LỜI MỞ ĐẦU
Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền, căn cứ
vào các quy định pháp luật hiện hành, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành
chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần thiết theo quy
định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính. Trên thực tế thẩm
quyền và thủ tục xử lý vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay được quy định chi tiêt
trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007 và
2008). Mặc dù Pháp lệnh đã có những sửa đổi, bổ sung quan trọng so với Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính năm 1995 về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính,
nhưng những quy định này mới đáp ứng được một phần yêu cầu của thực tế. Cùng với
việc nghiên cứu, xây dựng Luật xử lý vi phạm hành chính, những quy định của Pháp lệnh
về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính cũng cần được xem xét, sửa đổi, bổ
sung và nâng lên quy mô Luật và quan trọng hơn, là để góp phần đáp ứng đòi hỏi của
thực tế trong việc nâng cao hiệu lực của quản lý nhà nước, đảm bảo quyền, lợi ích hợp
pháp của các cá nhân và tổ chức.
Chính vì điều này, trong bài tập lớn học kỳ em đã quyết định lựa chọn đề bài:
“Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành
chính”.
1. Đánh giá tính hợp lý của pháp luật về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính .
1.1. Vấn đề trong cách quy định của pháp lệnh về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 đã quy định thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính bằng cách liệt kê các chức danh có thẩm quyền xử phạt, và với mỗi
chức danh cụ thể, Pháp lệnh quy định rõ hình thức, mức xử phạt và những biện pháp
cưỡng chế khác mà chủ thể đó được áp dụng trong khi xử phạt vi phạm hành chính. Cách
quy định này có ưu điểm là nó rất rõ ràng và dễ áp dụng tuy nhiên nó còn chưa linh hoạt
để có thể theo kịp với những thay đổi về tổ chức trong các cơ quan quản lý cũng như thực
tiễn của công tác đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính.
Thực tiễn quản lý cho thấy có những đơn vị thuộc cơ quan Nhà nước thành lập
hoặc chức danh trong cơ quan quản lý Nhà nước được quyết định sau thời điểm ban hành
1
hơn, thành 200.000 đồng và 500.000 đồng, song vẫn chưa thật sự phù hợp.
2
Ví dụ: Theo Điều 20 Nghị định của Chính phủ số 150/2005/NĐ-CP ngày
12/12/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an
toàn xã hội, thì hành vi vi phạm các quy định quản lý, bảo vệ đường biên giới, cột mốc,
dấu hiệu biên giới quốc gia có mức phạt tiền thấp nhất là 500.000 đồng, mức phạt này
không thuộc thẩm quyền của chiến sĩ bộ đội biên phòng, và chỉ vừa thuộc thẩm quyền đội
trưởng, trong khi đây mới là mức thấp nhất. Do vậy, trong khi tuần tra, nếu có phát hiện
vi phạm thì họ chỉ lập biên bản vụ việc rồi chuyển đến đồn trưởng đồn biên phòng để ra
quyết định xử phạt. Cùng với những trở ngại do địa hình đi lại khó khăn, các quy định
này của pháp luật là nguyên nhân cản trở hoạt động xử phạt của lực lượng bộ đội biên
phòng.
Thứ hai là nếu xem xét thẩm quyền trong mối quan hệ với thủ tục xử phạt thì các
quy định của pháp luật hiện hành cũng không thống nhất. Điều 54 Pháp lệnh năm 2002 đã
được sửa đổi theo Pháp lệnh 04/2008/UBTVQH12 năm 2008 quy định: “Trong trường
hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng thì người có thẩm
quyền ra quyết định xử phạt tại chỗ”. Quy định này được hiểu như sau: từ 10.000 đồng
đến 200.000 đồng là mức phạt với chủ thể vi phạm cụ thể, chứ không căn cứ vào mức
phạt tiền tối đa quy định cho hành vi vi phạm. Trong khi đó, với những vi phạm mà mức
tiền phạt tối đa quy định cho hành vi đó cao hơn thẩm quyền của những người trực tiếp
thi hành công vụ, nhiệm vụ, thì họ lại buộc phải lập biên bản để chuyển vụ việc vi phạm
đó cho cấp trên xử lý, mặc dù có thể trên thực tế chủ thể vi phạm chỉ bị xử phạt cảnh cáo
hoặc phạt tiền đến 100.000 đồng. Như vậy, mục đích đảm bảo nhanh gọn của việc quy
định thủ tục đơn giản đã không đạt được.
1.3. Vấn đề quy định về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính và thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả.
Trên thực tế, quy định về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính và thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vẫn còn rất nhiều bất hợp lí.
Theo quy định của Pháp lệnh thì các chức danh có thẩm quyền xử phạt ở cấp cơ sở hầu
như không có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và áp dụng
phạt: thủ tục đơn giản và thủ tục có lập biên bản; tuy nhiên mức tiền xử phạt theo thủ tục
đơn giản đã được nâng từ 20.000 đồng (Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995)
lên 200.000 đồng (Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung năm 2008). Việc nâng mức tiền phạt theo
thủ tục đơn giản là cần thiết để khắc phục tình trạng vụ việc vi phạm phải dồn lên cấp
trên giải quyết. Tuy nhiên, mức tiền được xử phạt là 200.000 đồng vẫn còn thấp, nhiều vụ
4
vi phạm chưa thể xử phạt theo thủ tục này. Theo quy định tại Điều 54 Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008), thủ tục đơn giản là
trường hợp xử phạt mà người có thẩm quyền xử phạt không lập biên bản mà ra quyết
định xử phạt tại chỗ. Những trường hợp được tiến hành xử phạt theo thủ tục đơn giản bao
gồm:
a) Hành vi vi phạm hành chính mà mức phạt quy định là cảnh cáo hoặc phạt tiền
đến 200.000 đồng;
b) Nhiều hành vi vi phạm hành chính do một người thực hiện mà hình thức và mức
phạt quy định đối với mỗi hành vi đều là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.000 đồng.
Thông thường thủ tục đơn giản được áp dụng đối với vi phạm nhỏ, rõ ràng, không
có tình tiết phức tạp, cần phải xác minh thêm như vượt đèn đỏ, đi vào đường ngược
chiều. Đối với những trường hợp này, người có thẩm quyền xử phạt có thể ra quyết định
xử phạt ngay, cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể nộp phạt tại chỗ, vụ việc được giải quyết
nhanh chóng, trật tự quản lý cũng được nhanh chóng khôi phục. Do vậy, vẫn cần duy trì
thủ tục đơn giản khi xây dựng Luật xử lý vi phạm hành chính vì tính hiệu quả của nó
trong việc xử phạt đối với những vi phạm nhỏ, đơn giản trong một số lĩnh vực như trật tự,
an toàn giao thông đô thị, vệ sinh đường phố.
2.2. Vấn đề trong thủ tục có lập biên bản.
Áp dụng đối với những vi phạm tương đối nghiêm trọng mà hành vi vi phạm được
quy định mức phạt tiền từ 200.000 đồng trở lên.
2.2.1. Về người có thẩm quyền lập biên bản.
Quy định tại Điều 55 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Theo quy
định mới, người có thẩm quyền lập biên bản là người có thẩm quyền đang thi hành công
vụ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ, ngành, địa phương mình. Quy định trước đây