Mục lục
trang
LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ.
1. Khái quát về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính: .....................
1
2. Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra .........
1
II. ĐÁNH GIÁ TÍNH HỢP LÝ CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
HẬU QUẢ:
1.Thế nào là tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt vi
phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả khác? ......................
2
2. Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt vi
phạm hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả khác. ..................
3-8
a) Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt
vi phạm hành chính ..............................................................................
ta hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật về vấn đề này, những ưu điểm, tồn
tại và tìm ra phương hướng khắc phục.
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT VỀ CÁC HÌNH THỨC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẬU QUẢ.
1. Khái quát về các hình thức xử phạt vi phạm hành chính:
Theo tinh thần tại khoản 1, khoản 2 Điều 12 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 2002 thì các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm hình
phạt chính và hình phạt bổ sung.
Hình thức xử phạt chính bao gồm:
• Cảnh cáo.
• Phạt tiền.
Hình thức xử phạt bổ sung bao gồm:
• Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề .
• Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính.
Trục xuất vừa là hình thức xử phạt chính, vừa là hình thức xử phạt bổ sung.
2. Các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra:
Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây
ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.
Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan
bệnh dịch do vi phạm hành chính gây ra.
Buộc đưa ra ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm,
phương tiện.
Buộc tiêu hủy những vật phẩm gây hại cho sức khỏe của con người, vật nuôi,
cây trồng và văn hóa phẩm độc hại.
Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do người có thẩm quyền áp dụng theo
áp dụng có hiệu quả thấp, không phù hợp với thực tiễn vi phạm hành chính.
Mặt khác, tính hợp lý còn thể hiện ở điểm: đó là khả năng áp dụng linh
hoạt, thích ứng với các loại vi phạm hành chính xảy ra đa dạng trong đời sống
xã hội, hạn chế mức thấp nhất các sai sót, tùy tiện từ phía người áp dụng. Việc
áp dụng pháp luật tăng lên về độ chính xác, đáp ứng mục đích ngăn ngừa, phòng
chống vi phạm hành chính, đảm bảo pháp chế hơn.
Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm hành
chính và những biện pháp khắc phục hậu quả là việc chúng ta đưa ra những quan
điểm của bản thân về mặt ưu điểm của tính hợp lý của pháp luật về vấn đề này
cũng như những hạn chế còn tồn tại.
2. Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm
hành chính và các biện pháp khắc phục hậu quả khác.
a) Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về các hình thức xử phạt vi phạm
hành chính.
Cảnh cáo:
+ Ưu điểm: Hình thức phạt cảnh cáo là một trong những hình phạt chính
mang ý nghĩa giáo dục nhiều hơn là trừng phạt. Tính hợp lý của nó thể hiện ở
chỗ phù hợp với mục đích của xử phạt hành chính đề ra phải nhằm mục tiêu
nhắc nhở, giáo dục việc tôn trọng và chấp hành trật tự quản lý Nhà nước.
Cảnh cáo là hình thức xử phạt thích hợp đối với các vi phạm nhỏ, lần đầu, có
tình tiết giảm nhẹ và đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa
thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện. Việc áp dụng hình phạt này
sẽ tạo ra tính nghiêm minh của pháp luật cũng như tính nhân đạo của pháp luật.
Từ đó người vi phạm sẽ cẩn trọng hơn, tự giác chấp hành pháp luật hơn.
Việc quy định hình phạt cảnh cáo áp dụng đối với người chưa thành niên từ
14 tuổi đến 16 tuổi là phù hợp và đồng bộ đối với chính sách xử lý hình sự đối
với người chưa thành niên quy định tại Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999, tạo ra
tính thống nhất, hợp lý của pháp luật.
không phát huy được tác dụng hữu hiệu của việc phạt tiền, khiến cá nhân, tổ
chức bị xử phạt có thái độ “ khinh nhờn” pháp luật. Do vậy nó phải phù hợp với
tình hình thực tiễn cuộc sống.
Việc quy định mức phạt tối thiểu là 5 nghìn đồng và tối đa là 500 triệu đồng
có khoảng cách khá lớn. Tính hợp lý của pháp luật về hình thức này thể hiện ở
chỗ : vì vi phạm hành chính diễn ra khá đa dạng trong mọi lĩnh vực, đa dạng về
tính chất và mức độ vi phạm.
Pháp luật quy định mức phạt tối đa trong từng lĩnh vực của quản lý nhà nước
là phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội như hiện nay mà con người
không thể dự liệu và bao quát hết được tất cả những vi phạm hành chính diễn ra
trong các lĩnh vực quản lý nhà nước. Quy định như vậy cũng nhằm bảo đảm sự
đầy đủ , đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật xử phạt vi phạm
hành chính.
+ Nhược điểm:
Mức phạt tiền pháp luật quy định hiện nay cho các hành vi vi phạm so với
mức phạt tiền được áp dụng trước đây thì các mức phạt áp dụng đều cao hơn rất
nhiều. Việc tăng mức phạt tiền rõ ràng thể hiện khuynh hướng tăng tính trừng
trị. Song ta thấy phạt nặng không phải đặc trưng của chế tài hành chính mà chủ
yếu ở tính nhắc nhở và giáo dục. Hơn nữa với mức phạt cao đó không phải ai
cũng có khả năng thi hành quyết định xử phạt dẫn đến việc xin xỏ, hối lộ người
thi hành công vụ hoặc việc thi hành quyết định sẽ không được thực hiện.
Các mức phạt tiền đối với các vi phạm hành chính cụ thể được quy định
trong Pháp lệnh và các Nghị định hiện tại nhìn chung còn rất chung chung, chưa
cụ thể. Quy định như vậy sẽ gây khó khăn cho việc áp dụng khi truy cứu trách
nhiệm hành chính. Cần thiết phải chia nhỏ khung phạt tiền để có cách áp dụng
thống nhất và đúng đắn hơn.
Điều kiện và đối tượng áp dụng hình thức phạt tiền cũng chưa được quy
định rõ và hợp lý. Theo quy định của pháp luật thì phạt cảnh cáo áp dụng đối với
mà không phải là tất cả nên pháp luật quy định việc áp dụng hình thức này phải
thõa mãn những điều kiện nhất định là hợp lý. Pháp luật cũng quy định trình tự
thủ tục, thẩm quyền áp dụng đối với hình thức xử phạt này một cách chặt chẽ
nhằm đảm bảo pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh.
+ Nhược điểm:
Theo Điều 16 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì đến mức độ
nào được coi là “ vi phạm nghiêm trọng” để bị tước quyền đó ? Khi nào thì có
thời hạn và khi nào không thời hạn lại chưa được các văn bản của Chính phủ
quy định cụ thể. Chính điểm trống này đã tạo ra hành vi tùy tiện và không công
bằng trong truy cứu trách nhiệm hành chính.
Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính :
+ Ưu điểm:
Nhìn chung đây là hình phạt khá nghiêm khắc, thực chất là tước bỏ quyền
sở hữu của người vi phạm. Điều này thể hiện tính răn đe, trừng phạt nghiêm
khắc người vi phạm, nhằm tránh việc tái phạm vi phạm hành chính trên thực tế
của cá nhân, tổ chức.
Pháp luật cũng quy định trường hợp tang vật, phương tiện bị cá nhân, tổ
chức vi phạm sử dụng trái phép thì trả lại cho chủ sở hữu là hợp lý vì: chủ sở
hữu tài sản đó không có lỗi nên cũng không phải chịu trách nhiệm về tài sản
đang thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của mình bị chiếm đoạt và sử dụng
để vi phạm hành chính ngoài ý muốn. Tuy nhiên, không phải cứ là tải sản bị
người khác sử dụng, chiếm đoạt để thực hiện hành vi vi phạm hành chính đều trả
lại cho chủ sở hữu. Bởi vì nếu tài sản đó là những văn hóa phẩm độc hại, hàng
giả không có giá trị sử dụng, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người hoặc
những vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành sẽ bị tịch thu để tiêu hủy theo quy
định của pháp luật mà không kể đến nó thuộc sở hữu của ai. Nếu không xác định
được chủ sở hữu thì sẽ được xử lý theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, cũng giống như các hình thức xử phạt khác, pháp luật cũng
• Buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi
phạm hành chính gây ra:
Tính hợp lý của biện pháp này là: tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan
dịch bệnh có tính chất nguy hiểm cao, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống cộng
đồng và môi trường sinh thái chung. Mặt khác, nó có phạm vi ảnh hưởng lớn,
khả năng lây lan nhanh và rộng, nếu không có biện pháp ngăn chặn và khắc
phục kịp thời, tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh có thể gây ra
những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Do vậy, người vi phạm phải đình chỉ
ngay hành vi vi phạm, đồng thời thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả
nhằm bảo vệ sức khỏe, lợi ích của cộng đồng và bảo vệ môi trường. Ngoài ra
pháp luật cũng quy định về thẩm quyền áp dụng, trình tự thủ tục thực hiện,
những biện pháp cưỡng chế khi người vi phạm không thực hiện quyết định xử
phạt nhằm thể hiện tính chặt chẽ, nghiêm minh của pháp luật.
• Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật
phẩm, phương tiện:
Tính hợp lý của biện pháp này được thể hiện ở chỗ: nó đã đáp ứng được yêu
cầu của thực tiễn cần thiết phải đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam những vật phẩm,
hàng hóa, phương tiện nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc buộc tái
xuất những hàng tạm nhập tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của
pháp luật mà chưa đến mức hoặc không cần thiết phải tịch thu. Buộc tiêu hủy
những vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng, văn hóa
phẩm độc hại.
Pháp luật quy định như vậy là hợp lý vì: vật phẩm gây hại cho sức khỏe
của con người, vật nuôi, cây trồng được hiểu là những vật có trong tự nhiên, sản
phẩm do con người tạo ra có tính chất độc hại, trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh
hưởng không tốt tới môi trường sống, tới sức khỏe con người, vật nuôi, cây
trồng. Văn hóa phẩm độc hại là những sản phẩm hàng hóa mang ý nghĩa văn
hóa, phục vụ đời sống văn hóa , tinh thần của con người nhưng có nôi dung trái
thành vi phạm hành chính, hệ thống chế tài hành chính, các nguyên tắc xử phạt
vi phạm hành chính, thẩm quyền, thủ tục xử phạt vi phạm đến các quy định hành
vi vi phạm và hình thức xử phạt đối với các hành vi đó trong lĩnh vực quản lý
nhà nước. Cách làm này sẽ đảm bảo nguyên tắc hiến định về quy định các quyền
và nghĩa vụ của công dân và khắc phục những khiếm khuyết, hoàn chỉnh về tính
thống nhất , tính bao quát , tính pháp chế khi để cho Chính phủ và thậm chí là
Ủy ban nhân dân tỉnh quy định. Đối với mỗi quốc gia trong giai đoạn đầu của
quá trình lập quốc, việc để cho nhiều cơ quan quy định về xử phạt vi phạm hành
chính là điều hoàn toàn dễ hiểu. Song cùng với sự ổn định đi lên của đất nước,
các nguyên tắc dân chủ và đặc biệt là những nguyên tắc của chủ nghĩa lập hiến
ngày càng cao. Một trong những nguyên tắc đó là: những vấn đề về quyền và
nghĩa vụ của công dân phải được luật do cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất
hoặc cơ cấu tương đương ban hành, quy định. Từ pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 1995 xác định chỉ còn Chính phủ có quyền quy định đã bảo đảm
nguyên tắc này. Việc ban hành ra bộ luật xử phạt vi phạm hành chính do Quốc
hội ban hành là hoàn toàn phù hợp với xu thế chung và nguyên tắc hiến định.
KẾT LUẬN
Nhìn chung, các hình thức xử phạt đã thể hiện được tính răn đe, trừng phạt
cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước thông qua
việc buộc người vi phạm phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất hoặc
tinh thần. Ngoài mục đích ngăn chặn, răn đe, trừng phạt, các quy định này còn
mang tính giáo dục đối với cá nhân, tổ chức bị xử phạt, góp phần nâng cao ý
thức của công dân trong việc chấp hành những quy định của pháp luật, qua đó
bảo vệ và duy trì trật tự quản lý nhà nước. Các biện pháp khắc phục hậu quả
được áp dụng nhằm khắc phục triệt để hậu quả do vi phạm hành chính gây ra,
bảo đảm lợi ích chung của cộng đồng và hoạt động bình thường của xã hội. Xử
phạt hành chính là một trong những nội dung quan trọng của xử lý vi phạm hành