các
giải pháp tăng cường cơ chế giám sát, nâng cao hiệu quả công tác thi hành
Luật” của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp
luật, Bộ Tư pháp.
7.
[1] Xem Điều 56 Luật XLVPHC
[2] Cổng Thông tin điện tử Sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc, Một số vấn đề tồn tại,
hạn chế trong công tác xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, truy
cập
ngày
09/9/2018,
tại
địa
chỉ: https://soxd.vinhphuc.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/TinTrongNganh/View_Detai
l.aspx?ItemID=205, Nguyễn Bá Toàn thực hiện ngày 19/07/2017
[3] Theo Báo cáo số 09/BC-BTP ngày 08/01/2018 về tổng kết thi hành Luật
XLVPHC của Bộ Tư pháp gửi Thủ tướng Chính phủ, tính đến hết ngày
30/09/2017, Chính phủ đã ban hành tổng số 92 nghị định quy định chi tiết thi hành
Luật XLVPHC (09 nghị định đã hết hiệu lực toàn bộ), trong đó có các nghị định
quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước; theo
báo cáo của Cục Quản lý xử lý vi phạm hành chính và theo dõi thi hành pháp luật
thuộc Bộ Tư pháp tại “Hội thảo tăng cường cơ chế giám sát thi hành Luật
XLVPHC” được tổ chức tại Hà Nội ngày 26/7/2018, tính đến hết ngày 30/6/2018,
đã có khoảng gần 100 nghị định quy định chi tiết thi hành Luật XLVPHC được