Đánh giá tính hợp lí của các quy định hiện hành về thẩm quyền và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính - Pdf 33

Đề Bài: Đánh giá tính hợp lí của các qui định hiện hành
về thẩm quyền và thủ tục xử phát vi phạm hành chính.
Đặt vấn đề
Xử phạt vi phạm hành chính hoạt động áp dụng pháp luật hành chính, là quá
trình các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền căn cứ vào các quy định pháp
luật hiện hành, tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm, các tình tiết
tăng nặng, giảm nhẹ… để ban hành các quyết định xử phạt. Tuy nhiên, để đạt
được mục đích của xử phạt vi phạm hành chính thì những quy định của pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính nói chung và thẩm quyền cũng như thủ tục xử phạt
vi phạm hành chính nói riêng phải thực sự phù hợp với thực tế.

Nội dung
1. Một số khái niệm:
a. Vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính:
Vi phạm hành chính được định nghĩa một cách gián tiếp tại khoản 2, Điều 1
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2008) như
sau: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức
(Sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy
định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt”.
Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động của các chủ thể có thẩm quyền,
căn cứ vào các quy đinh pháp luật hiện hành, quyết định các biện pháp xử phạt
hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong trường hợp cần
thiết) đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính.
b. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:
Có vi phạm hành chính và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành
chính. Tuy nhiên, cơ quan nào, những chức danh nào cho các cơ quan quản lý
1


thuộc bộ máy nhà nước được quyền nhân danh nhà nước để phán xét và quyết

trong việc đấu tranh và phòng chống vi phạm hành chính. Thể hiện:
Thứ nhất, pháp lệnh quy định tăng thẩm quyền phạt tiền cho các chức danh
ở cơ sở nhằm thực hiện chủ trương phân cấp mạnh cho cơ sở trong thực hiện xử lý
vi phạm hành chính, đồng thời cũng quy định tăng thẩm quyền phạt tiền cho các
chức danh thuộc cơ quan chuyên ngành nhằm khắc phục tình trạng thực tế là vụ
việc bị dồn đẩy lên cấp trên và ủy ban nhân dân các cấp quá nhiều, dẫn đến tình
trạng quá tải và ùn tắc trong xử phạt vi phạm hành chính những năm qua. Ngoài
ra, nói chung các chức danh có thẩm quyền xử phạt đều được tăng thẩm quyền
phạt tiền là xuất phát từ thực tế yêu cầu đấu tranh phòng chống vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực cụ thể.
Thứ hai, bổ sung một số chức danh có thẩm quyền xử phạt. Ví dụ: Cảnh sát
biển, Giám đốc cảng vụ hàng hải, Giám đốc cảng vụ hàng không, giám đốc cảng
vụ Đường thủy nội địa,… Việc bổ sung những chức danh này phù hợp với yêu cầu
của thực tiễn thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực
này.
Thứ ba, bổ sung thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất cho Bộ
trưởng Bộ Công an để áp dụng với người nước ngoài. Bởi trên thực tế, không ít
trường hợp người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính và việc buộc họ dời
khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là cần thiết.
Thứ tư, mức phạt tiền tối đa mỗi chủ thể đước áp dụng được hiểu là giới
hạn mức phạt tiền đối với từng hành vi cụ thể. Cách hiểu này được xác định rõ
trong nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt khi một người thực hiện nhiều
hành vi đều thuộc thẩm quyền xử phạt vẫn thuộc người đó (Điều 42, pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính năm 2002). Quy định này ra đời nhằm khắc phục tính thiếu
rõ ràng trong quy định về xử phạt vi phạm hành chính và đảm bảo cho việc thực
hiện đúng thẩm quyền xử phạt. Bởi thực tế có nhiều trường hợp tổ chức, cá nhân
thực hiện nhiều vi phạm hành chính cùng một lúc và mức phạt tiền tổng hợp đối
3




cáo cấp trên, dẫn đến tình trạng quá tải ở cấp trên trong khi cấp dưới hầu hết chỉ
thực hiện chức năng lập biên bản, từ đó dẫn đến nhiều trường hợp không xử lý
được hành vi vi phạm do hết thời hiệu, thời hạn pháp luật quy định. Các cơ quan
cấp trên luôn lâm vào tình trạng không đủ thời gian và nhân lực để thực hiện việc
xử phạt trong thời hạn pháp luật quy định, không có quỹ thời gian đầu tư vào các
hoạt động quản lý vĩ mô.
Thứ hai, sự bất hợp lý trong quy định về thẩm quyền tịch thu tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính và thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu
quả.Theo quy định của Pháp lệnh, thì các chức danh có thẩm quyền xử phạt ở cấp
cơ sở hầu như không có thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả. Ví dụ chiến sĩ công an nhân
dân, cảnh sát viên Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển, Đội trưởng Đội nghiệp vụ hải
quan, Kiểm lâm viên… chỉ có thẩm quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền mà không
có thẩm quyền tịch thu hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Điều này đã
dẫn đến trường hợp xử lý không triệt để hoặc không xử lý được vi phạm phải
chuyển vụ việc lên cấp trên.
b. Tính hợp lý của pháp luật về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính:
* Điểm hợp lý:
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại chương VI Pháp lệnh
xử lý vi phạm hành chính năm 2002. Pháp lệnh này vẫn duy trì hai loại thủ tục:
Thủ tục đơn giản và thủ tục lập biên bản. Mặc dù vậy, có thể thấy Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính năm 2002 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung quan trọng để đảm
bảo tính cụ thể, rõ ràng, chặt chẽ, vừa không bó tay cơ quan nhà nước vừa không
gây khó khăn, phiền hà cho cá nhân, tổ chức vi phạm. Việc chia thủ tục thành hai
loại có ý nghĩa rất lớn: đối với những vụ việc đơn giản thì người có thẩm quyền có
thể ra quyết định xử phạt ngay; cá nhân, tổ chức bị xử phạt có thể xử phạt tại chỗ;
vụ việc được giải quyết nhanh chóng, đơn giản, tạo điều kiện thuận lợ cho cơ quan
nhà nước, công chức thi hành công vụ và cho cả cá nhân, tổ chức vi phạm.
5



Việc quy định thời hạn ra quyết định xử phạt là rất cần thiết vì trong quản lý hành
chính nói chung, việc xử phạt vi phạm hành chính nói riêng cần phải giải quyết
nhanh chóng, kịp thời, những vi phạm trật tự quản lý cần được nhanh chóng ngăn
chặn, chấm dứt, hậu quả gây ra (nếu có) cần được khắc phục ngay để đảm bảo
hoạt động bình thường của xã hội. Quy định này cũng nhằm bảo đảm quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân vì việc quyết định xử phạt không thể kéo dài, gây ảnh
hưởng đến hoạt động bình thường của cá nhân, tổ chức mà phải trong thời hạn do
pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định. Quy định này còn nâng
cao tính tích cực, chủ động, tinh thần trách nhiệm của người có thẩm quyền xử
phạt.
+ Về việc thi hành quyết định xử phạt:
Theo quy định tại Điều 64 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, cá
nhân, tổ chức bị xử phạt phải thi hành quyết định xử phạt trong thời hạn 10 ngày
kể từ ngày ra quyết định xử phạt. Như vậy, so với pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính năm 1995, thời hạn tự nguyện thi hành quyết định xử phạt được quy định
dài gấp đôi . Sở dĩ Pháp lênh kéo dài thời hạn như trên là vì trong rất nhiều trường
hợp cá nhân, tổ chưc bị xử phạt ở ngoài địa bàn cư trú hoặc địa bàn đóng trụ sở
hoặc trong trường hợp bị phạt một khoản tiền rất lớn cần có thời gian để cá nhân,
tổ chức bị phạt có thể chuẩn bị tiền để nộp phạt, không bị cưỡng chế thi hành bằng
các biện pháp mạnh và kiên quyết. Đây là quy định tạo thuận lợi cho đối tượng vi
phạm hành chính có điều kiện để tự nguyện thi hành quyết định xử phạt.
+ Về nơi nộp tiền phạt:
Theo pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 người vi phạm hành chính
bị phạt tiền phải nộp tiền phạt cho người có thẩm quyền xử phạt. Trên thực tế,
điều này đã làm phát sinh tiêu cực trong xử phạt vi phạm hành chính. Để hạn chế
tiêu cực, pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 nghiêm cấm việc thu tiền
phạt tại chỗ, trong mọi trường hợp, tiền phạt phải nộp tại nơi thu tiền phạt của kho
bạc nhà nước. Tuy nhiên, trong những trường hợp vi phạm hành chính đơn giản,

vi phạm chưa thể xử phạt theo thủ tục này.
8


3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về thẩm quyền và thủ
tục xử phạt vi phạm hành chính:
* Về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính:
Một là, tăng thẩm quyền xử phạt của cấp cơ sở bởi như đã phân tích ở trên
thì quy định về thẩm quyền xử phạt của các chức danh cấp cơ sở như hiện nay đã
bộc lộ những điểm không phù hợp với thực tiễn. Cụ thể cần tăng thẩm quyền xử
phạt với mức tương ứng cho các chức danh: chiến sĩ công an nhân dân, bộ đội
biên phòng, đội trưởng Hải quan, nhân viên Kiểm lâm, Thuế vụ, Đội trưởng Đội
nghiệp vụ Cảnh sát biển... và cấp trên quản lý trực tiếp những chiến sĩ, nhân viên
nói trên. Tăng thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng Công an
cấp xã, Thanh tra viên chuyên ngành.
Hai là, về vấn đề ủy quyền xử phạt vi phạm hành chính. Quy định về uỷ
quyền trong Pháp lệnh hiện nay còn cứng nhắc (chỉ được uỷ quyền trong trường
hợp vắng mặt và bằng văn bản). Quy định như vậy dẫn đến việc thẩm quyền
XPVPHC được dồn hết vào cấp trưởng (chỉ khi cấp trưởng vắng mặt mới được uỷ
quyền cho cấp phó), trong khi thực tiễn quản lý hiện nay là cấp trưởng phụ trách
chung, các cấp phó được giao chỉ đạo, quản lý những lĩnh vực nhất định. Chính vì
vậy, cấp trưởng không đủ thời gian xem xét, ra quyết định xử phạt đối với tất cả
các vụ vi phạm hành chính.
Ba là, bổ sung thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính và thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của một số chức danh
như đã nêu ở trên.
*Về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính:
- Thủ tục đơn giản:
Thủ tục đơn giản được áp dụng để xử lý nhanh chóng đối với một số vụ vi phạm
đơn giản, rõ ràng, không cần thời gian để xác minh thêm như: những hành vi vi

2008).
3. Số chuyên đề về Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Bộ tư
pháp, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật; Hà Nội, tháng 9 – 2002.
4. Đặc san về xủ lý vi phạm hành chính, tạp chí luật học, tháng 9/2003.
5. website: hanh-chinh-va-viec-xay-dung-bo-luat-xu-ly-vi-pham-hanh-chinh.

11


Mục lục

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status