nghiªn cøu - trao ®æi
3 t¹p chÝ luËt häc sè 8/2007
ThS. NguyÔn Ngäc BÝch *
ử phạt vi phạm hành chính là hoạt
động cưỡng chế thể hiện thái độ của
Nhà nước đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức
có vi phạm hành chính. Người có thẩm
quyền xử phạt sẽ là người thay mặt Nhà
nước, sử dụng quyền lực nhà nước quyết
định áp dụng biện pháp xử phạt thích hợp
với chủ thể một vi phạm trên thực tế. Vì thế,
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính là
một trong những nội dung quan trọng của
pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Các quy định của pháp luật về vấn đề này
ngoài việc là cơ sở pháp lí để xác định
những cơ quan, cá nhân nào có thẩm quyền
xử phạt còn có ý nghĩa quyết định trong việc
tạo ra cơ chế thích hợp để xem xét, giải
quyết từng vụ việc xảy ra trên thực tế. Tức
là, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
phải được đặt trong mối quan hệ không tách
rời giữa hành vi vi phạm - biện pháp xử phạt
thích hợp có thể áp dụng với cá nhân, cơ
quan, tổ chức đã thực hiện hành vi vi phạm
quyền xử phạt như thẩm phán chủ tọa phiên
tòa, chấp hành viên, đội trưởng và trưởng
phòng thi hành án dân sự. Với các chủ thể
trong cơ quan quản lí hành chính nhà nước,
thẩm quyền xử phạt được xác định dựa trên
nguyên tắc: Chủ tịch ủy ban nhân dân là
người có thẩm quyền xử phạt trong các lĩnh
vực quản lí nhà nước ở địa phương; người có
X
* Gi
ảng vi
ên Khoa hành chính
-
nhà nư
ớc
Trường Đại học Luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 8/2007 4
thẩm quyền trong các cơ quan chuyên môn
như hải quan, kiểm lâm, thuế vụ, thanh tra
chuyên ngành, lực lượng cảnh sát có thẩm
quyền xử phạt với những vi phạm hành
chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lí.
Pháp luật hiện hành đã quy định tương
đối đầy đủ các chức danh có thẩm quyền xử
thẩm quyền xử phạt. Các chủ thể này đương
nhiên không có thẩm quyền xử phạt mặc dù
do hoạt động đặc thù họ có thể là người trực
tiếp phát hiện các vi phạm hành chính. Cũng
có những lĩnh vực quản lí vào thời điểm
Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính được
ban hành thì các vi phạm hành chính mới
xuất hiện lẻ tẻ nên việc giới hạn thẩm quyền
cho một hoặc một số cơ quan quản lí là hợp
lí nhưng sau đó các vi phạm này gia tăng với
tốc độ rất nhanh nếu không mở rộng phạm vi
thẩm quyền thì không thể xử lí kịp thời,
trong khi việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh xử
lí vi phạm hành chính lại là một quá trình
phức tạp và kéo dài. Ví dụ: Pháp lệnh xử lí
vi phạm hành chính năm 1995 chưa quy định
thẩm quyền xử phạt cho lực lượng cảnh sát
biển, giám đốc cảng vụ hàng hải, cảng vụ
thuỷ nội địa, cảng hàng không (trong đó lực
lượng cảnh sát biển được thành lập sau khi
Pháp lệnh năm 1995 được ban hành). Điều
này đã được phát hiện sau khi triển khai thực
hiện Pháp lệnh năm 1995 nhưng phải đợi
đến năm 2002 khi Pháp lệnh xử lí vi phạm
hành chính mới được ban hành thì thiếu sót
này mới được khắc phục. Tương tự như vậy,
Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính hiện
hành (Pháp lệnh năm 2002) không quy định
thẩm quyền xử phạt của cá nhân đứng đầu
các cơ quan thuộc bộ như cục trưởng Cục
Phỏp lnh x lớ vi phm hnh chớnh cng cn
cú quy nh m Chớnh ph cú th quy
nh v thm quyn x pht trong cỏc ngh
nh quy nh v vi phm v x pht vi
phm trong cỏc lnh vc qun lớ hnh chớnh
chuyờn ngnh. Vi nguyờn tc thm quyn
ca cỏc chc danh do Chớnh ph quy nh s
c xỏc nh tng ng vi thm quyn
ca cỏc chc danh trong cỏc c quan qun lớ
cựng loi ó c Phỏp lnh quy nh.
Th hai, nhng hn ch v thm quyn
x pht ca ngi trc tip thi hnh cụng v,
nhim v. Trc ht, nhng hn ch ny th
hin thm quyn ỏp dng mc pht tin
ca ngi trc tip thi hnh cụng v, nhim
v cũn quỏ thp. Hin nay, nhng ngi trc
tip thi hnh cụng v, nhim v nh chin s
cụng an nhõn dõn, b i biờn phũng, kim
lõm viờn, nhõn viờn thu v ch c pht
tin n 100.000 ng, i trng ca nhng
ngi ny cng ch cú thm quyn pht tin
n 200.000 ng, cũn chin s cnh sỏt
bin, kim soỏt viờn th trng, thanh tra
viờn chuyờn ngnh c pht n 200.000
ng.
(3)
Mc pht tin ny cn c vo mc
ti a ca khung tin pht c phỏp lut
quy nh i vi hnh vi vi phm, khụng
phi l mc pht m ngi thi hnh cụng v,
biên bản vụ việc rồi chuyển đến đồn trưởng
đồn biên phòng để ra quyết định xử phạt.
Cùng với những trở ngại do địa hình đi lại
khó khăn các quy định này của pháp luật là
nguyên nhân cản trở hoạt động xử phạt của
lực lượng bộ đội biên phòng. Trong lĩnh vực
an toàn giao thông đường bộ, chiến sĩ cảnh
sát giao thông cũng không có thẩm quyền xử
phạt với những hành vi vi phạm nếu người vi
phạm điều khiển phương tiện là ô tô, trong
khi đây là phương tiện giao thông đang và sẽ
ngày càng được nhiều người sử dụng. Hai là,
nếu xem xét thẩm quyền trong mối quan hệ
với thủ tục xử phạt thì các quy định của pháp
luật hiện hành cũng không thống nhất. Điều
54 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính quy
định: "Trong trường hợp xử phạt cảnh cáo
hoặc phạt tiền từ 5.000 đồng đến 100.000
đồng thì người có thẩm quyền ra quyết định
xử phạt tại chỗ".
(4)
Quy định này được hiểu
từ 5.000 đồng đến 100.000 đồng là mức phạt
với chủ thể vi phạm cụ thể không căn cứ vào
mức tiền phạt tối đa quy định cho hành vi vi
phạm. Với những vi phạm mà mức tiền phạt
tối đa quy định với hành vi đó cao hơn thẩm
quyền của những người trực tiếp thi hành
công vụ, nhiệm vụ thì họ buộc phải lập biên
bản để chuyển vụ việc vi phạm đó cho cấp
quyền để xử phạt.
Thực tiễn xử phạt vi phạm hành chính
cho thấy chính vì phải giải quyết quá nhiều
vi phạm do cấp dưới chuyển lên trong khi
người có thẩm quyền xử phạt lại chỉ biết về
vi phạm qua giấy tờ, tài liệu nên đã làm giảm
độ chính xác, hiệu quả của xử phạt vi phạm
hành chính. Một hệ quả tất yếu nữa là nếu cá
nhân, tổ chức bị xử phạt có khiếu nại thì việc
giải quyết cũng vì thế mà vòng vèo, kéo dài
không cần thiết. Xử phạt không kịp thời
cũng làm mất thời gian và chi phí đi lại của
cá nhân, tổ chức bị xử phạt.
Chúng tôi cho rằng việc quy định về
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
phải thể hiện sự phân công, phân cấp trong nghiªn cøu - trao ®æi
7 t¹p chÝ luËt häc sè 8/2007
quản lí hành chính nhà nước. Với mô hình
tổ chức bộ máy quản lí hành chính theo
hình chóp, tức là càng lên cao các cơ quan
càng thu gọn lại thì cần thiết phải tăng thẩm
quyền xử phạt cho cấp dưới, cho người trực
tiếp thi hành công vụ, nhiệm vụ đồng thời
tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của
cơ quan cấp trên.
Thứ ba, những bất hợp lí trong các quy
định về thẩm quyền xử phạt của thanh tra
nước, thanh tra, kiểm tra về sở hữu công
nghiệp) cũng cao hơn thẩm quyền phạt tiền
của thanh tra viên chuyên ngành sở hữu công
nghiệp; thanh tra viên chuyên ngành văn hoá
thông tin chỉ có thẩm quyền xử phạt duy
nhất với các hành vi vi phạm về quảng cáo
như dán áp phích, tờ rơi không đúng quy
định, mức phạt tiền từ 50.000 đến 100.000
đồng, theo quy định của Nghị định của Chính
phủ số 56/2006/NĐ-CP ngày 6/6/2006 về xử
phạt vi phạm hành chính trong hoạt động
văn hoá - thông tin
Điều này cũng không phù hợp với quy
định của Luật thanh tra là hoạt động thanh
tra chuyên ngành có thể được tiến hành bởi
một thanh tra viên và trên thực tế các thanh
tra viên chuyên ngành cũng thường tiến hành
hoạt động thanh tra một cách độc lập. Để
giải quyết tình trạng này, chúng tôi cho rằng
cần tăng thẩm quyền xử phạt của thanh tra
viên chuyên ngành nhưng không tăng đều
trên tất cả các lĩnh vực của quản lí nhà nước.
Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính có thể
quy định mức tiền phạt tối đa cho các chức
danh thanh tra viên trong cơ quan thanh tra
chuyên ngành phù hợp với mức tiền phạt tối
đa đã được ấn định với vi phạm hành chính
trong các lĩnh vực quản lí tương ứng theo
Điều 14 Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính
quy định về phạt tiền.
những tổ chức này vẫn được hiểu như là cơ
quan thanh tra chuyên ngành, có thẩm quyền
xử phạt vi phạm hành chính. Ví dụ, thẩm
quyền xử phạt của thanh tra viên chuyên
ngành sở hữu công nghiệp thuộc Cục sở hữu
trí tuệ Bộ khoa học và công nghệ theo Nghị
định của Chính phủ số 106/2006/NĐ-CP
ngày 22/09/2006 quy định xử phạt vi phạm
hành chính về sở hữu công nghiệp.
Chúng tôi cho rằng các tổ chức thanh tra
trong các cục, tổng cục thuộc bộ tồn tại như
một cơ quan thanh tra chuyên ngành là phù
hợp với thực tiễn của quản lí hành chính
nhưng cần thiết phải xác định rõ thẩm quyền
xử phạt vi phạm hành chính các tổ chức
thanh tra này, không thể quy định thẩm
quyền xử phạt của các tổ chức thanh tra này
ngang với thanh tra bộ như quy định của một
số nghị định hiện nay.
Thứ tư, những bất hợp lí liên quan đến
thẩm quyền quyết định hình thức xử phạt
trục xuất. Trục xuất là hình thức xử phạt mới
được quy định trong Pháp lệnh xử lí vi phạm
hành chính năm 2002, đây là hình thức xử
phạt chỉ áp dụng với người nước ngoài có
hành vi vi phạm hành chính trong phạm vi
lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, trục xuất được áp dụng là hình thức xử
phạt chính hoặc xử phạt bổ sung trong từng
chớnh hoc cn khc phc hu qu do vi
phm hnh chớnh gõy ra thỡ khụng th xỏc
nh c nhng bin phỏp cng ch ny
s do ai cú thm quyn quyt nh. Vỡ v
nguyờn tc, hỡnh thc x pht b sung phi
c quyt nh kốm theo hỡnh thc x pht
chớnh, cỏc bin phỏp khc phc hu qu
quyt nh kốm theo cỏc hỡnh thc x pht,
tr trng hp thi hiu, thi hn x pht vi
phm hnh chớnh ó ht.
Tuy nhiờn, chỳng tụi cho rng khụng th
quy nh thm quyn quyt nh ỏp dng
nhng bin phỏp cng ch ny cho b
trng B cụng an cựng vi hỡnh thc trc
xut vỡ th tc trc xut rt phc tp khụng
phự hp vi vic ỏp dng cỏc bin phỏp
cng ch ú. Hn na, hn ch ti a
nhng hu qu xu cho xó hi do hnh vi vi
phm hnh chớnh ca ngi nc ngoi gõy
ra thỡ vic quyt nh ỏp dng nhng bin
phỏp cng ch ny cn phi m bo tht
nhanh chúng, kp thi. Vỡ vy, hp lớ hn c
l nhng ngi cú thm quyn c quy
nh trong Phỏp lnh x lớ vi phm hnh
chớnh s quyt nh ỏp dng cỏc bin phỏp
cng ch ny vi ngi nc ngoi nh i
vi cụng dõn Vit Nam. Phỏp lnh x lớ vi
phm hnh chớnh cn thit phi b sung quy
nh: "Khi x pht vi phm hnh chớnh vi
cỏ nhõn nc ngoi thỡ ngi cú thm quyn
(4).Xem: iu 54 Phỏp lnh x lớ vi phm hnh chớnh.
(5). Theo Phỏp lnh x lớ vi phm hnh chớnh: Thanh
tra viờn chuyờn ngnh cú thm quyn tch thu tang vt,
phng tin vi phm cú giỏ tr n 2.000.000 ng v
c ỏp dng mt s bin phỏp khc phc hu qu, cỏc
chc danh khỏc nh chin s cụng an nhõn dõn, b i
biờn phũng, cnh sỏt bin, kim lõm viờn, kim soỏt
viờn th trng, nhõn viờn thu v v i trng ca
nhng ngi ny ch cú thm quyn ỏp dng cỏc hỡnh
thc x pht chớnh (xem cỏc iu 31, 32, 33, 35, 36,
37, 38 Phỏp lnh x lớ vi phm hnh chớnh).
(6).Xem: iu 23 Lut thanh tra.
(7).Xem: iu 31 Phỏp lnh x lớ vi phm hnh chớnh.
(8).Xem: Ngh nh s 97/2006/N-CP ngy
15/9/2006 ca Chớnh ph quy nh vic ỏp dng hỡnh
thc x pht trc xut theo th tc hnh hớnh.